Thứ hai 17/08/2026 08:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề cần thống nhất khi xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội

Bài viết phân tích các trường hợp xóa án tích khi người bị kết án phạm nhiều tội, trong đó có trường hợp hình phạt chính có thể tổng hợp, trường hợp hình phạt chính không thể tổng hợp hay trường hợp có tội thực hiện thuộc trường hợp có án tích, có tội lại thuộc trường hợp không có án tích. Từ đó có một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội.


1. Các vấn đề cần thống nhất khi xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội trong Bộ luật Hình sự năm 2015

“Án tích là hậu quả của việc bị kết án. Án tích tồn tại trong suốt thời gian người bị kết án chấp hành bản án và trong một khoảng thời gian nhất định sau khi chấp hành xong hình phạt chính”[1]. Vì vậy, xóa án tích là biện pháp có tính khoan hồng khi xóa đi hậu quả pháp lý bất lợi mà người bị kết án phải chịu.

Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015 có nhiều quy định về xóa án tích đối với người bị kết án nhưng lại chưa có các quy định cụ thể trong việc xóa án tích đối với người phạm nhiều tội nên có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau.

“Phạm nhiều tội là trường hợp người đã phạm nhiều tội khác nhau được quy định trong luật hình sự mà những tội này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị kết án lần nào, nay bị Tòa án đưa ra xét xử cùng một lần về các tội phạm đó”[2]. Như vậy, xóa án tích đối với người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội sẽ có các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, người bị kết án phạm nhiều tội trong đó các hình phạt chính cùng loại có thể tổng hợp

Hiện nay, trong Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có quy định nếu trong trường hợp phạm nhiều tội thì việc xóa án tích sẽ tính theo hình phạt chính của từng tội hay tính theo hình phạt chính của các tội sau khi đã tổng hợp. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó”. Như vậy, từ quy định tại Điều 71 Bộ luật Hình sự năm 2015 có thể hiểu trường hợp một người phạm nhiều tội đều thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích sẽ dựa vào hình phạt chính sau khi đã tổng hợp.

Như vậy, việc xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội có các hình phạt chính cùng loại có thể tổng hợp thì việc xóa án tích sẽ được tính dựa vào hình phạt chung. Việc hiểu thống nhất như vậy vừa phù hợp với quy định khác của Bộ luật Hình sự năm 2015 vừa công bằng với những người bị kết án. Vì vậy, để thống nhất trong việc xóa án tích nên có quy định cách tính thời hạn trường hợp phạm nhiều tội đều thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích vào trong Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành.

Thứ hai, người bị kết án phạm nhiều tội trong đó các hình phạt chính khác loại không thể tổng hợp

Theo điểm đ khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt chính khác, các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung”. Trong trường hợp một người phạm nhiều tội trong đó có hình phạt chính thứ nhất là tử hình (đã được giảm án), tù chung thân, tù có thời hạn hay cải tạo không giam giữ cùng với hình phạt chính; thứ hai là phạt tiền thì việc xóa án tích được xác định như thế nào? Hiện nay, trong Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa quy định việc xóa án tích trong trường hợp này. Như vậy, sẽ có hai vấn đề được đặt ra:

(i) Vấn đề thứ nhất, thời hạn xóa án tích sẽ được tính như thế nào? Theo quan điểm của nhóm tác giả, việc không có quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có thể dẫn đến hai cách hiểu sau đây:

- Cách hiểu thứ nhất: Phải dựa vào từng hình loại hình phạt chính để xác định thời hạn xóa án tích. Thời hạn xóa án tích của các tội sẽ được tính song song.

- Cách hiểu thứ hai: Tòa án phải tổng hợp hình phạt chung của nhiều tội, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, căn cứ vào loại và mức hình phạt chính cao nhất để xác định thời hạn xóa án”[3]. Nếu theo cách hiểu này thì thời hạn xóa án tích sẽ được tính theo mức hình phạt chính nặng nhất sau khi đã tổng hợp.

Theo quan điểm của nhóm tác giả việc xóa án tích dựa vào loại và mức hình phạt chung nặng nhất sau khi đã tổng hợp là phù hợp hơn cả vì vừa phù hợp với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội vừa phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về thời hạn xóa án tích khi loại và mức hình phạt nặng hơn thì thời hạn xóa án tích sẽ dài hơn.

(ii) Vấn đề thứ hai, theo khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015, thời điểm bắt đầu tính thời hạn để xóa án tích là khi người phạm tội chấp hành xong hình phạt chính. Vậy, thời điểm bắt đầu tính thời hạn để xóa án tích là khi người phạm tội chấp hành xong mức hình phạt chính nặng nhất hay sau khi chấp hành xong tất cả các hình phạt chính có trong bản án?

Theo quan điểm của nhóm tác giả việc xóa án tích dựa vào mức hình phạt chung nặng nhất sau khi đã tổng hợp là phù hợp nhưng thời điểm để tính thời hạn xóa án tích cho người phạm tội là sau khi chấp hành xong hết tất cả các hình phạt chính có trong bản án, như vậy mới phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Thứ ba, người bị kết án phạm nhiều tội trong đó có tội thuộc trường hợp có án tích, có trường hợp không có án tích

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định thêm các trường hợp không có án tích cho người phạm tội[4] - đây là các quy định rất có lợi cho người bị kết án. Tuy nhiên, từ các quy định đó, có thể dẫn đến tình huống một người phạm nhiều tội, trong đó có tội thuộc trường hợp có án tích, có tội thuộc trường hợp không có án tích nhưng hình phạt chính cùng loại cần tổng hợp để thi hành. Vậy, thời hạn xóa án tích sẽ được tính theo hình phạt chính sau khi đã tổng hợp hay chỉ tính dựa vào hình phạt chính mà người phạm tội bị tuyên có án tích.

Theo quan điểm của nhóm tác giả, việc tính thời hạn xóa án tích sẽ được tính dựa vào loại hình phạt mà tội có án tích (theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội), tuy nhiên, để phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì sau khi người phạm tội chấp hành xong hình phạt chính đã tổng hợp thì mới bắt đầu tính thời hạn để xóa án tích.

Thứ tư, người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội, có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên

Trường hợp 1: Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong đó có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên và đều thuộc trường hợp có án tích.

Như đã phân tích ở trên, theo quan điểm của nhóm tác giả việc xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội sẽ dựa vào hình phạt chung sau khi đã tổng hợp. Như vậy, việc xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm nhiều tội cũng cần phải dựa vào hình phạt chung sau khi đã tổng hợp. Nhưng, thời hạn xóa án tích này sẽ tính theo thời hạn xóa án tích của người dưới 18 tuổi phạm tội hay đủ 18 tuổi trở lên vì nếu tính theo quy định của người dưới 18 tuổi sẽ có lợi cho người phạm tội. Vì vậy, cần sớm bổ sung quy định này vào trong luật để có cơ sở xóa án tích đối với người bị kết án và thống nhất trong thực tiễn áp dụng.

Việc tính thời hạn xóa án tích theo nhóm độ tuổi nào theo tác giả nên dựa vào tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội phản ánh thông qua hình phạt chính được áp dụng, vì vậy, việc so sánh hình phạt chính được Tòa án áp dụng trong từng nhóm độ tuổi sẽ là cơ sở để xác định thời hạn xóa án tích, đây chính là tiêu chí mà Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành sử dụng để tổng hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội hay trường hợp có nhiều bản án đối với người dưới 18 tuổi tại Điều 103, Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 2015[5].

Trường hợp 2: Người dưới 18 tuổi thực hiện tội phạm, trong đó có tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp có án tích và tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thuộc trường hợp không có án tích. Ngược lại, có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có án tích, còn tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp không có án tích. Vậy, việc xác định thời hạn xóa án tích được tính như thế nào?

Theo quan điểm của nhóm tác giả đã phân tích ở trên thì việc xóa án tích sẽ chỉ dựa vào loại và mức hình phạt chính được áp dụng cho tội có án tích. Nếu tội đó thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì thời hạn xóa án tích sẽ được áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015. Còn nếu tội phạm được thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên thì thời hạn xóa án tích sẽ được áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 nếu đó là trường hợp đương nhiên xóa án tích và áp dụng thời hạn xóa án tích theo Điều 71 Bộ luật Hình sự năm 2015 nếu đó là tội phạm thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án.

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội

Một là, cần bổ sung vào Bộ luật Hình sự năm 2015 cách tính thời hạn xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội, cụ thể là bổ sung ba nội dung sau:

(i) Cách tính thời hạn xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội.

(ii) Cách tính thời hạn xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội, trong đó các hình phạt chính không thể tổng hợp.

(iii) Và cách tính thời hạn xóa án tích trong đó có tội thuộc trường hợp có án tích, có tội thuộc trường hợp không có án tích. Cụ thể, bổ sung khoản 3 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

- Trong trường hợp người bị kết án phạm nhiều tội, thời hạn xóa án tích được tính theo hình phạt chung sau khi đã tổng hợp;

- Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này, Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó;

- Trong trường hợp người bị kết án phạm nhiều tội nhưng các hình phạt chính không thể tổng hợp, thời hạn xóa án tích sẽ căn cứ vào loại và mức hình phạt chính cao nhất sau khi đã tổng hợp;

- Trong trường hợp một người bị kết án về nhiều tội, có tội thuộc trường hợp có án tích, có tội thuộc trường hợp không có án tích, thời hạn xóa án tích của người đó chỉ căn cứ vào hình phạt chính mà Tòa án áp dụng đối với tội có án tích. Thời điểm tính thời hạn xóa án tích của người đó là sau khi đã chấp hành xong tất cả các hình phạt chính có trong bản án.

Hai là, bổ sung vào Bộ luật Hình sự năm 2015, cách tính thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi trong đó có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên. Cụ thể, nên bổ sung thêm khoản 3 vào Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015

“…

3. Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội được thực hiện khi đủ 18 tuổi và đều thuộc trường hợp có án tích thì:

a. Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi người đó đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng với mức hình phạt Tòa tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 18 tuổi thì thời hạn xóa án tích sẽ tính theo khoản 1 Điều này;

b. Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì thời hạn xóa án tích được tính theo khoản 2 Điều 70 của Bộ luật này”[6]./.

ThS. Phan Thị Phương Hiền
Khoa Luật hình sự, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
ThS. Trần Ngọc Lan Trang
Khoa Luật hình sự, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung, Nbx Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.410.

[2] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.345.

[3] Nguyễn Thanh Mai, Nhận diện các trường hợp xóa án tích trong công tác quản lý lý lịch tư pháp, Tạp chí Nghề luật số 2/2011, tr.33 - 36.

[4] Xem: Khoản 2 Điều 69 và khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Xem: Phan Thị Phương Hiền, “Hoàn thiện quy định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật Hình sự năm 2015”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề về Công tác tư pháp, tháng 1/2017, tr.28.

[6] Xem: Phan Thị Phương Hiền, “Hoàn thiện quy định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật Hình sự năm 2015”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề về Công tác tư pháp, tháng 1/2017, tr.28.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: