Thứ sáu 01/05/2026 04:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề cần thống nhất khi xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội

Bài viết phân tích các trường hợp xóa án tích khi người bị kết án phạm nhiều tội, trong đó có trường hợp hình phạt chính có thể tổng hợp, trường hợp hình phạt chính không thể tổng hợp hay trường hợp có tội thực hiện thuộc trường hợp có án tích, có tội lại thuộc trường hợp không có án tích. Từ đó có một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội.


1. Các vấn đề cần thống nhất khi xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội trong Bộ luật Hình sự năm 2015

“Án tích là hậu quả của việc bị kết án. Án tích tồn tại trong suốt thời gian người bị kết án chấp hành bản án và trong một khoảng thời gian nhất định sau khi chấp hành xong hình phạt chính”[1]. Vì vậy, xóa án tích là biện pháp có tính khoan hồng khi xóa đi hậu quả pháp lý bất lợi mà người bị kết án phải chịu.

Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015 có nhiều quy định về xóa án tích đối với người bị kết án nhưng lại chưa có các quy định cụ thể trong việc xóa án tích đối với người phạm nhiều tội nên có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau.

“Phạm nhiều tội là trường hợp người đã phạm nhiều tội khác nhau được quy định trong luật hình sự mà những tội này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị kết án lần nào, nay bị Tòa án đưa ra xét xử cùng một lần về các tội phạm đó”[2]. Như vậy, xóa án tích đối với người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội sẽ có các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, người bị kết án phạm nhiều tội trong đó các hình phạt chính cùng loại có thể tổng hợp

Hiện nay, trong Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có quy định nếu trong trường hợp phạm nhiều tội thì việc xóa án tích sẽ tính theo hình phạt chính của từng tội hay tính theo hình phạt chính của các tội sau khi đã tổng hợp. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó”. Như vậy, từ quy định tại Điều 71 Bộ luật Hình sự năm 2015 có thể hiểu trường hợp một người phạm nhiều tội đều thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích sẽ dựa vào hình phạt chính sau khi đã tổng hợp.

Như vậy, việc xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội có các hình phạt chính cùng loại có thể tổng hợp thì việc xóa án tích sẽ được tính dựa vào hình phạt chung. Việc hiểu thống nhất như vậy vừa phù hợp với quy định khác của Bộ luật Hình sự năm 2015 vừa công bằng với những người bị kết án. Vì vậy, để thống nhất trong việc xóa án tích nên có quy định cách tính thời hạn trường hợp phạm nhiều tội đều thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích vào trong Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành.

Thứ hai, người bị kết án phạm nhiều tội trong đó các hình phạt chính khác loại không thể tổng hợp

Theo điểm đ khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt chính khác, các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung”. Trong trường hợp một người phạm nhiều tội trong đó có hình phạt chính thứ nhất là tử hình (đã được giảm án), tù chung thân, tù có thời hạn hay cải tạo không giam giữ cùng với hình phạt chính; thứ hai là phạt tiền thì việc xóa án tích được xác định như thế nào? Hiện nay, trong Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa quy định việc xóa án tích trong trường hợp này. Như vậy, sẽ có hai vấn đề được đặt ra:

(i) Vấn đề thứ nhất, thời hạn xóa án tích sẽ được tính như thế nào? Theo quan điểm của nhóm tác giả, việc không có quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có thể dẫn đến hai cách hiểu sau đây:

- Cách hiểu thứ nhất: Phải dựa vào từng hình loại hình phạt chính để xác định thời hạn xóa án tích. Thời hạn xóa án tích của các tội sẽ được tính song song.

- Cách hiểu thứ hai: Tòa án phải tổng hợp hình phạt chung của nhiều tội, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, căn cứ vào loại và mức hình phạt chính cao nhất để xác định thời hạn xóa án”[3]. Nếu theo cách hiểu này thì thời hạn xóa án tích sẽ được tính theo mức hình phạt chính nặng nhất sau khi đã tổng hợp.

Theo quan điểm của nhóm tác giả việc xóa án tích dựa vào loại và mức hình phạt chung nặng nhất sau khi đã tổng hợp là phù hợp hơn cả vì vừa phù hợp với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội vừa phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về thời hạn xóa án tích khi loại và mức hình phạt nặng hơn thì thời hạn xóa án tích sẽ dài hơn.

(ii) Vấn đề thứ hai, theo khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015, thời điểm bắt đầu tính thời hạn để xóa án tích là khi người phạm tội chấp hành xong hình phạt chính. Vậy, thời điểm bắt đầu tính thời hạn để xóa án tích là khi người phạm tội chấp hành xong mức hình phạt chính nặng nhất hay sau khi chấp hành xong tất cả các hình phạt chính có trong bản án?

Theo quan điểm của nhóm tác giả việc xóa án tích dựa vào mức hình phạt chung nặng nhất sau khi đã tổng hợp là phù hợp nhưng thời điểm để tính thời hạn xóa án tích cho người phạm tội là sau khi chấp hành xong hết tất cả các hình phạt chính có trong bản án, như vậy mới phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Thứ ba, người bị kết án phạm nhiều tội trong đó có tội thuộc trường hợp có án tích, có trường hợp không có án tích

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định thêm các trường hợp không có án tích cho người phạm tội[4] - đây là các quy định rất có lợi cho người bị kết án. Tuy nhiên, từ các quy định đó, có thể dẫn đến tình huống một người phạm nhiều tội, trong đó có tội thuộc trường hợp có án tích, có tội thuộc trường hợp không có án tích nhưng hình phạt chính cùng loại cần tổng hợp để thi hành. Vậy, thời hạn xóa án tích sẽ được tính theo hình phạt chính sau khi đã tổng hợp hay chỉ tính dựa vào hình phạt chính mà người phạm tội bị tuyên có án tích.

Theo quan điểm của nhóm tác giả, việc tính thời hạn xóa án tích sẽ được tính dựa vào loại hình phạt mà tội có án tích (theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội), tuy nhiên, để phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì sau khi người phạm tội chấp hành xong hình phạt chính đã tổng hợp thì mới bắt đầu tính thời hạn để xóa án tích.

Thứ tư, người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội, có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên

Trường hợp 1: Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong đó có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên và đều thuộc trường hợp có án tích.

Như đã phân tích ở trên, theo quan điểm của nhóm tác giả việc xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội sẽ dựa vào hình phạt chung sau khi đã tổng hợp. Như vậy, việc xóa án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm nhiều tội cũng cần phải dựa vào hình phạt chung sau khi đã tổng hợp. Nhưng, thời hạn xóa án tích này sẽ tính theo thời hạn xóa án tích của người dưới 18 tuổi phạm tội hay đủ 18 tuổi trở lên vì nếu tính theo quy định của người dưới 18 tuổi sẽ có lợi cho người phạm tội. Vì vậy, cần sớm bổ sung quy định này vào trong luật để có cơ sở xóa án tích đối với người bị kết án và thống nhất trong thực tiễn áp dụng.

Việc tính thời hạn xóa án tích theo nhóm độ tuổi nào theo tác giả nên dựa vào tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội phản ánh thông qua hình phạt chính được áp dụng, vì vậy, việc so sánh hình phạt chính được Tòa án áp dụng trong từng nhóm độ tuổi sẽ là cơ sở để xác định thời hạn xóa án tích, đây chính là tiêu chí mà Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành sử dụng để tổng hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội hay trường hợp có nhiều bản án đối với người dưới 18 tuổi tại Điều 103, Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 2015[5].

Trường hợp 2: Người dưới 18 tuổi thực hiện tội phạm, trong đó có tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp có án tích và tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thuộc trường hợp không có án tích. Ngược lại, có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có án tích, còn tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp không có án tích. Vậy, việc xác định thời hạn xóa án tích được tính như thế nào?

Theo quan điểm của nhóm tác giả đã phân tích ở trên thì việc xóa án tích sẽ chỉ dựa vào loại và mức hình phạt chính được áp dụng cho tội có án tích. Nếu tội đó thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì thời hạn xóa án tích sẽ được áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015. Còn nếu tội phạm được thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên thì thời hạn xóa án tích sẽ được áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 nếu đó là trường hợp đương nhiên xóa án tích và áp dụng thời hạn xóa án tích theo Điều 71 Bộ luật Hình sự năm 2015 nếu đó là tội phạm thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án.

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội

Một là, cần bổ sung vào Bộ luật Hình sự năm 2015 cách tính thời hạn xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội, cụ thể là bổ sung ba nội dung sau:

(i) Cách tính thời hạn xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội.

(ii) Cách tính thời hạn xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội, trong đó các hình phạt chính không thể tổng hợp.

(iii) Và cách tính thời hạn xóa án tích trong đó có tội thuộc trường hợp có án tích, có tội thuộc trường hợp không có án tích. Cụ thể, bổ sung khoản 3 Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

- Trong trường hợp người bị kết án phạm nhiều tội, thời hạn xóa án tích được tính theo hình phạt chung sau khi đã tổng hợp;

- Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này, Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó;

- Trong trường hợp người bị kết án phạm nhiều tội nhưng các hình phạt chính không thể tổng hợp, thời hạn xóa án tích sẽ căn cứ vào loại và mức hình phạt chính cao nhất sau khi đã tổng hợp;

- Trong trường hợp một người bị kết án về nhiều tội, có tội thuộc trường hợp có án tích, có tội thuộc trường hợp không có án tích, thời hạn xóa án tích của người đó chỉ căn cứ vào hình phạt chính mà Tòa án áp dụng đối với tội có án tích. Thời điểm tính thời hạn xóa án tích của người đó là sau khi đã chấp hành xong tất cả các hình phạt chính có trong bản án.

Hai là, bổ sung vào Bộ luật Hình sự năm 2015, cách tính thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi trong đó có tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội thực hiện khi đủ 18 tuổi trở lên. Cụ thể, nên bổ sung thêm khoản 3 vào Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015

“…

3. Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có tội được thực hiện khi đủ 18 tuổi và đều thuộc trường hợp có án tích thì:

a. Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi người đó đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng với mức hình phạt Tòa tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 18 tuổi thì thời hạn xóa án tích sẽ tính theo khoản 1 Điều này;

b. Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội thực hiện khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì thời hạn xóa án tích được tính theo khoản 2 Điều 70 của Bộ luật này”[6]./.

ThS. Phan Thị Phương Hiền
Khoa Luật hình sự, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
ThS. Trần Ngọc Lan Trang
Khoa Luật hình sự, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung, Nbx Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.410.

[2] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.345.

[3] Nguyễn Thanh Mai, Nhận diện các trường hợp xóa án tích trong công tác quản lý lý lịch tư pháp, Tạp chí Nghề luật số 2/2011, tr.33 - 36.

[4] Xem: Khoản 2 Điều 69 và khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Xem: Phan Thị Phương Hiền, “Hoàn thiện quy định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật Hình sự năm 2015”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề về Công tác tư pháp, tháng 1/2017, tr.28.

[6] Xem: Phan Thị Phương Hiền, “Hoàn thiện quy định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật Hình sự năm 2015”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề về Công tác tư pháp, tháng 1/2017, tr.28.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: