Thứ sáu 23/01/2026 12:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề liên quan đến việc phối hợp trong công tác thi hành án dân sự

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác thi hành án dân sự, trong những năm gần đây hệ thống văn bản pháp luật nói chung, văn bản pháp luật thi hành án dân sự nói riêng đã không ngừng được hoàn thiện, cụ thể hoá những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với hoạt động thi hành án dân sự, qui định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm phối hợp của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội trong toàn bộ hệ thống chính trị đối với công tác thi hành án dân sự.

Công tác thi hành án dân sự những năm gần đây đã tạo được sự chuyển biến rõ nét thông qua thành quả giải quyết án hàng năm của từng cơ quan thi hành án dân sự địa phương, khẳng định được vai trò, vị thế của công tác thi hành án dân sự đối với đời sống xã hội, có được kết quả khả quan như vậy nhờ sự nỗ lực thực hiện của toàn thể cán bộ, công chức thi hành án dân sự và sự phối hợp có hiệu quả của nhiều cơ quan, ban ngành đoàn thể. Tuy nhiên, trong thực tiễn công tác thi hành án việc phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức với các hoạt động của chấp hành viên, cơ quan thi hành án vẫn tồn tại những hạn chế, bất cập ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết việc thi hành án của chấp hành viên, cơ quan thi hành án. Dưới đây là một số hạn chế, tồn tại trong thực tiễn của hoạt động thi hành án dân sự.

1. Về công tác giao nhận vật chứng trong thi hành án

Tại hoản 1 Điều 122 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 qui định về việc chuyển giao vật chứng, tài sản tạm giữ cụ thể như sau:

“Vật chứng, tài sản tạm giữ trong bản án, quyết định hình sự do yêu cầu phục vụ việc xét xử mà chưa được chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự trong giai đoạn truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự tại thời điểm Toà án chuyển giao bản án, quyết định”, song vẫn tồn tại có một số việc thi hành án ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, vật chứng là tiền, tài sản. Cơ quan công an không tiến hành chuyển vật chứng, tài sản sang cơ quan thi hành án và có văn bản đề nghị cơ quan tài chính, Ủy ban nhân dân cùng cấp xin giữ lại tài sản nếu được bản án tuyên sung ngân sách nhà nước để phục vụ cho nhiệm vụ công tác của ngành. Mặc dù những trường hợp trên, bản án vẫn tuyên vật chứng, tài sản của vụ án được sung ngân sách Nhà nước, thực tế cơ quan thi hành án dân sự không nhận được vật chứng từ cơ quan công an chuyển sang và cũng không nhận được chứng từ thể hiện việc tài sản đã được sung ngân sách nhà nước, vì vậy, các khoản khác của bản án đã được chấp hành viên, cơ quan thi hành án thực hiện xong, tuy nhiên, việc hoàn tất hồ sơ đưa vào lưu trữ gặp khó khăn bởi hồ sơ thi hành án không có chứng từ thể hiện cơ quan thi hành án đã thực hiện xong phần quyết định của bản án.

2. Trường hợp nội dung bản án tuyên khó thi hành

Có những bản án Tòa tuyên kê biên tài sản là quyền sử dụng đất của đương sự để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án, nhưng nội dung tuyên không rõ vị trí thửa đất, số lô, số thửa và không có trích lục bản đồ địa chính của thửa đất gửi kèm bản án, quyết định để cơ quan thi hành án tổ chức thi hành. Một số địa phương đương sự không có các giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất, các cơ quan quản lý đất đai tại địa phương quản lý lỏng lẻo, thiếu chặt chẽ, do vậy gây nhiều khó khăn đối với hoạt động thi hành án của chấp hành viên, cơ quan thi hành án. Một số việc thi hành án trả lại tài sản cho đương sự. Tại giai đoạn điều tra, xét xử có sai xót trong việc điều tra, xác minh địa chỉ cư trú của đương sự. Trong quá trình tổ chức thi hành án, chấp hành viên tiến hành xác minh địa chỉ, nhân thân của đương sự, trên thực tế không có đối tượng như bản án đã tuyên. Chấp hành viên, cơ quan thi hành án có văn bản đề nghị Tòa án giải thích làm rõ, tốn rất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết án của chấp hành viên. Một số tài sản tuyên trả lại đương sự, nhưng giá trị tài sản quá nhỏ, hoặc không còn giá trị sử dụng, đương sự ở xa chấp hành viên báo gọi nhiều lần, đương sự không đến nhận, chấp hành viên trao trả bằng hình thức chuyển qua bưu điện, nhưng có một số hàng hóa cơ quan này không tiếp nhận làm dịch vụ, vì thế thời gian giải quyết việc thi hành án bị kéo dài. Nếu việc phối hợp giữa Tòa án và cơ quan thi hành án ngay từ giai đoạn xét xử (tại phiên tòa) được thực hiện tốt, những việc thi hành án như vậy sẽ được giải quyết nhanh, gọn và dứt điểm.

3. Vai trò của Viện kiểm sát đối với hoạt động thi hành án dân sự

Viện kiểm sát có nhiệm vụ giám sát, kiểm tra các hoạt động của chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự, yêu cầu chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự, ngược lại cơ quan thi hành án, chấp hành viên phải chịu sự giám sát, kiểm tra của Viện kiểm sát, tuy vậy pháp luật cũng qui định rõ, các hoạt động của chấp hành viên hoàn toàn độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi của mình và chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên trực tiếp, đối với lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ. Thực tiễn đối với công tác thi hành án dân sự, thì hoạt động kiểm tra, giám sát của kiểm sát viên cơ quan viện kiểm sát có lúc, có nơi can thiệp sâu hoặc can thiệp không đúng vào các hoạt động của chấp hành viên, gây ảnh hưởng không tốt đến việc thực hiện nhiệm vụ của chấp hành viên. Với vai trò giám sát, kiểm tra, song trong một số trường hợp, kiểm sát viên cho rằng, mọi hoạt động của chấp hành viên về tác nghiệp thi hành án phải được báo cáo cơ quan kiểm sát để thực hiện việc chỉ đạo thực hiện, như vậy không đúng với tinh thần của pháp luật trong hoạt động kiểm tra, giám sát của Viện kiểm sát đối với hoạt động thi hành án dân sự. Trong trường hợp vật chứng, tài sản được bản án tuyên hóa giá sung ngân sách nhà nước, theo quy định tại Điều 124 Luật Thi hành án dân sự và Điều 18 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP, chấp hành viên tiến hành bàn giao tài sản sung ngân sách nhà nước sang cơ quan tài chính cùng cấp để xử lý theo quy định của pháp luật, cơ quan tài chính chịu trách nhiệm về việc xử lý tài sản, thậm chí phải chịu mọi sự rủi ro về tài sản trong thời gian chậm tiếp nhận kể từ thời điểm cơ quan thi hành án thông báo, ấn định (hợp lệ) việc tiếp nhận vật chứng tài sản. Chấp hành viên, cơ quan thi hành án không còn chịu trách nhiệm trong việc xử lý tài sản, hoặc trong trường hợp tài sản của đương sự đã được kê biên, bàn giao sang trung tâm bán đấu giá để bán đấu giá thực hiện nghĩa vụ thi hành án đối với đương sự. Kiểm sát viên vẫn cho rằng, chấp hành viên phải thông báo để Viện kiểm sát thực hiện việc giám sát hoạt động bán đấu giá.

4. Việc phối hợp với trại giam, Tòa án trong hoạt động thi hành án dân sự đối với người đang thi hành án phạt tù

Để thi hành các khoản án phí, tiền phạt, trả lại tài sản đối với những người đang thi hành án tại trại giam không phải mọi trường hợp chấp hành viên đều gặp thuận lợi, rất nhiều trường hợp phạm nhân phải chấp hành án dài hạn, trong quá trình thụ án tại trại, phạm nhân phải chuyển đi nhiều trại giam khác nhau, để xác minh, giải quyết việc thi hành án đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù cũng gặp nhiều khó khăn, chấp hành viên tiến hành xác minh tại trại giam nơi cải tạo giam giữ ban đầu của phạm nhân, nhưng trại giam không nắm chính xác, cụ thể trại giam nơi phạm nhân hiện đang thụ hình, tình hình nhân thân, tài sản của họ; Theo qui định của pháp luật, Tòa án là cơ quan ra quyết định thi hành án phạt tù, nhưng việc theo dõi tình hình chấp hành án của các đối tượng trên cũng không được thường xuyên, kịp thời, vì thế việc xác minh các thông tin của phạm nhân, nơi trại giam mà phạm nhân đang chấp hành án rất khó được xác định. Theo qui định tại Điều 39 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 về việc thông báo tình hình chấp hành án như sau: “Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm định kỳ 06 tháng một lần thông báo tình hình chấp hành án của phạm nhân cho thân nhân của họ”. Trên thực tế nhiều trường hợp thân nhân của người phạm tội cũng không nhận được các thông báo trên, hoặc họ từ chối cung cấp các thông tin của người phải thi hành án cho các chấp hành viên, do vậy, để giải quyết dứt điểm việc thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù hiện nay, cơ quan thi hành án dân sự đang gặp rất nhiều khó khăn.

5. Trách nhiệm phối hợp của ủy ban nhân dân các cấp, trong công tác thi hành án dân sự

Tại các Điều 173, 174, 175 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã qui định cụ thể về nhiệm vụ quyền hạn của Uỷ ban nhân dân các cấp đối với công tác thi hành án. Vai trò của ủy ban nhân dân các cấp, chính quyền địa phương đối với công tác thi hành án dân sự trong những năm qua vô cùng to lớn, thành quả của công tác thi hành án dân sự có sự góp sức, góp công, phối hợp thực hiện của nhiều ban ngành đoàn thể. Song đối với một vài trường hợp, việc chỉ đạo của chính quyền chưa thực sự quyết liệt, vai trò phối hợp thực hiện công tác thi hành án của các ngành còn xem nhẹ, coi nhiệm vụ thi hành án dân sự là nhiệm vụ chỉ của riêng cơ quan thi hành án, vì thế, hiệu quả hoạt động thi hành án còn hạn chế.

Để giải quyết xong hoàn toàn một việc thi hành án dân sự phức tạp, chấp hành viên phải thực hiện nhiều thủ tục, liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau, từ việc thông báo, tống đạt các giấy tờ, quyết định thi hành án, đến việc xác minh điều kiện nhân thân, tài sản của các đương sự và áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án. Chỉ một trong các khâu phối hợp thực hiện không tốt, sẽ ảnh hướng đến toàn bộ quá trình thi hành án, làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết thi hành án, do vậy, chấp hành viên, cơ quan thi hành án rất cần sự phối hợp có trách nhiệm của các cơ quan hữu quan, các tổ chức đoàn thể trong toàn bộ hệ thống chính trị để công tác thi hành án dân sự đem lại hiệu quả cao hơn nữa, đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ và sự mong đợi của toàn xã hội.

Trần Ngọc Bản

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: