Thứ tư 26/08/2026 05:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề cần quan tâm trong xây dựng thể chế về công tác theo dõi thi hành pháp luật qua thực trạng ở tỉnh Sóc Trăng

Hiện nay, theo Thông tư không quy định việc xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật. Thực tế tại tỉnh Sóc Trăng thời gian qua, kết quả theo dõi thi hành pháp luật chỉ dừng lại ở mức độ báo cáo về Ủy ban nhân dân tỉnh, mà không có cơ chế nào để ràng buộc nơi đến kiểm tra phải thực hiện.

Ngày 03/03/2010, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 03/2010/TT-BTP ngày 03/03/2010 về hướng dẫn thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Đây có thể nói là văn bản pháp lý đầu tiên và duy nhất cho địa phương thực hiện chức năng theo dõi, thi hành pháp luật

Với sự ra đời của Thông tư 03 đã bước đầu tạo nền tảng, giúp cho địa phương từng bước thực hiện có hiệu quả, nề nếp với công tác mới mẻ nhưng rất phức tạp này.

Qua hơn 03 năm thực hiện Thông tư, tại tỉnh Sóc Trăng, được sự quan tâm chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh và Lãnh đạo Sở Tư pháp, công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn đã có những chuyển biến tích cực và bước đầu nhiều cơ quan, tổ chức đã biết đến chức năng quan trọng này của Ngành Tư pháp. Tuy nhiên, qua thực tiễn triển khai thực hiện có một số vấn đề liên quan đến thể chế mà cần phải có các quy định của pháp luật để điều chỉnh. Do đó, chúng tôi xin nêu một số vấn đề cần quan tâm khi xây dựng thể chế về công tác theo dõi thi hành pháp luật.

1. Cơ sở pháp lý cần thiết xây dựng một thể chế đủ mạnh điều chỉnh công tác theo dõi thi hành pháp luật liên quan đến địa phương

Nghị quyết số 51/2001/QH10, ngày 25/12/2001 Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, theo đó tại khoản 23 Điều 1 quy định: “Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định”. Như vậy, chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát địa phương đã bị bãi bỏ.

Từ năm 2001 đến năm 2003, chức năng này bị bỏ ngỏ, không có cơ quan nào chịu trách nhiệm.

Ngày 26/11/2003, Quốc hội ban hành Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân quy định trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc thi hành pháp luật được quy định cụ thể như sau:

+ Về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh:

Tại Điều 94 nêu rõ Ủy ban nhân dân tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn “kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở địa phương”.

+ Về trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, tại Điều 106 nêu rõ: Trong việc thi hành pháp luật, Uỷ ban nhân dân huyện thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

“1. Chỉ đạo, tổ chức công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp”.

+ Về trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã, tại Điều 117 nêu rõ: Trong việc thi hành pháp luật, Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

“1. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật; giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật;

3. Tổ chức thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc thi hành án theo quy định của pháp luật; tổ chức thực hiện các quyết định về xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật”.

Để thực hiện các quy định trên, Nghị định số 135/2003/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 14/11/2003 về kiểm tra và xử lý văn bản đã giao cho Ngành Tư pháp tham mưu giúp Uỷ ban nhân dân thực hiện việc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật của địa phương. Như vậy, một phần chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật được chuyển cho Ngành Tư pháp và có mở rộng thêm. Ví dụ: Trước đây Viện kiểm sát kiểm sát văn bản pháp quy chỉ áp dụng đối với cấp tỉnh, nay theo Nghị định số 135/2003/NĐ-CP và nay là Nghị định số 40/2010/NĐ-CP thì việc này còn mở rộng tới cấp huyện.

Tuy nhiên, với nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân các các cấp là kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp thì không dừng lại ở việc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, mà còn kiểm tra việc tuân thủ, chấp hành pháp luật. Thế nhưng, từ năm 2001 đến ngày 16/02/2009 thì việc kiểm tra tình hình chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và của Hội đồng nhân dân cùng cấp chưa có văn bản nào chỉ đạo thực hiện. Một lần nữa, lĩnh vực này bị bỏ ngỏ.

Đến ngày 16/02/2009, khi Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2009/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 8 của Nghị định số 13/2008/NĐ-CP, ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tại Điều 1 quy định: “ Sở Tư pháp tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; thi hành án dân sự; công chứng; chứng thực; nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; trọng tài thương mại; hộ tịch; quốc tịch; lý lịch tư pháp; luật sư; tư vấn pháp luật; trợ giúp pháp lý; giám định tư pháp; hòa giải ở cơ sở; bán đấu giá tài sản và công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, mặc dù nhiều nội dung của việc theo dõi thi hành pháp luật (theo Thông tư số 03/2010/TT-BTP ngày 03/03/2010 về hướng dẫn thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật) có khác hơn so với nội dung thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát (theo Hướng dẫn số 81/KSC ngày 26/10/1992 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật của tổ chức Viện kiểm sát nhân dân) nhưng cũng có nhiều điểm tương đồng. Cho nên, có thể nói, về mặt văn bản quản lý đến đây lỗ hổng pháp luật về thực hiện chức năng của Uỷ ban nhân dân trong việc kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp cơ bản được lấp đầy. Tuy nhiên, Thông tư 03 mới dừng lại ở mức quy định những vấn đề cơ bản của công tác này mà chưa quy định đầy đủ cho một quy trình thực hiện. Từ thực tiễn của tỉnh Sóc Trăng, Sở Tư pháp xin nêu một số vấn đề cần quan tâm hơn trong việc xây dựng thể chế.

2. Những vấn đề cần quan tâm khi xây dựng thể chế thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật

Thứ nhất, bàn về khái niệm theo dõi thi hành pháp luật

Theo Điều 94 và Điều 106 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân nêu trên thì trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là “kiểm tra thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp” và trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp huyện là “kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp…”.

Theo Nghị định số 16/2009/NĐ-CP của Chính phủ thì Sở Tư pháp tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng “... Xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật”. Như vậy, theo Luật thì địa phương thực hiện “kiểm tra thi hành” hoặc “kiểm tra việc chấp hành” mà không phải là “theo dõi thi hành”. Do đó, việc sử dụng khái niệm “theo dõi thi hành…” liệu đã chính xác hay chưa? Việc sử dụng cụm từ “theo dõi thi hành…” sẽ làm giảm đi tính chất quan trọng khi thực hiện chức năng này thay vì sử dụng khái niệm “kiểm tra thi hành” như Điều 94 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và nếu sử dụng khái niệm này thì chưa đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành là Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Nghị định số 16/2009/NĐ-CP của Chính phủ.

Thứ hai, bàn về đối tượng theo dõi thi hành pháp luật

Theo Thông tư số 03 và Nghị định hiện nay không quy định đối tượng của việc theo dõi thi hành pháp luật. Thực tế thời gian qua, khi thực hiện Thông tư số 03 thì tại tỉnh Sóc Trăng, việc xác định đối tượng của việc theo dõi thi hành pháp luật tùy theo từng năm và đưa vào kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh. Ví dụ: Năm 2011, tỉnh Sóc Trăng tổ chức theo dõi 04 lĩnh vực là: Tư pháp, thủ tục hành chính, ưu đãi đầu tư và đất đai. Năm 2012 theo dõi 4 lĩnh vực là: Xử phạt vi phạm hành chính, thủ tục hành chính, giá và phí, lệ phí; chế độ chính sách đối với trẻ em và việc làm. Tuy nhiên, nếu như thời gian tới vẫn thực hiện theo cơ chế này sẽ dẫn đến một số vấn đề sau đây:

Một là, cơ quan thực hiện không có tính độc lập, không chủ động thực hiện, cụ thể:

Khi thực hiện theo kế hoạch nêu trên, Sở Tư pháp sẽ buộc phải phối hợp với các cơ quan có liên quan để thực hiện theo kế hoạch, nếu có vấn đề phát sinh phải trình Ủy ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung kế hoạch mà Ngành Tư pháp không chủ động thực hiện được. Thực tế thì không cơ quan nào mong muốn “tự mình phối hợp với cơ quan khác để theo dõi, kiểm tra hoạt động của ngành mình” nên bước đầu, việc thực hiện kế hoạch đã mang tính hình thức. Thời gian qua, Sở Tư pháp đề nghị thành lập đoàn kiểm tra tình hình thu hồi đất thì Sở Tư pháp phối hợp với Ngành Tài nguyên và Môi trường không mang lại hiệu quả như mong muốn. Việc phối hợp của Sở Tài nguyên và Môi trường có tính hình thức như thông qua việc cử cán bộ tham gia đoàn kiểm tra (vì họ không mong muốn lĩnh vực vốn thuộc quyền quản lý của họ bị người khác kiểm tra) và nơi đến kiểm tra là Uỷ ban nhân dân cấp huyện cũng không hợp tác, việc báo cáo chỉ hình thức, Đoàn kiểm tra yêu cầu cung cấp hồ sơ thu hồi đất… nhưng việc cung cấp cũng chỉ dừng ở mức độ…

Hai là, không quy định đối tượng cụ thể để theo dõi thi hành pháp luật là đồng thời với việc chức năng, nhiệm vụ chưa ổn định, hôm nay thực hiện lĩnh vực này, nhưng ngày mai có thể thực hiện ở lĩnh vực khác và như vậy là chưa phù hợp với tính chất quản lý hành chính nhà nước là có tính ổn định.

Ba là, không quy định đối tượng cụ thể để theo dõi thi hành có nghĩa là chức năng, nhiệm vụ này cũng rất mơ hồ, không rõ ràng. Nếu so sánh với các nghiệp vụ khác của Ngành Tư pháp như: Xây dựng, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, hành chính tư pháp, phổ biến pháp luật, bổ trợ... thì các lĩnh vực đều có đối tượng rõ ràng, có như vậy thì mới biết được ai là người có liên quan để thực hiện. Do đó, khi xây dựng thể chế cần lưu ý vấn đề này.

Thứ ba, về thực hiện nội dung theo dõi thi hành pháp luật

Việc thực hiện nội dung theo dõi thi hành pháp luật theo Thông tư hiện nay có nhiều vấn đề liên quan đến các nghiệp vụ khác của Ngành Tư pháp. Ví dụ: Thực hiện Điều 4 của Thông tư quy định về nội dung đánh giá về tình hình ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành; văn bản chỉ đạo, đôn đốc, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và của cơ quan nhà nước cùng cấp có thẩm quyền: Muốn thực hiện nghiệp vụ này là nắm được các văn bản Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân đã ban hành bao nhiêu văn bản liên quan đến lĩnh vực thì cần phải thực hiện việc thống kê, rà soát văn bản. Và hiện nay, trong trường hợp Sở Tư pháp nào có thành lập Phòng Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thì Phòng này cũng có nhiệm vụ thống kê, rà soát. Như vậy, hai phòng này cũng có chức năng chung và không thể nói phòng này làm nhiệm vụ phòng kia hoặc ngược lại và thực tế tại Sóc Trăng cũng đã có sự vướng mắc này.

Tương tự khi thực hiện Điều 7 của Thông tư nêu nội dung đánh giá về hiệu quả của công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật quy định gồm:

- Mức độ nâng cao nhận thức pháp luật của các cơ quan, tổ chức và công dân sau khi được tuyên truyền, phổ biến.

- Tác động của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến ý thức tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức và công dân.

- Các trường hợp vi phạm pháp luật do không hiểu biết pháp luật.

- Kiến nghị các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật.

Những công việc này hiện nay Sở Tư pháp đã thành lập Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật. Do đó, thời gian qua, khi Phòng Xây dựng và Thi hành pháp luật của Sở Tư pháp Sóc Trăng thực hiện thì có ý kiến cho rằng, một số nhiệm vụ mà phòng thực hiện là công việc của phòng khác. Do đó, kiến nghị khi ban hành các văn bản quy định cần làm rõ các nhiệm vụ này.

Thứ tư, về thực hiện kết quả theo dõi thi hành văn bản quy phạm pháp luật

Hiện nay, theo Thông tư không quy định việc xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật. Thực tế tại tỉnh Sóc Trăng thời gian qua, kết quả theo dõi thi hành pháp luật chỉ dừng lại ở mức độ báo cáo về Ủy ban nhân dân tỉnh, mà không có cơ chế nào để ràng buộc nơi đến kiểm tra phải thực hiện. Do đó, cần quy định về cơ chế xử lý kết quả công tác này với góc độ là “kiểm tra thi hành pháp luật” mà không phải là “theo dõi thi hành pháp luật” như đã nêu trên.

Sở Tư Pháp Sóc Trăng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: