Chủ nhật 21/06/2026 08:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề cần thống nhất khi xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội

Bài viết phân tích các trường hợp xóa án tích khi người bị kết án phạm nhiều tội, trong đó có trường hợp hình phạt chính có thể tổng hợp, trường hợp hình phạt chính không thể tổng hợp hay trường hợp có tội thực hiện thuộc trường hợp có án tích, có tội lại thuộc trường hợp không có án tích. Từ đó có một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội.


1. Các vấn đề cần thống nhất khi xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội trong Bộ luật Hình sự năm 2015

“Án tích là hậu quả của việc bị kết án. Án tích tồn tại trong suốt thời gian người bị kết án chấp hành bản án và trong một khoảng thời gian nhất định sau khi chấp hành xong hình phạt chính”[1]. Vì vậy, xóa án tích là biện pháp có tính khoan hồng khi xóa đi hậu quả pháp lý bất lợi mà người bị kết án phải chịu.

Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015 có nhiều quy định về xóa án tích đối với người bị kết án nhưng lại chưa có các quy định cụ thể trong việc xóa án tích đối với người phạm nhiều tội nên có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau.

“Phạm nhiều tội là trường hợp người đã phạm nhiều tội khác nhau được quy định trong luật hình sự mà những tội này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị kết án lần nào, nay bị Tòa án đưa ra xét xử cùng một lần về các tội phạm đó”[2]. Như vậy, xóa án tích đối với người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội sẽ có các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, người bị kết án phạm nhiều tội trong đó các hình phạt chính cùng loại có thể tổng hợp

Hiện nay, trong Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có quy định nếu trong trường hợp phạm nhiều tội thì việc xóa án tích sẽ tính theo hình phạt chính của từng tội hay tính theo hình phạt chính của các tội sau khi đã tổng hợp. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó”. Như vậy, từ quy định tại Điều 71 Bộ luật Hình sự năm 2015 có thể hiểu trường hợp một người phạm nhiều tội đều thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích sẽ dựa vào hình phạt chính sau khi đã tổng hợp.

Như vậy, việc xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội có các hình phạt chính cùng loại có thể tổng hợp thì việc xóa án tích sẽ được tính dựa vào hình phạt chung. Việc hiểu thống nhất như vậy vừa phù hợp với quy định khác của Bộ luật Hình sự năm 2015 vừa công bằng với những người bị kết án. Vì vậy, để thống nhất trong việc xóa án tích nên có quy định cách tính thời hạn trường hợp phạm nhiều tội đều thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích vào trong Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành.

Thứ hai, người bị kết án phạm nhiều tội trong đó các hình phạt chính khác loại không thể tổng hợp

Theo điểm đ khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt chính khác, các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung”. Trong trường hợp một người phạm nhiều tội trong đó có hình phạt chính thứ nhất là tử hình (đã được giảm án), tù chung thân, tù có thời hạn hay cải tạo không giam giữ cùng với hình phạt chính; thứ hai là phạt tiền thì việc xóa án tích được xác định như thế nào? Hiện nay, trong Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa quy định việc xóa án tích trong trường hợp này. Như vậy, sẽ có hai vấn đề được đặt ra:

(i) Vấn đề thứ nhất, thời hạn xóa án tích sẽ được tính như thế nào? Theo quan điểm của nhóm tác giả, việc không có quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có thể dẫn đến hai cách hiểu sau đây:

- Cách hiểu thứ nhất: Phải dựa vào từng hình loại hình phạt chính để xác định thời hạn xóa án tích. Thời hạn xóa án tích của các tội sẽ được tính song song.

- Cách hiểu thứ hai: Tòa án phải tổng hợp hình phạt chung của nhiều tội, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, căn cứ vào loại và mức hình phạt chính cao nhất để xác định thời hạn xóa án”[3]. Nếu theo cách hiểu này thì thời hạn xóa án tích sẽ được tính theo mức hình phạt chính nặng nhất sau khi đã tổng hợp.

Theo quan điểm của nhóm tác giả việc xóa án tích dựa vào loại và mức hình phạt chung nặng nhất sau khi đã tổng hợp là phù hợp hơn cả vì vừa phù hợp với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội vừa phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về thời hạn xóa án tích khi loại và mức hình phạt nặng hơn thì thời hạn xóa án tích sẽ dài hơn.

(ii) Vấn đề thứ hai, theo khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015, thời điểm bắt đầu tính thời hạn để xóa án tích là khi người phạm tội chấp hành xong hình phạt chính. Vậy, thời điểm bắt đầu tính thời hạn để xóa án tích là khi người phạm tội chấp hành xong mức hình phạt chính nặng nhất hay sau khi chấp hành xong tất cả các hình phạt chính có trong bản án?

Theo quan điểm của nhóm tác giả việc xóa án tích dựa vào mức hình phạt chung nặng nhất sau khi đã tổng hợp là phù hợp nhưng thời điểm để tính thời hạn xóa án tích cho người phạm tội là sau khi chấp hành xong hết tất cả các hình phạt chính có trong bản án, như vậy mới phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Thứ ba, người bị kết án phạm nhiều tội trong đó có tội thuộc trường hợp có án tích, có trường hợp không có án tích

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định thêm các trường hợp không có án tích cho người phạm tội[4] - đây là các quy định rất có lợi cho người bị kết án. Tuy nhiên, từ các quy định đó, có thể dẫn đến tình huống một người phạm nhiều tội, trong đó có tội thuộc trường hợp có án tích, có tội thuộc trường hợp không có án tích nhưng hình phạt chính cùng loại cần tổng hợp để thi hành. Vậy, thời hạn xóa án tích sẽ được tính theo hình phạt chính sau khi đã tổng hợp hay chỉ tính dựa vào hình phạt chính mà người phạm tội bị tuyên có án tích.

Theo quan điểm của nhóm tác giả, việc tính thời hạn xóa án tích sẽ được tính dựa vào loại hình phạt mà tội có án tích (theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội), tuy nhiên, để phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì sau khi người phạm tội chấp hành xong hình phạt chính đã tổng hợp thì mới bắt đầu tính thời hạn để xóa án tích.

Thứ tư, người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội, có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên

Trường hợp 1: Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong đó có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên và đều thuộc trường hợp có án tích.

Như đã phân tích ở trên, theo quan điểm của nhóm tác giả việc xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội sẽ dựa vào hình phạt chung sau khi đã tổng hợp. Như vậy, việc xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm nhiều tội cũng cần phải dựa vào hình phạt chung sau khi đã tổng hợp. Nhưng, thời hạn xóa án tích này sẽ tính theo thời hạn xóa án tích của người dưới 18 tuổi phạm tội hay đủ 18 tuổi trở lên vì nếu tính theo quy định của người dưới 18 tuổi sẽ có lợi cho người phạm tội. Vì vậy, cần sớm bổ sung quy định này vào trong luật để có cơ sở xóa án tích đối với người bị kết án và thống nhất trong thực tiễn áp dụng.

Việc tính thời hạn xóa án tích theo nhóm độ tuổi nào theo tác giả nên dựa vào tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội phản ánh thông qua hình phạt chính được áp dụng, vì vậy, việc so sánh hình phạt chính được Tòa án áp dụng trong từng nhóm độ tuổi sẽ là cơ sở để xác định thời hạn xóa án tích, đây chính là tiêu chí mà Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành sử dụng để tổng hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội hay trường hợp có nhiều bản án đối với người dưới 18 tuổi tại Điều 103, Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 2015[5].

Trường hợp 2: Người dưới 18 tuổi thực hiện tội phạm, trong đó có tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp có án tích và tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thuộc trường hợp không có án tích. Ngược lại, có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có án tích, còn tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp không có án tích. Vậy, việc xác định thời hạn xóa án tích được tính như thế nào?

Theo quan điểm của nhóm tác giả đã phân tích ở trên thì việc xóa án tích sẽ chỉ dựa vào loại và mức hình phạt chính được áp dụng cho tội có án tích. Nếu tội đó thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì thời hạn xóa án tích sẽ được áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015. Còn nếu tội phạm được thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên thì thời hạn xóa án tích sẽ được áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 nếu đó là trường hợp đương nhiên xóa án tích và áp dụng thời hạn xóa án tích theo Điều 71 Bộ luật Hình sự năm 2015 nếu đó là tội phạm thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án.

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội

Một là, cần bổ sung vào Bộ luật Hình sự năm 2015 cách tính thời hạn xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội, cụ thể là bổ sung ba nội dung sau:

(i) Cách tính thời hạn xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội.

(ii) Cách tính thời hạn xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội, trong đó các hình phạt chính không thể tổng hợp.

(iii) Và cách tính thời hạn xóa án tích trong đó có tội thuộc trường hợp có án tích, có tội thuộc trường hợp không có án tích. Cụ thể, bổ sung khoản 3 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

- Trong trường hợp người bị kết án phạm nhiều tội, thời hạn xóa án tích được tính theo hình phạt chung sau khi đã tổng hợp;

- Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này, Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó;

- Trong trường hợp người bị kết án phạm nhiều tội nhưng các hình phạt chính không thể tổng hợp, thời hạn xóa án tích sẽ căn cứ vào loại và mức hình phạt chính cao nhất sau khi đã tổng hợp;

- Trong trường hợp một người bị kết án về nhiều tội, có tội thuộc trường hợp có án tích, có tội thuộc trường hợp không có án tích, thời hạn xóa án tích của người đó chỉ căn cứ vào hình phạt chính mà Tòa án áp dụng đối với tội có án tích. Thời điểm tính thời hạn xóa án tích của người đó là sau khi đã chấp hành xong tất cả các hình phạt chính có trong bản án.

Hai là, bổ sung vào Bộ luật Hình sự năm 2015, cách tính thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi trong đó có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên. Cụ thể, nên bổ sung thêm khoản 3 vào Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015

“…

3. Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội được thực hiện khi đủ 18 tuổi và đều thuộc trường hợp có án tích thì:

a. Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi người đó đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng với mức hình phạt Tòa tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 18 tuổi thì thời hạn xóa án tích sẽ tính theo khoản 1 Điều này;

b. Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì thời hạn xóa án tích được tính theo khoản 2 Điều 70 của Bộ luật này”[6]./.

ThS. Phan Thị Phương Hiền
Khoa Luật hình sự, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
ThS. Trần Ngọc Lan Trang
Khoa Luật hình sự, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung, Nbx Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.410.

[2] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.345.

[3] Nguyễn Thanh Mai, Nhận diện các trường hợp xóa án tích trong công tác quản lý lý lịch tư pháp, Tạp chí Nghề luật số 2/2011, tr.33 - 36.

[4] Xem: Khoản 2 Điều 69 và khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Xem: Phan Thị Phương Hiền, “Hoàn thiện quy định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật Hình sự năm 2015”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề về Công tác tư pháp, tháng 1/2017, tr.28.

[6] Xem: Phan Thị Phương Hiền, “Hoàn thiện quy định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật Hình sự năm 2015”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề về Công tác tư pháp, tháng 1/2017, tr.28.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.

Theo dõi chúng tôi trên: