Thứ ba 03/03/2026 13:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số thuật ngữ về các đặc khu kinh tế, hành chính

Thuật ngữ là một từ hay một cụm từ cố định được dùng trong các chuyên ngành để biểu thị chính xác các khái niệm và các đối tượng thuộc chuyên ngành.

Thuật ngữ là một từ hay một cụm từ cố định được dùng trong các chuyên ngành để biểu thị chính xác các khái niệm và các đối tượng thuộc chuyên ngành. Chính vì vậy, dưới góc độ của mỗi chuyên ngành sẽ có cách giải thích khác nhau về các thuật ngữ của ngành đó. Ví dụ: Thuật ngữ văn học, thuật ngữ toán học, thuật ngữ sử học, thuật ngữ hóa học… Đối với ngành luật, các thuật ngữ luôn là một bộ phận không thể tách rời khi ban hành bất cứ loại văn bản nào. Trong mỗi chuyên ngành luật lại có các thuật ngữ riêng, chẳng hạn: Thuật ngữ luật hình sự, thuật ngữ hành chính, thuật ngữ luật lao động… Vì vậy, trong các văn bản pháp luật luôn dành một trong những điều đầu tiên để quy định về cách giải thích thuật ngữ theo cách hiểu của lĩnh vực đó.

Việc xây dựng và phát triển các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (ĐVHC - KTĐB) là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Điều này được xác định trong Văn kiện của Đại hội Đảng khóa X, XI và XII; nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII và XII; các kết luận của Bộ Chính trị; nghị quyết của Quốc hội và đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 và nhiều đạo luật liên quan như: Luật Tổ chức Quốc hội (2014), Luật Tổ chức chính quyền địa phương (2015), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (2015), Luật Đầu tư (2014), Luật Quy hoạch (2017) và mới đây nhất là Luật Quốc phòng (2018). Như vậy, việc thành lập ĐVHC - KTĐB là để thực hiện chủ trương, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước, các kết luận của Bộ Chính trị, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp và các quy định liên quan nhằm tạo lực tăng trưởng và thử nghiệm đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy thuộc hệ thống chính trị.

Việc tìm hiểu ý nghĩa của các thuật ngữ pháp luật, kinh tế về ĐVHC - KTĐB là hành trang cần thiết đối với mỗi người, nhất là trong giai đoạn hiện nay.

Trên thế giới tồn tại một số thuật ngữ để chỉ những đặc khu có được sự ưu đãi đặc biệt so với các địa phương còn lại của quốc gia như: “Khu kinh tế” (KKT), “Khu kinh tế tự do” (KKT tự do), “KKT đặc biệt” hay “Đặc khu kinh tế” (ĐKKT), “Đặc khu hành chính” (ĐKHC), “Khu tự trị”... Cho đến nay, các nghiên cứu trên thế giới cũng chưa thống nhất được khái niệm và phân biệt rõ ràng về các loại hình này. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả bàn luận về một vài thuật ngữ sau:

1. Khu kinh tế tự do

Đây là tên gọi chung cho các khu vực được thành lập ở một quốc gia nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước bằng các biện pháp khuyến khích đặc biệt. Thuật ngữ này được sử dụng để nói về các khu vực kinh tế, tại đó các doanh nghiệp được giảm rất nhiều thuế hoặc không bị đánh thuế, nhằm khuyến khích hoạt động kinh tế. Ngoài các quy định chung về các điều kiện và lợi ích của các KKT tự do được quy định tại Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng của WTO thì mỗi quốc gia khi thành lập KKT sẽ có quy định riêng về thuế cho các khu vực này.

KKT tự do được phân thành 03 loại chính:

- KKT tự do có tính chất thương mại: Chủ yếu là phát triển thương mại và dịch vụ, hầu như không có (hoặc rất ít) các ngành sản xuất, chỉ có các dịch vụ hỗ trợ mua bán hàng hóa, bốc xếp, bảo quản, đóng gói... phục vụ xuất nhập khẩu.

- KKT tự do có tính chất công nghiệp: Khu vực tập trung phát triển công nghiệp với các mô hình như khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất - khu xuất khẩu tự do, khu công nghệ cao.

- KKT tự do có tính chất tổng hợp: Khu vực lãnh thổ tập trung thu hút và phát triển các hoạt động sản xuất, kinh doanh tổng hợp, đa ngành, bao gồm cả công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, tài chính, ngân hàng, nghiên cứu khoa học.

Đây là các mô hình đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm với sự hình thành các “cảng tự do” đầu tiên ở Ý vào năm 1547 và khu vực châu Á Thái Bình Dương vào đầu thế kỷ 18. Mô hình cảng tự do sau đó được mở rộng trên phạm vi một vùng lãnh thổ, trở thành khu mậu dịch tự do như Singapore (1819) và Hồng Kông (1842). Mô hình KKT hiện đại đầu tiên được thành lập tại Puerto Rico (vùng quốc hải ở phía Đông Bắc biển Caribe thuộc chủ quyền của Mỹ) năm 1942. Từ đó, các mô hình KKT dần được nhân rộng tại nhiều quốc gia châu Á như: Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Phillippines, Singapore vào cuối thập kỷ 60. Trong thập kỷ 70 - 80, nhiều quốc gia (bao gồm cả các nước đang phát triển và các nước phát triển) bắt đầu xây dựng những khu công nghệ cao nhằm khuyến khích nghiên cứu và phát triển các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ hiện đại. Số lượng các KKT tăng nhanh qua từng thời kỳ, từ 09 khu tại 09 nước vào những năm 60, đến 111 khu tại trên 40 nước vào cuối những năm 80. Đến năm 2016 đã có khoảng 4.500 khu tại 140 quốc gia, trong đó có nhiều nước đang phát triển[1]. Sự phát triển của các KKT góp phần quan trọng thúc đẩy thương mại toàn cầu.

Như vậy có thể nói, KKT tự do là khu vực độc lập hay có ranh giới địa lý xác định, chỉ chịu ảnh hưởng bởi một cơ quan quản lý duy nhất. Các thủ tục, chính sách áp dụng cho doanh nghiệp trong KKT tự do có một cơ chế riêng, độc lập và có sự đột phá theo hướng thủ tục ngày càng gọn nhẹ với ưu đãi nhất định để thu hút đầu tư.

2. Đặc khu kinh tế

Thuật ngữ ĐKKT (hay KKT đặc biệt) được giải thích theo những cách khác nhau ở nhiều quốc gia. Năm 2008, tổ chức Ngân hàng Thế giới đã đưa ra định nghĩa ĐKKT hiện đại là “một khu vực giới hạn về mặt địa lý, thường được bảo đảm về mặt an ninh; được tự quản lý hoặc điều hành một cách độc lập, có đủ điều kiện nhận các ưu đãi về thuế và các thủ tục một cách hợp lý dựa trên vị trí thực tế trong khu vực…”[2].

Ở nhiều nước, ĐKKT là tên gọi các KKT được thành lập trong một quốc gia, nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước bằng các biện pháp khuyến khích đặc biệt. Đây là mô hình kế thừa và phát triển của các mô hình KKT thông thường. Có thể nói, tiền thân của mô hình ĐKKT là các loại hình khu công nghiệp, KKT tự do.

Đối với các nước trên thế giới, mô hình ĐKKT ở mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ có đặc điểm và quy định riêng. Tuy nhiên, khái niệm ĐKKT đều được hiểu là khu vực được phân định ranh giới địa lý rõ ràng và được bảo đảm về mặt an ninh; có thể chế quản lý hành chính riêng biệt; được hưởng các ưu đãi vượt trội về thuế, hải quan và có các đặc quyền cụ thể để phát triển kinh tế đặc thù, xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, thuận lợi để thu hút công nghệ cao, phương pháp quản lý tiên tiến, khoa học...

Các ĐKKT trên thế giới có thể được phân loại thành các mô hình khác nhau căn cứ vào quy mô, tính chất của từng ĐKKT qua các thời kỳ như: ĐKKT tổng hợp, đa chức năng và ĐKKT có chức năng chuyên biệt; ĐKKT chuyên về thương mại, dịch vụ, tài chính và ĐKKT sản xuất, chế tạo để xuất khẩu; ĐKKT có dân cư sinh sống; ĐKKT không có dân cư sinh sống...

ĐKKT có đặc điểm cơ bản sau: Có lợi thế so sánh về vị trí địa lý, gần cảng biển quốc tế, các tuyến giao thông quan trọng của đất nước; có nhiều tiềm năng phát triển toàn diện kinh tế - xã hội; có thể chế hành chính, kinh tế riêng theo chuẩn mực quốc tế (bãi bỏ các hàng rào bảo hộ thuế và phi thuế quan; miễn thị thực nhập cảnh cho khách du lịch, kinh doanh; cho phép cư trú lâu dài đối với các nhà kinh doanh, quản lý, kỹ thuật; mức thuế thu nhập doanh nghiệp hấp dẫn; cho phép tự do kinh doanh trên tất cả các lĩnh lực trừ một số lĩnh vực cấm; cho phép thực thi chế độ tự quản về hành chính, trong đó tách biệt các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; chính quyền trung ương chỉ nắm quyền thống nhất quản lý về an ninh, quốc phòng và đối ngoại); ĐKKT hoàn toàn mở cửa đối với thế giới bên ngoài; ĐKKT là nơi thử nghiệm các ý tưởng cải cách, đổi mới.

So với các mô hình KKT thông thường (trong đó có cả khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao), ĐKKT thể hiện tính chất ưu việt hơn ở các mặt: ĐKKT có quy mô diện tích rộng lớn, hội tụ các yếu tố lợi thế về vị trí địa lý, giao thông, có các điều kiện thuận lợi để “mở cửa”, hội nhập nhanh với kinh tế thế giới. Do đặc tính là KKT tổng hợp gồm nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế và có dân cư sinh sống nên quản lý trong ĐKKT không chỉ đơn thuần là quản lý kinh tế mà còn quản lý hành chính tương tự như các đơn vị hành chính độc lập khác; ĐKKT được Nhà nước trao quyền tự chủ cao hơn, linh hoạt hơn về mặt hành chính và kinh tế so với các mô hình khác và được quy định tại các văn bản pháp luật. Chính quyền của ĐKKT được trao quyền điều hành mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội; ĐKKT là địa bàn được hưởng những cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt, nhất là chính sách về thuế để thúc đẩy phát triển nhanh công nghiệp, thương mại và dịch vụ.

Từ những phân tích trên, ta có thể đưa ra cách hiểu chung nhất: ĐKKT là một thuật ngữ dùng để chỉ một đơn vị hành chính hay một vùng lãnh thổ được lập ra vì mục đích phát triển kinh tế rõ rệt hơn những vùng còn lại của quốc gia. Các ngành nghề và doanh nghiệp hoạt động trong đó được hưởng chính sách pháp luật và nhiều ưu đãi đặc biệt hơn những khu vực khác nhằm tạo ra các hàng hóa có mức giá cạnh tranh trên quy mô toàn cầu.

3. Khu tự trị

Khu tự trị là khu vực địa giới nằm trong lãnh thổ toàn vẹn của một quốc gia, chịu sự lãnh đạo thống nhất của Nhà nước trung ương và được Nhà nước trung ương giao cho một số quyền hạn phù hợp với đặc điểm của vùng (quyền lập pháp, tư pháp, định đoạt về một số lĩnh vực mà không cần đến sự phê chuẩn, sự thông qua của chính quyền trung ương). Khu tự trị hoặc nước cộng hòa tự trị thường được thành lập ở các nơi mà đa số cư dân là công dân thuộc các dân tộc thiểu số.

Ở Trung Quốc, khu tự trị là các đơn vị hành chính tương đương tỉnh và là nơi tập trung số lượng lớn các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc, trong đó có một dân tộc thiểu số có số lượng vượt trội. Tên gọi khu tự trị còn xuất hiện cả ở cấp tỉnh, địa khu, huyện và hương. Các khu tự trị được thành lập sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc giành chính quyền, đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Nhà nước Trung Quốc, dựa trên cơ sở các dân tộc thiểu số cư trú ở địa phương mà thành lập cơ quan tự trị tương ứng, thực thi quyền tự trị và bị chi phối bởi chính người dân tộc thiểu số để quản lý các vấn đề địa phương trong chính các nhóm dân tộc của họ. Khu tự trị quốc gia được hưởng quyền tự trị do Hiến pháp, Luật Tự trị khu vực và các luật khác quy định. Chế độ này được gọi là “chế độ tự trị khu dân tộc”, là một trong những thành phần cơ bản của chế độ chính trị ở Trung Quốc. Việc thiết lập khu tự trị dựa trên các điều kiện quốc gia cụ thể của Trung Quốc. Nhà nước Trung Quốc luôn khẳng định: Khu tự trị là khu vực hành chính địa phương nơi Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thống nhất thực thi chủ quyền. Đây là một khu vực thiêng liêng và không thể tách rời của Trung Quốc. Với bản chất của chủ quyền độc lập, việc thực hiện quyền tự trị phải có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế quốc gia, để thống nhất đất nước hòa bình và củng cố quyền lực nhà nước, của nền chuyên chính dân chủ nhân dân Trung Quốc.

4. Đặc khu hành chính

ĐKHC (hay khu hành chính đặc biệt) được hiểu là một khu vực hay một vùng lãnh thổ được thành lập trong một quốc gia cho một mục đích đặc biệt hoặc khác với các đơn vị hành chính khu vực khác.

Thông thường, khi nói đến ĐKHC, các nhà nghiên cứu thường quan tâm đến Hồng Kông và Ma Cao. Đây là những vùng lãnh thổ tự trị thuộc phạm vi chủ quyền của Trung Quốc nhưng không tạo thành một phần của Trung Quốc đại lục. Cơ sở pháp lý cho việc thành lập ĐKHC không giống như các đơn vị hành chính của Trung Quốc đại lục. Cả hai đặc khu hành chính nói trên đều do chính quyền trung ương quản lý. Khác với các đơn vị hành chính cấp tỉnh khác (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và khu tự trị), các đặc khu hành chính có quyền tự trị cao hơn với các quy định riêng (lập pháp, hộ chiếu, đơn vị tiền tệ, chính sách hải quan, chính sách nhập cư, chính sách dẫn độ... ngoại trừ các quy định về ngoại giao và quốc phòng). Đặc biệt, khi tham gia vào các tổ chức quốc tế hay các sự kiện thể thao, các đặc khu hành chính là các thành viên độc lập đối với Trung Quốc.

Như vậy, ở Trung Quốc, các ĐKHC được thực hiện quyền tự chủ cao về mọi mặt (trừ quốc phòng và ngoại giao) theo nguyên tắc một quốc gia, hai chế độ (nhất quốc lưỡng chế). Cơ sở pháp lý trong nước của nó là pháp luật cơ bản và cơ sở pháp lý quốc tế là Tuyên bố chung Trung - Anh và Tuyên bố chung Trung - Bồ. Chế độ hành chính đặc biệt này nhằm mục đích giải quyết sự ổn thỏa về an ninh - chính trị cho hai vùng đất vốn là thuộc địa được trao trả, nhằm khắc phục những vấn đề lịch sử từ thời kỳ thuộc địa. Điều này khác với việc muốn tạo ra những khu vực thúc đẩy phát triển kinh tế thì cần trao những quy chế hành chính đặc biệt.

5. Đơn vị hành chính kinh tế - đặc biệt

Trên thế giới có các khái niệm khác nhau về ĐKHC, ĐKKT nhưng chưa có khái niệm ĐVHC - KTĐB. Về bản chất có thể thấy rằng, ĐVHC - KTĐB giống mô hình ĐKHC, ĐKKT. Đây đều là những đơn vị hành chính - kinh tế được phân định ranh giới địa lý rõ ràng và được bảo đảm về mặt an ninh; được áp dụng cơ chế quản lý kinh tế và hành chính riêng biệt; là khu vực được hưởng các ưu đãi vượt trội về thuế, hải quan và có các đặc quyền cụ thể về đất đai, xuất nhập cảnh để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế xã hội. Sự khác biệt chính giữa các mô hình này là mức độ áp dụng những chính sách đặc biệt về hệ thống chính trị, thể chế kinh tế, thể chế hành chính, chính sách quản lý dân cư. Tùy thuộc vào lịch sử phát triển và đặc điểm của từng loại mô hình mà mức độ “mở” có thể khác nhau, mục tiêu kinh tế có thể được đặt nặng hơn mục tiêu hành chính và ngược lại.

ĐVHC - KTĐB của Việt Nam được quy định như sau: ĐVHC - KTĐB là một trong bốn loại đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Quốc hội quyết định thành lập (khoản 9 Điều 70 và khoản 1 Điều 110 Hiến pháp năm 2013).

Điều 74 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định ĐVHC - KTĐB do Quốc hội quyết định thành lập, được áp dụng các cơ chế, chính sách đặc biệt về kinh tế - xã hội, có chính quyền địa phương được tổ chức phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của ĐVHC - KTĐB đó.

Như vậy, so với các mô hình ĐKKT trên thế giới cho thấy, ĐVHC - KTĐB ở nước ta theo quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương thực chất cũng là một loại hình ĐKKT được áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cả về kinh tế - xã hội và tổ chức chính quyền địa phương. Qua đó, có thể đưa ra một số đặc điểm của các ĐVHC - KTĐB: Thường là các vùng đất có địa vị đặc biệt về mặt lịch sử, chính trị hoặc thuận lợi cho phát triển kinh tế; được thành lập vì mục đích chính trị, lịch sử, hoặc kinh tế; do cơ quan trung ương trực tiếp quản lý hoặc được trao các quy chế quản lý hoặc tự trị khác biệt với các đơn vị hành chính - lãnh thổ thông thường, tùy thuộc vào tính chất của từng loại đặc khu.

Từ các phân tích trên cho thấy, khái niệm ĐVHC - KTĐB trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013 gần gũi với dạng thức ĐKKT, nhưng có thể được trao những quy chế đặc biệt hơn cả nhằm những mục đích lâu dài trong phát triển kinh tế - xã hội.

6. Kết luận

Cách định nghĩa các thuật ngữ pháp luật, kinh tế về ĐVHC - KTĐB nêu trên là cách định nghĩa phổ biến hiện nay ở một số nước, không mang tính toàn cầu. Việc thống nhất về nội hàm và ngoại diên của những khái niệm này trên phạm vi thế giới là khó có thể đạt được do những đặc thù kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và lịch sử của mỗi nước.

Tuy chưa phân định rõ ràng được các thuật ngữ về KKT, KKT tự do, KKT đặc biệt hay ĐKKT, ĐKHC nhưng có thể rút ra một số đặc điểm chung của các mô hình đó là: Có ranh giới địa lý xác định; được áp dụng các cơ chế, chính sách riêng về hành chính và kinh tế. Tùy theo từng loại hình và từng quốc gia khác nhau, các khu được xác định với những đặc điểm riêng và mức độ “mở” của chính sách về kinh tế và hành chính khác nhau. Trong đó KKT đặc biệt hay ĐKKT là mô hình mới phát triển (từ cuối thế kỷ 20).

Các thuật ngữ nói trên, dù được hiểu theo những cách khác nhau, song pháp luật ở hầu hết các nước đều thống nhất khẳng định: Những KKT, KKT tự do, KKT đặc biệt hay ĐKKT, ĐKHC... được xây dựng và phát triển không chỉ nhằm hướng đến lợi ích (kinh tế, xã hội, giải quyết các vấn đề lịch sử để lại…) của khu vực, địa phương nói riêng, mà còn tạo ra động lực phát triển quốc gia. Đặc biệt, các ĐVHC - KTĐB có thể có quyền tự chủ cao về nhiều mặt nhưng phải luôn đảm bảo đây là một bộ phận không thể tách rời của quốc gia thống nhất. Điều đó có nghĩa là, quyền tự chủ về quốc phòng và ngoại giao của các đơn vị này phải bị hạn chế đến mức tối đa hoặc loại trừ; các vấn đề phát triển khu, vùng tuyệt đối phải đảm bảo chủ quyền và lợi ích quốc gia.

ThS. Phạm Thị Huyền

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam






[1] file:///C:/Users/vn/AppData/Local/Temp/01122017101949_9_Bao_cao_ve_kinh_nghiem_quoc_te_9-10-2017.pdf.pdf.

[2] Zone Definition", Special Economic Zone: Performance, Lessons Learned, and Implication for Zone Development, Washington DC: World Bank, 2008, pp. 9-11.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: