Thứ sáu 10/04/2026 16:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề liên quan đến việc phối hợp trong công tác thi hành án dân sự

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác thi hành án dân sự, trong những năm gần đây hệ thống văn bản pháp luật nói chung, văn bản pháp luật thi hành án dân sự nói riêng đã không ngừng được hoàn thiện, cụ thể hoá những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với hoạt động thi hành án dân sự, qui định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm phối hợp của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội trong toàn bộ hệ thống chính trị đối với công tác thi hành án dân sự.

Công tác thi hành án dân sự những năm gần đây đã tạo được sự chuyển biến rõ nét thông qua thành quả giải quyết án hàng năm của từng cơ quan thi hành án dân sự địa phương, khẳng định được vai trò, vị thế của công tác thi hành án dân sự đối với đời sống xã hội, có được kết quả khả quan như vậy nhờ sự nỗ lực thực hiện của toàn thể cán bộ, công chức thi hành án dân sự và sự phối hợp có hiệu quả của nhiều cơ quan, ban ngành đoàn thể. Tuy nhiên, trong thực tiễn công tác thi hành án việc phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức với các hoạt động của chấp hành viên, cơ quan thi hành án vẫn tồn tại những hạn chế, bất cập ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết việc thi hành án của chấp hành viên, cơ quan thi hành án. Dưới đây là một số hạn chế, tồn tại trong thực tiễn của hoạt động thi hành án dân sự.

1. Về công tác giao nhận vật chứng trong thi hành án

Tại hoản 1 Điều 122 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 qui định về việc chuyển giao vật chứng, tài sản tạm giữ cụ thể như sau:

“Vật chứng, tài sản tạm giữ trong bản án, quyết định hình sự do yêu cầu phục vụ việc xét xử mà chưa được chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự trong giai đoạn truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự tại thời điểm Toà án chuyển giao bản án, quyết định”, song vẫn tồn tại có một số việc thi hành án ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, vật chứng là tiền, tài sản. Cơ quan công an không tiến hành chuyển vật chứng, tài sản sang cơ quan thi hành án và có văn bản đề nghị cơ quan tài chính, Ủy ban nhân dân cùng cấp xin giữ lại tài sản nếu được bản án tuyên sung ngân sách nhà nước để phục vụ cho nhiệm vụ công tác của ngành. Mặc dù những trường hợp trên, bản án vẫn tuyên vật chứng, tài sản của vụ án được sung ngân sách Nhà nước, thực tế cơ quan thi hành án dân sự không nhận được vật chứng từ cơ quan công an chuyển sang và cũng không nhận được chứng từ thể hiện việc tài sản đã được sung ngân sách nhà nước, vì vậy, các khoản khác của bản án đã được chấp hành viên, cơ quan thi hành án thực hiện xong, tuy nhiên, việc hoàn tất hồ sơ đưa vào lưu trữ gặp khó khăn bởi hồ sơ thi hành án không có chứng từ thể hiện cơ quan thi hành án đã thực hiện xong phần quyết định của bản án.

2. Trường hợp nội dung bản án tuyên khó thi hành

Có những bản án Tòa tuyên kê biên tài sản là quyền sử dụng đất của đương sự để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án, nhưng nội dung tuyên không rõ vị trí thửa đất, số lô, số thửa và không có trích lục bản đồ địa chính của thửa đất gửi kèm bản án, quyết định để cơ quan thi hành án tổ chức thi hành. Một số địa phương đương sự không có các giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất, các cơ quan quản lý đất đai tại địa phương quản lý lỏng lẻo, thiếu chặt chẽ, do vậy gây nhiều khó khăn đối với hoạt động thi hành án của chấp hành viên, cơ quan thi hành án. Một số việc thi hành án trả lại tài sản cho đương sự. Tại giai đoạn điều tra, xét xử có sai xót trong việc điều tra, xác minh địa chỉ cư trú của đương sự. Trong quá trình tổ chức thi hành án, chấp hành viên tiến hành xác minh địa chỉ, nhân thân của đương sự, trên thực tế không có đối tượng như bản án đã tuyên. Chấp hành viên, cơ quan thi hành án có văn bản đề nghị Tòa án giải thích làm rõ, tốn rất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết án của chấp hành viên. Một số tài sản tuyên trả lại đương sự, nhưng giá trị tài sản quá nhỏ, hoặc không còn giá trị sử dụng, đương sự ở xa chấp hành viên báo gọi nhiều lần, đương sự không đến nhận, chấp hành viên trao trả bằng hình thức chuyển qua bưu điện, nhưng có một số hàng hóa cơ quan này không tiếp nhận làm dịch vụ, vì thế thời gian giải quyết việc thi hành án bị kéo dài. Nếu việc phối hợp giữa Tòa án và cơ quan thi hành án ngay từ giai đoạn xét xử (tại phiên tòa) được thực hiện tốt, những việc thi hành án như vậy sẽ được giải quyết nhanh, gọn và dứt điểm.

3. Vai trò của Viện kiểm sát đối với hoạt động thi hành án dân sự

Viện kiểm sát có nhiệm vụ giám sát, kiểm tra các hoạt động của chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự, yêu cầu chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự, ngược lại cơ quan thi hành án, chấp hành viên phải chịu sự giám sát, kiểm tra của Viện kiểm sát, tuy vậy pháp luật cũng qui định rõ, các hoạt động của chấp hành viên hoàn toàn độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi của mình và chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên trực tiếp, đối với lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ. Thực tiễn đối với công tác thi hành án dân sự, thì hoạt động kiểm tra, giám sát của kiểm sát viên cơ quan viện kiểm sát có lúc, có nơi can thiệp sâu hoặc can thiệp không đúng vào các hoạt động của chấp hành viên, gây ảnh hưởng không tốt đến việc thực hiện nhiệm vụ của chấp hành viên. Với vai trò giám sát, kiểm tra, song trong một số trường hợp, kiểm sát viên cho rằng, mọi hoạt động của chấp hành viên về tác nghiệp thi hành án phải được báo cáo cơ quan kiểm sát để thực hiện việc chỉ đạo thực hiện, như vậy không đúng với tinh thần của pháp luật trong hoạt động kiểm tra, giám sát của Viện kiểm sát đối với hoạt động thi hành án dân sự. Trong trường hợp vật chứng, tài sản được bản án tuyên hóa giá sung ngân sách nhà nước, theo quy định tại Điều 124 Luật Thi hành án dân sự và Điều 18 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP, chấp hành viên tiến hành bàn giao tài sản sung ngân sách nhà nước sang cơ quan tài chính cùng cấp để xử lý theo quy định của pháp luật, cơ quan tài chính chịu trách nhiệm về việc xử lý tài sản, thậm chí phải chịu mọi sự rủi ro về tài sản trong thời gian chậm tiếp nhận kể từ thời điểm cơ quan thi hành án thông báo, ấn định (hợp lệ) việc tiếp nhận vật chứng tài sản. Chấp hành viên, cơ quan thi hành án không còn chịu trách nhiệm trong việc xử lý tài sản, hoặc trong trường hợp tài sản của đương sự đã được kê biên, bàn giao sang trung tâm bán đấu giá để bán đấu giá thực hiện nghĩa vụ thi hành án đối với đương sự. Kiểm sát viên vẫn cho rằng, chấp hành viên phải thông báo để Viện kiểm sát thực hiện việc giám sát hoạt động bán đấu giá.

4. Việc phối hợp với trại giam, Tòa án trong hoạt động thi hành án dân sự đối với người đang thi hành án phạt tù

Để thi hành các khoản án phí, tiền phạt, trả lại tài sản đối với những người đang thi hành án tại trại giam không phải mọi trường hợp chấp hành viên đều gặp thuận lợi, rất nhiều trường hợp phạm nhân phải chấp hành án dài hạn, trong quá trình thụ án tại trại, phạm nhân phải chuyển đi nhiều trại giam khác nhau, để xác minh, giải quyết việc thi hành án đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù cũng gặp nhiều khó khăn, chấp hành viên tiến hành xác minh tại trại giam nơi cải tạo giam giữ ban đầu của phạm nhân, nhưng trại giam không nắm chính xác, cụ thể trại giam nơi phạm nhân hiện đang thụ hình, tình hình nhân thân, tài sản của họ; Theo qui định của pháp luật, Tòa án là cơ quan ra quyết định thi hành án phạt tù, nhưng việc theo dõi tình hình chấp hành án của các đối tượng trên cũng không được thường xuyên, kịp thời, vì thế việc xác minh các thông tin của phạm nhân, nơi trại giam mà phạm nhân đang chấp hành án rất khó được xác định. Theo qui định tại Điều 39 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 về việc thông báo tình hình chấp hành án như sau: “Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm định kỳ 06 tháng một lần thông báo tình hình chấp hành án của phạm nhân cho thân nhân của họ”. Trên thực tế nhiều trường hợp thân nhân của người phạm tội cũng không nhận được các thông báo trên, hoặc họ từ chối cung cấp các thông tin của người phải thi hành án cho các chấp hành viên, do vậy, để giải quyết dứt điểm việc thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù hiện nay, cơ quan thi hành án dân sự đang gặp rất nhiều khó khăn.

5. Trách nhiệm phối hợp của ủy ban nhân dân các cấp, trong công tác thi hành án dân sự

Tại các Điều 173, 174, 175 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã qui định cụ thể về nhiệm vụ quyền hạn của Uỷ ban nhân dân các cấp đối với công tác thi hành án. Vai trò của ủy ban nhân dân các cấp, chính quyền địa phương đối với công tác thi hành án dân sự trong những năm qua vô cùng to lớn, thành quả của công tác thi hành án dân sự có sự góp sức, góp công, phối hợp thực hiện của nhiều ban ngành đoàn thể. Song đối với một vài trường hợp, việc chỉ đạo của chính quyền chưa thực sự quyết liệt, vai trò phối hợp thực hiện công tác thi hành án của các ngành còn xem nhẹ, coi nhiệm vụ thi hành án dân sự là nhiệm vụ chỉ của riêng cơ quan thi hành án, vì thế, hiệu quả hoạt động thi hành án còn hạn chế.

Để giải quyết xong hoàn toàn một việc thi hành án dân sự phức tạp, chấp hành viên phải thực hiện nhiều thủ tục, liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau, từ việc thông báo, tống đạt các giấy tờ, quyết định thi hành án, đến việc xác minh điều kiện nhân thân, tài sản của các đương sự và áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án. Chỉ một trong các khâu phối hợp thực hiện không tốt, sẽ ảnh hướng đến toàn bộ quá trình thi hành án, làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết thi hành án, do vậy, chấp hành viên, cơ quan thi hành án rất cần sự phối hợp có trách nhiệm của các cơ quan hữu quan, các tổ chức đoàn thể trong toàn bộ hệ thống chính trị để công tác thi hành án dân sự đem lại hiệu quả cao hơn nữa, đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ và sự mong đợi của toàn xã hội.

Trần Ngọc Bản

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: