Chủ nhật 19/04/2026 06:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số quy định của pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử

Kể từ khi Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (gọi tắt tiếng Anh là IAEA) được thành lập năm 1957 đến nay, trong khuôn khổ của Liên Hợp Quốc, nhiều Hội nghị quốc tế có tính chất toàn cầu về chủ đề bảo vệ môi trường đã được tổ chức, trong đó có bảo vệ môi trường trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.

Cùng với sự gia tăng của hàng loạt các công ước quốc tế về môi trường, các chương trình và cơ chế quốc tế về hợp tác, bảo vệ và phát triển bền vững môi trường quốc tế cũng hình thành nhanh chóng và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng. Đặc biệt, từ sau năm 1992 (tức sau Hội nghị Rio de Janeiro, Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển), pháp luật môi trường quốc tế đã có sự phát triển mạnh cả về nội dung và hình thức, với sự hỗ trợ của Liên hợp quốc và các tổ chức phi chính phủ khác về môi trường.

Cơ sở pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử

Sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay, có một số điều ước quốc tế toàn cầu, khu vực và song phương liên quan đến bảo vệ môi trường trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử được ký kết. Điển hình là các điều ước quốc tế sau đây: Sổ tay Luật hạt nhân của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) năm 2003; Công ước Viên về an toàn hạt nhân năm 1994; Công ước chung về An toàn trong quản lý nhiên liệu đã qua sử dụng và An toàn trong quản lý chất thải phóng xạ năm 1997; Công ước Paris năm 1960 được sửa đổi, bổ sung bởi các nghị định thư ngày 28/01/1964 và ngày 16/11/1982 về trách nhiệm bồi thường thiệt hạt trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân; Công ước Viên về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại hạt nhân năm 1963; Công ước bổ sung về bồi thường đối với những tổn hại hạt nhân năm 1997; Công ước ngăn chặn ô nhiễm biển do đổ chất thải và các chất khác năm 1972 và Bản Phụ lục năm 1978; Hiệp ước Nam cực năm 1959 quy định cấm mọi vụ nổ hạt nhân hoặc thải chất thải hạt nhân tại Nam cực; Công ước Bruxelles ngày 25/5/1962 về trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực vận chuyển đường biển các chất phóng xạ, hạt nhân; Hiệp ước Moscow ngày 5/8/1963 về cấm thử vũ khí hạt nhân trong khí quyển, vũ trụ và dưới nước; Hiệp ước London – Moscow – Washington ngày 22/4/1968 về không phổ biến vũ khí hạt nhân; Hiệp ước về khu vực phi hạt nhân vùng Đông Nam Á năm 1995...

Với hệ thống các điều ước quốc tế quan trọng nêu trên, có thể nói pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường nói chung và đặc biệt là môi trường trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử đã được hình thành và phát triển rất nhanh chóng. Dưới đây, tác giả giới thiệu nội dung cơ bản của một số văn bản pháp lý quan trọng:

1. Sổ tay Hướng dẫn luật hạt nhân năm 2003

Sổ tay ra đời năm 2003 với mục tiêu chính là tài liệu tham khảo về các tiêu chuẩn và hướng dẫn do IAEA xây dựng bao gồm những yếu tố cơ bản trong việc xây dựng và thực thi luật hạt nhân. Cuốn Sổ tay giúp những người tham gia vào việc soạn thảo luật hạt nhân trong những nước mà phát luật hạt nhân kém phát triển; những người tham gia vào việc chỉnh sửa, củng cố, làm cho chặt chẽ hơn luật pháp hiện hành trong những nước mà phát luật hạt nhân đã tương đối hoàn chỉnh. Cuốn Sổ tay còn có thể giúp Chính phủ các nước hoàn thiện pháp luật quốc gia phù hợp với văn kiện quốc tế trong lĩnh vực hạt nhân. Thực tế Việt Nam hiện nay là nước pháp luật hạt nhân kém phát triển, việc sử dụng cuốn Sổ tay hướng dẫn của IAEA làm cơ sở định hướng cho công tác soạn thảo luật năng lượng hạt nhân là hết sức cần thiết.

2. Công ước về An toàn hạt nhân ngày năm 1994

Công ước bắt đầu có hiệu lực vào ngày 24/10/1996 và đến ngày 11/4/2005, 56 quốc gia và một tổ chức khu vực (Euratom) đã gửi văn kiện phê chuẩn. Hiện nay, Việt Nam đã tham gia Công ước này. Công ước gồm lời nói đầu, 4 chương và 35 điều. Các quốc gia là thành viên của Công ước có các nghĩa vụ chủ yếu sau đây:

- Mỗi bên thành viên sẽ nội luật hóa trong hệ thống pháp luật nước mình các quy định mang tính chất hành chính và các biện pháp cần thiết khác nhằm thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định tại Công ước.

- Mỗi bên thành viên sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết để cho phép tiến hành kiểm tra sớm nhất có thể sự an toàn của các công trình hạt nhân hiện có vào thời điểm Công ước có hiệu lực đối với bên đó.

- Mỗi bên thành viên thiết lập và duy trì một khuôn khổ pháp lý để quản lý vấn đề an toàn của các công trình hạt nhân, các biện pháp đảm bảo pháp luật và các điều kiện quy định trong giấy phép được tuân thủ, kể cả biện pháp tạm đình chỉ hoạt động, thay đổi hay rút giấy phép.

- Trong việc lựa chọn địa điểm xây dựng, mỗi bên thành viên thực hiện các biện pháp cần thiết để quy định và thực hiện một thủ tục thích hợp cho phép: Đánh giá mọi yếu tố liên quan đến địa điểm xây dựng, có khả năng ảnh hưởng đến sự an toàn của công trình hạt nhân trong suốt quá trình vận hành của công trình đó; đánh giá tác động mà một công trình hạt nhân đang trong quá trình nghiên cứu xây dựng có thể gây ra đối với sự an toàn của con người, xã hội và môi trường; tham khảo ý kiến các bên thành viên gần khu vực dự án xây dựng công trình hạt nhân nếu công trình đó có khả năng ảnh hưởng đến họ và nếu được yêu cầu phải cung cấp cho các quốc gia này những thông tin cần thiết cho phép họ tự xem xét, đánh giá về tác động mà công trình hạt nhân có thể gây ra đối với sự an toàn trên lãnh thổ nước mình.

- Trong thiết kế và xây dựng, mỗi bên thành viên thực hiện các biện pháp thích hợp để đảm bảo trong quá trình thiết kế và xây dựng một công trình hạt nhân phải dự trù nhiều cấp độ và phương thức bảo vệ hiệu quả (bảo vệ có chiều sâu) chống lại sự đào thải các chất phóng xạ nhằm ngăn ngừa tai nạn và hạn chế hậu quả phóng xạ nếu xảy ra tai nạn;

- Trong khai thác, mỗi bên thành viên thực hiện các biện pháp thích hợp để đảm bảo giấy phép khai thác lần đầu cho một công trình hạt nhân phải căn cứ vào kết quả phân tích vấn đề an toàn được tiến hành một cách hợp lý và vào một chương trình vận hành mà kết quả cho thấy công trình hạt nhân trong tình trạng như đã được xây dựng đáp ứng được các yêu cầu về thiết kế và an toàn;

- Số lượng rác thải phóng xạ sinh ra từ hoạt động của một công trình hạt nhân phải được giảm đến mức thấp nhất có thể.

3. Công ước chung về an toàn quản lý nhiên liệu thải và chất thải phóng xạ năm 1997

Công ước này nhằm mục đích: đạt được và duy trì một mức an toàn cao trên khắp thế giới trong việc quản lý chất thải phóng xạ và nhiên liệu đã qua sử dụng, thông qua việc tăng cường các biện pháp trong phạm vi quốc gia và sự phối hợp quốc tế, bao gồm cả việc phối hợp về mặt kỹ thuật; đảm bảo rằng trong suốt quá trình quản lý chất thải phóng xạ và nhiên liệu đã qua sử dụng, phải có sự phòng chống hiệu quả các thảm họa có thể xảy ra để con người, xã hội và môi trường được bảo vệ khỏi tác hại của bức xạ ion hóa trong hiện tại và trong tương lai, theo hướng mà các nhu cầu và nguyện vọng của thế hệ hiện tại được đáp ứng nhưng điều đó không làm suy giảm khả năng đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của thế hệ tương lai; ngăn chặn các tai nạn gây ra những hậu quả bức xạ và giảm nhẹ các hậu quả này nếu xảy ra trong quá trình quản lý chất thải phóng xạ và nhiên liệu hạt nhân.

Ngày nay, các hoạt động liên quan đến phóng xạ, hạt nhân đang trở thành mối đe dọa tiềm ẩn gây ra những tác động cực kỳ nguy hiểm cho môi trường. Liên hợp quốc và Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế đã đánh giá vụ nổ nhà máy điện hạt nhân Chernobyl ngày 26/4/1986 làm 7,1 triệu người bị nhiễm xạ với lượng nhiều gấp 100 lần so với hai quả bom nguyên từ thả xuống Hiroshima và Nagasaki hồi chiến tranh thế giới lần thứ hai cộng lại. Gần đây, trận động đất và sóng thần làm rò rỉ chất phóng xạ tại nhà máy điện nguyên tử FUKUSHIMA Đông bắc Nhật Bản ngày 11/3/2011 đã khiến hơn 18.000 người chết và mất tích, gây ra sự cố hạt nhân tồi tệ nhất thế giới kể từ sau thảm họa hạt nhân Chernobyl. Ba năm là một khoảng thời gian không hề ngắn cho một nỗ lực thần kỳ của đất nước Nhật Bản nhưng chưa đủ dài để xóa sạch những vết thương về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.

Những thực tiễn trên đã cho thấy, việc xây dựng các quy định pháp lý để kiểm soát các hoạt động sử dụng phóng xạ, hạt nhân là hết sức cấp bách nhằm bảo vệ môi trường phục vụ mục tiêu phát triển bền vững. Để có thể sử dụng rộng rãi, hiệu quả các nguồn phóng xạ trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, đồng thời giảm thiểu đến mức thấp nhất nguy hiểm có thể có đối với sức khoẻ con người và tác hại đối với môi trường, cần phải có sự quản lý và kiểm soát chặt chẽ không chỉ của hệ thống quản lý nhà nước của từng quốc gia mà cần phải có sự hợp tác và kiểm soát chặt chẽ của các quốc gia trên toàn thế giới.

Tài liệu tham khảo:

1. Sổ tay Luật hạt nhân;

2. Công ước về an toàn hạt nhân, INFCIRC/449, IAEA, Viên (1994);

3. Công ước chung về an toàn quản lý nhiên liệu thải và chất thải phóng xạ, INFCIRC/546, IAEA, Viên (1997);

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: