Thứ sáu 05/12/2025 09:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề cần thống nhất khi xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội

Bài viết phân tích các trường hợp xóa án tích khi người bị kết án phạm nhiều tội, trong đó có trường hợp hình phạt chính có thể tổng hợp, trường hợp hình phạt chính không thể tổng hợp hay trường hợp có tội thực hiện thuộc trường hợp có án tích, có tội lại thuộc trường hợp không có án tích. Từ đó có một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội.


1. Các vấn đề cần thống nhất khi xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội trong Bộ luật Hình sự năm 2015

“Án tích là hậu quả của việc bị kết án. Án tích tồn tại trong suốt thời gian người bị kết án chấp hành bản án và trong một khoảng thời gian nhất định sau khi chấp hành xong hình phạt chính”[1]. Vì vậy, xóa án tích là biện pháp có tính khoan hồng khi xóa đi hậu quả pháp lý bất lợi mà người bị kết án phải chịu.

Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015 có nhiều quy định về xóa án tích đối với người bị kết án nhưng lại chưa có các quy định cụ thể trong việc xóa án tích đối với người phạm nhiều tội nên có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau.

“Phạm nhiều tội là trường hợp người đã phạm nhiều tội khác nhau được quy định trong luật hình sự mà những tội này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị kết án lần nào, nay bị Tòa án đưa ra xét xử cùng một lần về các tội phạm đó”[2]. Như vậy, xóa án tích đối với người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội sẽ có các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, người bị kết án phạm nhiều tội trong đó các hình phạt chính cùng loại có thể tổng hợp

Hiện nay, trong Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có quy định nếu trong trường hợp phạm nhiều tội thì việc xóa án tích sẽ tính theo hình phạt chính của từng tội hay tính theo hình phạt chính của các tội sau khi đã tổng hợp. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó”. Như vậy, từ quy định tại Điều 71 Bộ luật Hình sự năm 2015 có thể hiểu trường hợp một người phạm nhiều tội đều thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích sẽ dựa vào hình phạt chính sau khi đã tổng hợp.

Như vậy, việc xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội có các hình phạt chính cùng loại có thể tổng hợp thì việc xóa án tích sẽ được tính dựa vào hình phạt chung. Việc hiểu thống nhất như vậy vừa phù hợp với quy định khác của Bộ luật Hình sự năm 2015 vừa công bằng với những người bị kết án. Vì vậy, để thống nhất trong việc xóa án tích nên có quy định cách tính thời hạn trường hợp phạm nhiều tội đều thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích vào trong Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành.

Thứ hai, người bị kết án phạm nhiều tội trong đó các hình phạt chính khác loại không thể tổng hợp

Theo điểm đ khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt chính khác, các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung”. Trong trường hợp một người phạm nhiều tội trong đó có hình phạt chính thứ nhất là tử hình (đã được giảm án), tù chung thân, tù có thời hạn hay cải tạo không giam giữ cùng với hình phạt chính; thứ hai là phạt tiền thì việc xóa án tích được xác định như thế nào? Hiện nay, trong Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa quy định việc xóa án tích trong trường hợp này. Như vậy, sẽ có hai vấn đề được đặt ra:

(i) Vấn đề thứ nhất, thời hạn xóa án tích sẽ được tính như thế nào? Theo quan điểm của nhóm tác giả, việc không có quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có thể dẫn đến hai cách hiểu sau đây:

- Cách hiểu thứ nhất: Phải dựa vào từng hình loại hình phạt chính để xác định thời hạn xóa án tích. Thời hạn xóa án tích của các tội sẽ được tính song song.

- Cách hiểu thứ hai: Tòa án phải tổng hợp hình phạt chung của nhiều tội, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, căn cứ vào loại và mức hình phạt chính cao nhất để xác định thời hạn xóa án”[3]. Nếu theo cách hiểu này thì thời hạn xóa án tích sẽ được tính theo mức hình phạt chính nặng nhất sau khi đã tổng hợp.

Theo quan điểm của nhóm tác giả việc xóa án tích dựa vào loại và mức hình phạt chung nặng nhất sau khi đã tổng hợp là phù hợp hơn cả vì vừa phù hợp với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội vừa phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về thời hạn xóa án tích khi loại và mức hình phạt nặng hơn thì thời hạn xóa án tích sẽ dài hơn.

(ii) Vấn đề thứ hai, theo khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015, thời điểm bắt đầu tính thời hạn để xóa án tích là khi người phạm tội chấp hành xong hình phạt chính. Vậy, thời điểm bắt đầu tính thời hạn để xóa án tích là khi người phạm tội chấp hành xong mức hình phạt chính nặng nhất hay sau khi chấp hành xong tất cả các hình phạt chính có trong bản án?

Theo quan điểm của nhóm tác giả việc xóa án tích dựa vào mức hình phạt chung nặng nhất sau khi đã tổng hợp là phù hợp nhưng thời điểm để tính thời hạn xóa án tích cho người phạm tội là sau khi chấp hành xong hết tất cả các hình phạt chính có trong bản án, như vậy mới phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Thứ ba, người bị kết án phạm nhiều tội trong đó có tội thuộc trường hợp có án tích, có trường hợp không có án tích

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định thêm các trường hợp không có án tích cho người phạm tội[4] - đây là các quy định rất có lợi cho người bị kết án. Tuy nhiên, từ các quy định đó, có thể dẫn đến tình huống một người phạm nhiều tội, trong đó có tội thuộc trường hợp có án tích, có tội thuộc trường hợp không có án tích nhưng hình phạt chính cùng loại cần tổng hợp để thi hành. Vậy, thời hạn xóa án tích sẽ được tính theo hình phạt chính sau khi đã tổng hợp hay chỉ tính dựa vào hình phạt chính mà người phạm tội bị tuyên có án tích.

Theo quan điểm của nhóm tác giả, việc tính thời hạn xóa án tích sẽ được tính dựa vào loại hình phạt mà tội có án tích (theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội), tuy nhiên, để phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì sau khi người phạm tội chấp hành xong hình phạt chính đã tổng hợp thì mới bắt đầu tính thời hạn để xóa án tích.

Thứ tư, người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội, có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên

Trường hợp 1: Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong đó có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên và đều thuộc trường hợp có án tích.

Như đã phân tích ở trên, theo quan điểm của nhóm tác giả việc xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội sẽ dựa vào hình phạt chung sau khi đã tổng hợp. Như vậy, việc xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm nhiều tội cũng cần phải dựa vào hình phạt chung sau khi đã tổng hợp. Nhưng, thời hạn xóa án tích này sẽ tính theo thời hạn xóa án tích của người dưới 18 tuổi phạm tội hay đủ 18 tuổi trở lên vì nếu tính theo quy định của người dưới 18 tuổi sẽ có lợi cho người phạm tội. Vì vậy, cần sớm bổ sung quy định này vào trong luật để có cơ sở xóa án tích đối với người bị kết án và thống nhất trong thực tiễn áp dụng.

Việc tính thời hạn xóa án tích theo nhóm độ tuổi nào theo tác giả nên dựa vào tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội phản ánh thông qua hình phạt chính được áp dụng, vì vậy, việc so sánh hình phạt chính được Tòa án áp dụng trong từng nhóm độ tuổi sẽ là cơ sở để xác định thời hạn xóa án tích, đây chính là tiêu chí mà Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành sử dụng để tổng hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội hay trường hợp có nhiều bản án đối với người dưới 18 tuổi tại Điều 103, Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 2015[5].

Trường hợp 2: Người dưới 18 tuổi thực hiện tội phạm, trong đó có tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp có án tích và tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thuộc trường hợp không có án tích. Ngược lại, có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có án tích, còn tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp không có án tích. Vậy, việc xác định thời hạn xóa án tích được tính như thế nào?

Theo quan điểm của nhóm tác giả đã phân tích ở trên thì việc xóa án tích sẽ chỉ dựa vào loại và mức hình phạt chính được áp dụng cho tội có án tích. Nếu tội đó thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì thời hạn xóa án tích sẽ được áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015. Còn nếu tội phạm được thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên thì thời hạn xóa án tích sẽ được áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 nếu đó là trường hợp đương nhiên xóa án tích và áp dụng thời hạn xóa án tích theo Điều 71 Bộ luật Hình sự năm 2015 nếu đó là tội phạm thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án.

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội

Một là, cần bổ sung vào Bộ luật Hình sự năm 2015 cách tính thời hạn xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội, cụ thể là bổ sung ba nội dung sau:

(i) Cách tính thời hạn xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội.

(ii) Cách tính thời hạn xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội, trong đó các hình phạt chính không thể tổng hợp.

(iii) Và cách tính thời hạn xóa án tích trong đó có tội thuộc trường hợp có án tích, có tội thuộc trường hợp không có án tích. Cụ thể, bổ sung khoản 3 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

- Trong trường hợp người bị kết án phạm nhiều tội, thời hạn xóa án tích được tính theo hình phạt chung sau khi đã tổng hợp;

- Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này, Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó;

- Trong trường hợp người bị kết án phạm nhiều tội nhưng các hình phạt chính không thể tổng hợp, thời hạn xóa án tích sẽ căn cứ vào loại và mức hình phạt chính cao nhất sau khi đã tổng hợp;

- Trong trường hợp một người bị kết án về nhiều tội, có tội thuộc trường hợp có án tích, có tội thuộc trường hợp không có án tích, thời hạn xóa án tích của người đó chỉ căn cứ vào hình phạt chính mà Tòa án áp dụng đối với tội có án tích. Thời điểm tính thời hạn xóa án tích của người đó là sau khi đã chấp hành xong tất cả các hình phạt chính có trong bản án.

Hai là, bổ sung vào Bộ luật Hình sự năm 2015, cách tính thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi trong đó có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên. Cụ thể, nên bổ sung thêm khoản 3 vào Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015

“…

3. Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội được thực hiện khi đủ 18 tuổi và đều thuộc trường hợp có án tích thì:

a. Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi người đó đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng với mức hình phạt Tòa tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 18 tuổi thì thời hạn xóa án tích sẽ tính theo khoản 1 Điều này;

b. Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì thời hạn xóa án tích được tính theo khoản 2 Điều 70 của Bộ luật này”[6]./.

ThS. Phan Thị Phương Hiền
Khoa Luật hình sự, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
ThS. Trần Ngọc Lan Trang
Khoa Luật hình sự, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung, Nbx Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.410.

[2] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.345.

[3] Nguyễn Thanh Mai, Nhận diện các trường hợp xóa án tích trong công tác quản lý lý lịch tư pháp, Tạp chí Nghề luật số 2/2011, tr.33 - 36.

[4] Xem: Khoản 2 Điều 69 và khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Xem: Phan Thị Phương Hiền, “Hoàn thiện quy định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật Hình sự năm 2015”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề về Công tác tư pháp, tháng 1/2017, tr.28.

[6] Xem: Phan Thị Phương Hiền, “Hoàn thiện quy định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật Hình sự năm 2015”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề về Công tác tư pháp, tháng 1/2017, tr.28.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn các em đang hình thành nhân cách, dễ bồng bột, thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nếu không được định hướng, các em rất dễ sa vào những hành vi vi phạm pháp luật đáng tiếc. Chỉ một phút nóng giận, một quyết định bồng bột… cũng đủ khiến tuổi trẻ phải trả giá bằng cả những tháng ngày sau song sắt. Thế nhưng, trong câu chuyện buồn ấy, vẫn có một điểm sáng nhân văn - đó là bàn tay nâng đỡ của trợ giúp pháp lý miễn phí, để một thiếu niên lầm lỡ có cơ hội sửa sai và làm lại từ đầu.

Theo dõi chúng tôi trên: