Thứ bảy 07/02/2026 20:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số quy định của pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử

Kể từ khi Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (gọi tắt tiếng Anh là IAEA) được thành lập năm 1957 đến nay, trong khuôn khổ của Liên Hợp Quốc, nhiều Hội nghị quốc tế có tính chất toàn cầu về chủ đề bảo vệ môi trường đã được tổ chức, trong đó có bảo vệ môi trường trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.

Cùng với sự gia tăng của hàng loạt các công ước quốc tế về môi trường, các chương trình và cơ chế quốc tế về hợp tác, bảo vệ và phát triển bền vững môi trường quốc tế cũng hình thành nhanh chóng và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng. Đặc biệt, từ sau năm 1992 (tức sau Hội nghị Rio de Janeiro, Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển), pháp luật môi trường quốc tế đã có sự phát triển mạnh cả về nội dung và hình thức, với sự hỗ trợ của Liên hợp quốc và các tổ chức phi chính phủ khác về môi trường.

Cơ sở pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử

Sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay, có một số điều ước quốc tế toàn cầu, khu vực và song phương liên quan đến bảo vệ môi trường trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử được ký kết. Điển hình là các điều ước quốc tế sau đây: Sổ tay Luật hạt nhân của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) năm 2003; Công ước Viên về an toàn hạt nhân năm 1994; Công ước chung về An toàn trong quản lý nhiên liệu đã qua sử dụng và An toàn trong quản lý chất thải phóng xạ năm 1997; Công ước Paris năm 1960 được sửa đổi, bổ sung bởi các nghị định thư ngày 28/01/1964 và ngày 16/11/1982 về trách nhiệm bồi thường thiệt hạt trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân; Công ước Viên về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại hạt nhân năm 1963; Công ước bổ sung về bồi thường đối với những tổn hại hạt nhân năm 1997; Công ước ngăn chặn ô nhiễm biển do đổ chất thải và các chất khác năm 1972 và Bản Phụ lục năm 1978; Hiệp ước Nam cực năm 1959 quy định cấm mọi vụ nổ hạt nhân hoặc thải chất thải hạt nhân tại Nam cực; Công ước Bruxelles ngày 25/5/1962 về trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực vận chuyển đường biển các chất phóng xạ, hạt nhân; Hiệp ước Moscow ngày 5/8/1963 về cấm thử vũ khí hạt nhân trong khí quyển, vũ trụ và dưới nước; Hiệp ước London – Moscow – Washington ngày 22/4/1968 về không phổ biến vũ khí hạt nhân; Hiệp ước về khu vực phi hạt nhân vùng Đông Nam Á năm 1995...

Với hệ thống các điều ước quốc tế quan trọng nêu trên, có thể nói pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường nói chung và đặc biệt là môi trường trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử đã được hình thành và phát triển rất nhanh chóng. Dưới đây, tác giả giới thiệu nội dung cơ bản của một số văn bản pháp lý quan trọng:

1. Sổ tay Hướng dẫn luật hạt nhân năm 2003

Sổ tay ra đời năm 2003 với mục tiêu chính là tài liệu tham khảo về các tiêu chuẩn và hướng dẫn do IAEA xây dựng bao gồm những yếu tố cơ bản trong việc xây dựng và thực thi luật hạt nhân. Cuốn Sổ tay giúp những người tham gia vào việc soạn thảo luật hạt nhân trong những nước mà phát luật hạt nhân kém phát triển; những người tham gia vào việc chỉnh sửa, củng cố, làm cho chặt chẽ hơn luật pháp hiện hành trong những nước mà phát luật hạt nhân đã tương đối hoàn chỉnh. Cuốn Sổ tay còn có thể giúp Chính phủ các nước hoàn thiện pháp luật quốc gia phù hợp với văn kiện quốc tế trong lĩnh vực hạt nhân. Thực tế Việt Nam hiện nay là nước pháp luật hạt nhân kém phát triển, việc sử dụng cuốn Sổ tay hướng dẫn của IAEA làm cơ sở định hướng cho công tác soạn thảo luật năng lượng hạt nhân là hết sức cần thiết.

2. Công ước về An toàn hạt nhân ngày năm 1994

Công ước bắt đầu có hiệu lực vào ngày 24/10/1996 và đến ngày 11/4/2005, 56 quốc gia và một tổ chức khu vực (Euratom) đã gửi văn kiện phê chuẩn. Hiện nay, Việt Nam đã tham gia Công ước này. Công ước gồm lời nói đầu, 4 chương và 35 điều. Các quốc gia là thành viên của Công ước có các nghĩa vụ chủ yếu sau đây:

- Mỗi bên thành viên sẽ nội luật hóa trong hệ thống pháp luật nước mình các quy định mang tính chất hành chính và các biện pháp cần thiết khác nhằm thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định tại Công ước.

- Mỗi bên thành viên sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết để cho phép tiến hành kiểm tra sớm nhất có thể sự an toàn của các công trình hạt nhân hiện có vào thời điểm Công ước có hiệu lực đối với bên đó.

- Mỗi bên thành viên thiết lập và duy trì một khuôn khổ pháp lý để quản lý vấn đề an toàn của các công trình hạt nhân, các biện pháp đảm bảo pháp luật và các điều kiện quy định trong giấy phép được tuân thủ, kể cả biện pháp tạm đình chỉ hoạt động, thay đổi hay rút giấy phép.

- Trong việc lựa chọn địa điểm xây dựng, mỗi bên thành viên thực hiện các biện pháp cần thiết để quy định và thực hiện một thủ tục thích hợp cho phép: Đánh giá mọi yếu tố liên quan đến địa điểm xây dựng, có khả năng ảnh hưởng đến sự an toàn của công trình hạt nhân trong suốt quá trình vận hành của công trình đó; đánh giá tác động mà một công trình hạt nhân đang trong quá trình nghiên cứu xây dựng có thể gây ra đối với sự an toàn của con người, xã hội và môi trường; tham khảo ý kiến các bên thành viên gần khu vực dự án xây dựng công trình hạt nhân nếu công trình đó có khả năng ảnh hưởng đến họ và nếu được yêu cầu phải cung cấp cho các quốc gia này những thông tin cần thiết cho phép họ tự xem xét, đánh giá về tác động mà công trình hạt nhân có thể gây ra đối với sự an toàn trên lãnh thổ nước mình.

- Trong thiết kế và xây dựng, mỗi bên thành viên thực hiện các biện pháp thích hợp để đảm bảo trong quá trình thiết kế và xây dựng một công trình hạt nhân phải dự trù nhiều cấp độ và phương thức bảo vệ hiệu quả (bảo vệ có chiều sâu) chống lại sự đào thải các chất phóng xạ nhằm ngăn ngừa tai nạn và hạn chế hậu quả phóng xạ nếu xảy ra tai nạn;

- Trong khai thác, mỗi bên thành viên thực hiện các biện pháp thích hợp để đảm bảo giấy phép khai thác lần đầu cho một công trình hạt nhân phải căn cứ vào kết quả phân tích vấn đề an toàn được tiến hành một cách hợp lý và vào một chương trình vận hành mà kết quả cho thấy công trình hạt nhân trong tình trạng như đã được xây dựng đáp ứng được các yêu cầu về thiết kế và an toàn;

- Số lượng rác thải phóng xạ sinh ra từ hoạt động của một công trình hạt nhân phải được giảm đến mức thấp nhất có thể.

3. Công ước chung về an toàn quản lý nhiên liệu thải và chất thải phóng xạ năm 1997

Công ước này nhằm mục đích: đạt được và duy trì một mức an toàn cao trên khắp thế giới trong việc quản lý chất thải phóng xạ và nhiên liệu đã qua sử dụng, thông qua việc tăng cường các biện pháp trong phạm vi quốc gia và sự phối hợp quốc tế, bao gồm cả việc phối hợp về mặt kỹ thuật; đảm bảo rằng trong suốt quá trình quản lý chất thải phóng xạ và nhiên liệu đã qua sử dụng, phải có sự phòng chống hiệu quả các thảm họa có thể xảy ra để con người, xã hội và môi trường được bảo vệ khỏi tác hại của bức xạ ion hóa trong hiện tại và trong tương lai, theo hướng mà các nhu cầu và nguyện vọng của thế hệ hiện tại được đáp ứng nhưng điều đó không làm suy giảm khả năng đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của thế hệ tương lai; ngăn chặn các tai nạn gây ra những hậu quả bức xạ và giảm nhẹ các hậu quả này nếu xảy ra trong quá trình quản lý chất thải phóng xạ và nhiên liệu hạt nhân.

Ngày nay, các hoạt động liên quan đến phóng xạ, hạt nhân đang trở thành mối đe dọa tiềm ẩn gây ra những tác động cực kỳ nguy hiểm cho môi trường. Liên hợp quốc và Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế đã đánh giá vụ nổ nhà máy điện hạt nhân Chernobyl ngày 26/4/1986 làm 7,1 triệu người bị nhiễm xạ với lượng nhiều gấp 100 lần so với hai quả bom nguyên từ thả xuống Hiroshima và Nagasaki hồi chiến tranh thế giới lần thứ hai cộng lại. Gần đây, trận động đất và sóng thần làm rò rỉ chất phóng xạ tại nhà máy điện nguyên tử FUKUSHIMA Đông bắc Nhật Bản ngày 11/3/2011 đã khiến hơn 18.000 người chết và mất tích, gây ra sự cố hạt nhân tồi tệ nhất thế giới kể từ sau thảm họa hạt nhân Chernobyl. Ba năm là một khoảng thời gian không hề ngắn cho một nỗ lực thần kỳ của đất nước Nhật Bản nhưng chưa đủ dài để xóa sạch những vết thương về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.

Những thực tiễn trên đã cho thấy, việc xây dựng các quy định pháp lý để kiểm soát các hoạt động sử dụng phóng xạ, hạt nhân là hết sức cấp bách nhằm bảo vệ môi trường phục vụ mục tiêu phát triển bền vững. Để có thể sử dụng rộng rãi, hiệu quả các nguồn phóng xạ trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, đồng thời giảm thiểu đến mức thấp nhất nguy hiểm có thể có đối với sức khoẻ con người và tác hại đối với môi trường, cần phải có sự quản lý và kiểm soát chặt chẽ không chỉ của hệ thống quản lý nhà nước của từng quốc gia mà cần phải có sự hợp tác và kiểm soát chặt chẽ của các quốc gia trên toàn thế giới.

Tài liệu tham khảo:

1. Sổ tay Luật hạt nhân;

2. Công ước về an toàn hạt nhân, INFCIRC/449, IAEA, Viên (1994);

3. Công ước chung về an toàn quản lý nhiên liệu thải và chất thải phóng xạ, INFCIRC/546, IAEA, Viên (1997);

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: