Thứ năm 15/01/2026 05:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề cần quan tâm trong xây dựng thể chế về công tác theo dõi thi hành pháp luật qua thực trạng ở tỉnh Sóc Trăng

Hiện nay, theo Thông tư không quy định việc xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật. Thực tế tại tỉnh Sóc Trăng thời gian qua, kết quả theo dõi thi hành pháp luật chỉ dừng lại ở mức độ báo cáo về Ủy ban nhân dân tỉnh, mà không có cơ chế nào để ràng buộc nơi đến kiểm tra phải thực hiện.

Ngày 03/03/2010, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 03/2010/TT-BTP ngày 03/03/2010 về hướng dẫn thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Đây có thể nói là văn bản pháp lý đầu tiên và duy nhất cho địa phương thực hiện chức năng theo dõi, thi hành pháp luật

Với sự ra đời của Thông tư 03 đã bước đầu tạo nền tảng, giúp cho địa phương từng bước thực hiện có hiệu quả, nề nếp với công tác mới mẻ nhưng rất phức tạp này.

Qua hơn 03 năm thực hiện Thông tư, tại tỉnh Sóc Trăng, được sự quan tâm chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh và Lãnh đạo Sở Tư pháp, công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn đã có những chuyển biến tích cực và bước đầu nhiều cơ quan, tổ chức đã biết đến chức năng quan trọng này của Ngành Tư pháp. Tuy nhiên, qua thực tiễn triển khai thực hiện có một số vấn đề liên quan đến thể chế mà cần phải có các quy định của pháp luật để điều chỉnh. Do đó, chúng tôi xin nêu một số vấn đề cần quan tâm khi xây dựng thể chế về công tác theo dõi thi hành pháp luật.

1. Cơ sở pháp lý cần thiết xây dựng một thể chế đủ mạnh điều chỉnh công tác theo dõi thi hành pháp luật liên quan đến địa phương

Nghị quyết số 51/2001/QH10, ngày 25/12/2001 Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, theo đó tại khoản 23 Điều 1 quy định: “Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định”. Như vậy, chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát địa phương đã bị bãi bỏ.

Từ năm 2001 đến năm 2003, chức năng này bị bỏ ngỏ, không có cơ quan nào chịu trách nhiệm.

Ngày 26/11/2003, Quốc hội ban hành Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân quy định trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc thi hành pháp luật được quy định cụ thể như sau:

+ Về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh:

Tại Điều 94 nêu rõ Ủy ban nhân dân tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn “kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở địa phương”.

+ Về trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, tại Điều 106 nêu rõ: Trong việc thi hành pháp luật, Uỷ ban nhân dân huyện thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

“1. Chỉ đạo, tổ chức công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp”.

+ Về trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã, tại Điều 117 nêu rõ: Trong việc thi hành pháp luật, Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

“1. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật; giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật;

3. Tổ chức thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc thi hành án theo quy định của pháp luật; tổ chức thực hiện các quyết định về xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật”.

Để thực hiện các quy định trên, Nghị định số 135/2003/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 14/11/2003 về kiểm tra và xử lý văn bản đã giao cho Ngành Tư pháp tham mưu giúp Uỷ ban nhân dân thực hiện việc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật của địa phương. Như vậy, một phần chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật được chuyển cho Ngành Tư pháp và có mở rộng thêm. Ví dụ: Trước đây Viện kiểm sát kiểm sát văn bản pháp quy chỉ áp dụng đối với cấp tỉnh, nay theo Nghị định số 135/2003/NĐ-CP và nay là Nghị định số 40/2010/NĐ-CP thì việc này còn mở rộng tới cấp huyện.

Tuy nhiên, với nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân các các cấp là kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp thì không dừng lại ở việc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, mà còn kiểm tra việc tuân thủ, chấp hành pháp luật. Thế nhưng, từ năm 2001 đến ngày 16/02/2009 thì việc kiểm tra tình hình chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và của Hội đồng nhân dân cùng cấp chưa có văn bản nào chỉ đạo thực hiện. Một lần nữa, lĩnh vực này bị bỏ ngỏ.

Đến ngày 16/02/2009, khi Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2009/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 8 của Nghị định số 13/2008/NĐ-CP, ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tại Điều 1 quy định: “ Sở Tư pháp tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; thi hành án dân sự; công chứng; chứng thực; nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; trọng tài thương mại; hộ tịch; quốc tịch; lý lịch tư pháp; luật sư; tư vấn pháp luật; trợ giúp pháp lý; giám định tư pháp; hòa giải ở cơ sở; bán đấu giá tài sản và công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, mặc dù nhiều nội dung của việc theo dõi thi hành pháp luật (theo Thông tư số 03/2010/TT-BTP ngày 03/03/2010 về hướng dẫn thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật) có khác hơn so với nội dung thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát (theo Hướng dẫn số 81/KSC ngày 26/10/1992 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật của tổ chức Viện kiểm sát nhân dân) nhưng cũng có nhiều điểm tương đồng. Cho nên, có thể nói, về mặt văn bản quản lý đến đây lỗ hổng pháp luật về thực hiện chức năng của Uỷ ban nhân dân trong việc kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp cơ bản được lấp đầy. Tuy nhiên, Thông tư 03 mới dừng lại ở mức quy định những vấn đề cơ bản của công tác này mà chưa quy định đầy đủ cho một quy trình thực hiện. Từ thực tiễn của tỉnh Sóc Trăng, Sở Tư pháp xin nêu một số vấn đề cần quan tâm hơn trong việc xây dựng thể chế.

2. Những vấn đề cần quan tâm khi xây dựng thể chế thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật

Thứ nhất, bàn về khái niệm theo dõi thi hành pháp luật

Theo Điều 94 và Điều 106 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân nêu trên thì trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là “kiểm tra thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp” và trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp huyện là “kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp…”.

Theo Nghị định số 16/2009/NĐ-CP của Chính phủ thì Sở Tư pháp tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng “... Xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật”. Như vậy, theo Luật thì địa phương thực hiện “kiểm tra thi hành” hoặc “kiểm tra việc chấp hành” mà không phải là “theo dõi thi hành”. Do đó, việc sử dụng khái niệm “theo dõi thi hành…” liệu đã chính xác hay chưa? Việc sử dụng cụm từ “theo dõi thi hành…” sẽ làm giảm đi tính chất quan trọng khi thực hiện chức năng này thay vì sử dụng khái niệm “kiểm tra thi hành” như Điều 94 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và nếu sử dụng khái niệm này thì chưa đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành là Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Nghị định số 16/2009/NĐ-CP của Chính phủ.

Thứ hai, bàn về đối tượng theo dõi thi hành pháp luật

Theo Thông tư số 03 và Nghị định hiện nay không quy định đối tượng của việc theo dõi thi hành pháp luật. Thực tế thời gian qua, khi thực hiện Thông tư số 03 thì tại tỉnh Sóc Trăng, việc xác định đối tượng của việc theo dõi thi hành pháp luật tùy theo từng năm và đưa vào kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh. Ví dụ: Năm 2011, tỉnh Sóc Trăng tổ chức theo dõi 04 lĩnh vực là: Tư pháp, thủ tục hành chính, ưu đãi đầu tư và đất đai. Năm 2012 theo dõi 4 lĩnh vực là: Xử phạt vi phạm hành chính, thủ tục hành chính, giá và phí, lệ phí; chế độ chính sách đối với trẻ em và việc làm. Tuy nhiên, nếu như thời gian tới vẫn thực hiện theo cơ chế này sẽ dẫn đến một số vấn đề sau đây:

Một là, cơ quan thực hiện không có tính độc lập, không chủ động thực hiện, cụ thể:

Khi thực hiện theo kế hoạch nêu trên, Sở Tư pháp sẽ buộc phải phối hợp với các cơ quan có liên quan để thực hiện theo kế hoạch, nếu có vấn đề phát sinh phải trình Ủy ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung kế hoạch mà Ngành Tư pháp không chủ động thực hiện được. Thực tế thì không cơ quan nào mong muốn “tự mình phối hợp với cơ quan khác để theo dõi, kiểm tra hoạt động của ngành mình” nên bước đầu, việc thực hiện kế hoạch đã mang tính hình thức. Thời gian qua, Sở Tư pháp đề nghị thành lập đoàn kiểm tra tình hình thu hồi đất thì Sở Tư pháp phối hợp với Ngành Tài nguyên và Môi trường không mang lại hiệu quả như mong muốn. Việc phối hợp của Sở Tài nguyên và Môi trường có tính hình thức như thông qua việc cử cán bộ tham gia đoàn kiểm tra (vì họ không mong muốn lĩnh vực vốn thuộc quyền quản lý của họ bị người khác kiểm tra) và nơi đến kiểm tra là Uỷ ban nhân dân cấp huyện cũng không hợp tác, việc báo cáo chỉ hình thức, Đoàn kiểm tra yêu cầu cung cấp hồ sơ thu hồi đất… nhưng việc cung cấp cũng chỉ dừng ở mức độ…

Hai là, không quy định đối tượng cụ thể để theo dõi thi hành pháp luật là đồng thời với việc chức năng, nhiệm vụ chưa ổn định, hôm nay thực hiện lĩnh vực này, nhưng ngày mai có thể thực hiện ở lĩnh vực khác và như vậy là chưa phù hợp với tính chất quản lý hành chính nhà nước là có tính ổn định.

Ba là, không quy định đối tượng cụ thể để theo dõi thi hành có nghĩa là chức năng, nhiệm vụ này cũng rất mơ hồ, không rõ ràng. Nếu so sánh với các nghiệp vụ khác của Ngành Tư pháp như: Xây dựng, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, hành chính tư pháp, phổ biến pháp luật, bổ trợ... thì các lĩnh vực đều có đối tượng rõ ràng, có như vậy thì mới biết được ai là người có liên quan để thực hiện. Do đó, khi xây dựng thể chế cần lưu ý vấn đề này.

Thứ ba, về thực hiện nội dung theo dõi thi hành pháp luật

Việc thực hiện nội dung theo dõi thi hành pháp luật theo Thông tư hiện nay có nhiều vấn đề liên quan đến các nghiệp vụ khác của Ngành Tư pháp. Ví dụ: Thực hiện Điều 4 của Thông tư quy định về nội dung đánh giá về tình hình ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành; văn bản chỉ đạo, đôn đốc, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và của cơ quan nhà nước cùng cấp có thẩm quyền: Muốn thực hiện nghiệp vụ này là nắm được các văn bản Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân đã ban hành bao nhiêu văn bản liên quan đến lĩnh vực thì cần phải thực hiện việc thống kê, rà soát văn bản. Và hiện nay, trong trường hợp Sở Tư pháp nào có thành lập Phòng Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thì Phòng này cũng có nhiệm vụ thống kê, rà soát. Như vậy, hai phòng này cũng có chức năng chung và không thể nói phòng này làm nhiệm vụ phòng kia hoặc ngược lại và thực tế tại Sóc Trăng cũng đã có sự vướng mắc này.

Tương tự khi thực hiện Điều 7 của Thông tư nêu nội dung đánh giá về hiệu quả của công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật quy định gồm:

- Mức độ nâng cao nhận thức pháp luật của các cơ quan, tổ chức và công dân sau khi được tuyên truyền, phổ biến.

- Tác động của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến ý thức tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức và công dân.

- Các trường hợp vi phạm pháp luật do không hiểu biết pháp luật.

- Kiến nghị các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật.

Những công việc này hiện nay Sở Tư pháp đã thành lập Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật. Do đó, thời gian qua, khi Phòng Xây dựng và Thi hành pháp luật của Sở Tư pháp Sóc Trăng thực hiện thì có ý kiến cho rằng, một số nhiệm vụ mà phòng thực hiện là công việc của phòng khác. Do đó, kiến nghị khi ban hành các văn bản quy định cần làm rõ các nhiệm vụ này.

Thứ tư, về thực hiện kết quả theo dõi thi hành văn bản quy phạm pháp luật

Hiện nay, theo Thông tư không quy định việc xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật. Thực tế tại tỉnh Sóc Trăng thời gian qua, kết quả theo dõi thi hành pháp luật chỉ dừng lại ở mức độ báo cáo về Ủy ban nhân dân tỉnh, mà không có cơ chế nào để ràng buộc nơi đến kiểm tra phải thực hiện. Do đó, cần quy định về cơ chế xử lý kết quả công tác này với góc độ là “kiểm tra thi hành pháp luật” mà không phải là “theo dõi thi hành pháp luật” như đã nêu trên.

Sở Tư Pháp Sóc Trăng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: