Thứ ba 25/08/2026 16:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề liên quan đến việc phối hợp trong công tác thi hành án dân sự

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác thi hành án dân sự, trong những năm gần đây hệ thống văn bản pháp luật nói chung, văn bản pháp luật thi hành án dân sự nói riêng đã không ngừng được hoàn thiện, cụ thể hoá những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với hoạt động thi hành án dân sự, qui định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm phối hợp của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội trong toàn bộ hệ thống chính trị đối với công tác thi hành án dân sự.

Công tác thi hành án dân sự những năm gần đây đã tạo được sự chuyển biến rõ nét thông qua thành quả giải quyết án hàng năm của từng cơ quan thi hành án dân sự địa phương, khẳng định được vai trò, vị thế của công tác thi hành án dân sự đối với đời sống xã hội, có được kết quả khả quan như vậy nhờ sự nỗ lực thực hiện của toàn thể cán bộ, công chức thi hành án dân sự và sự phối hợp có hiệu quả của nhiều cơ quan, ban ngành đoàn thể. Tuy nhiên, trong thực tiễn công tác thi hành án việc phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức với các hoạt động của chấp hành viên, cơ quan thi hành án vẫn tồn tại những hạn chế, bất cập ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết việc thi hành án của chấp hành viên, cơ quan thi hành án. Dưới đây là một số hạn chế, tồn tại trong thực tiễn của hoạt động thi hành án dân sự.

1. Về công tác giao nhận vật chứng trong thi hành án

Tại hoản 1 Điều 122 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 qui định về việc chuyển giao vật chứng, tài sản tạm giữ cụ thể như sau:

“Vật chứng, tài sản tạm giữ trong bản án, quyết định hình sự do yêu cầu phục vụ việc xét xử mà chưa được chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự trong giai đoạn truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự tại thời điểm Toà án chuyển giao bản án, quyết định”, song vẫn tồn tại có một số việc thi hành án ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, vật chứng là tiền, tài sản. Cơ quan công an không tiến hành chuyển vật chứng, tài sản sang cơ quan thi hành án và có văn bản đề nghị cơ quan tài chính, Ủy ban nhân dân cùng cấp xin giữ lại tài sản nếu được bản án tuyên sung ngân sách nhà nước để phục vụ cho nhiệm vụ công tác của ngành. Mặc dù những trường hợp trên, bản án vẫn tuyên vật chứng, tài sản của vụ án được sung ngân sách Nhà nước, thực tế cơ quan thi hành án dân sự không nhận được vật chứng từ cơ quan công an chuyển sang và cũng không nhận được chứng từ thể hiện việc tài sản đã được sung ngân sách nhà nước, vì vậy, các khoản khác của bản án đã được chấp hành viên, cơ quan thi hành án thực hiện xong, tuy nhiên, việc hoàn tất hồ sơ đưa vào lưu trữ gặp khó khăn bởi hồ sơ thi hành án không có chứng từ thể hiện cơ quan thi hành án đã thực hiện xong phần quyết định của bản án.

2. Trường hợp nội dung bản án tuyên khó thi hành

Có những bản án Tòa tuyên kê biên tài sản là quyền sử dụng đất của đương sự để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án, nhưng nội dung tuyên không rõ vị trí thửa đất, số lô, số thửa và không có trích lục bản đồ địa chính của thửa đất gửi kèm bản án, quyết định để cơ quan thi hành án tổ chức thi hành. Một số địa phương đương sự không có các giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất, các cơ quan quản lý đất đai tại địa phương quản lý lỏng lẻo, thiếu chặt chẽ, do vậy gây nhiều khó khăn đối với hoạt động thi hành án của chấp hành viên, cơ quan thi hành án. Một số việc thi hành án trả lại tài sản cho đương sự. Tại giai đoạn điều tra, xét xử có sai xót trong việc điều tra, xác minh địa chỉ cư trú của đương sự. Trong quá trình tổ chức thi hành án, chấp hành viên tiến hành xác minh địa chỉ, nhân thân của đương sự, trên thực tế không có đối tượng như bản án đã tuyên. Chấp hành viên, cơ quan thi hành án có văn bản đề nghị Tòa án giải thích làm rõ, tốn rất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết án của chấp hành viên. Một số tài sản tuyên trả lại đương sự, nhưng giá trị tài sản quá nhỏ, hoặc không còn giá trị sử dụng, đương sự ở xa chấp hành viên báo gọi nhiều lần, đương sự không đến nhận, chấp hành viên trao trả bằng hình thức chuyển qua bưu điện, nhưng có một số hàng hóa cơ quan này không tiếp nhận làm dịch vụ, vì thế thời gian giải quyết việc thi hành án bị kéo dài. Nếu việc phối hợp giữa Tòa án và cơ quan thi hành án ngay từ giai đoạn xét xử (tại phiên tòa) được thực hiện tốt, những việc thi hành án như vậy sẽ được giải quyết nhanh, gọn và dứt điểm.

3. Vai trò của Viện kiểm sát đối với hoạt động thi hành án dân sự

Viện kiểm sát có nhiệm vụ giám sát, kiểm tra các hoạt động của chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự, yêu cầu chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự, ngược lại cơ quan thi hành án, chấp hành viên phải chịu sự giám sát, kiểm tra của Viện kiểm sát, tuy vậy pháp luật cũng qui định rõ, các hoạt động của chấp hành viên hoàn toàn độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi của mình và chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên trực tiếp, đối với lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ. Thực tiễn đối với công tác thi hành án dân sự, thì hoạt động kiểm tra, giám sát của kiểm sát viên cơ quan viện kiểm sát có lúc, có nơi can thiệp sâu hoặc can thiệp không đúng vào các hoạt động của chấp hành viên, gây ảnh hưởng không tốt đến việc thực hiện nhiệm vụ của chấp hành viên. Với vai trò giám sát, kiểm tra, song trong một số trường hợp, kiểm sát viên cho rằng, mọi hoạt động của chấp hành viên về tác nghiệp thi hành án phải được báo cáo cơ quan kiểm sát để thực hiện việc chỉ đạo thực hiện, như vậy không đúng với tinh thần của pháp luật trong hoạt động kiểm tra, giám sát của Viện kiểm sát đối với hoạt động thi hành án dân sự. Trong trường hợp vật chứng, tài sản được bản án tuyên hóa giá sung ngân sách nhà nước, theo quy định tại Điều 124 Luật Thi hành án dân sự và Điều 18 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP, chấp hành viên tiến hành bàn giao tài sản sung ngân sách nhà nước sang cơ quan tài chính cùng cấp để xử lý theo quy định của pháp luật, cơ quan tài chính chịu trách nhiệm về việc xử lý tài sản, thậm chí phải chịu mọi sự rủi ro về tài sản trong thời gian chậm tiếp nhận kể từ thời điểm cơ quan thi hành án thông báo, ấn định (hợp lệ) việc tiếp nhận vật chứng tài sản. Chấp hành viên, cơ quan thi hành án không còn chịu trách nhiệm trong việc xử lý tài sản, hoặc trong trường hợp tài sản của đương sự đã được kê biên, bàn giao sang trung tâm bán đấu giá để bán đấu giá thực hiện nghĩa vụ thi hành án đối với đương sự. Kiểm sát viên vẫn cho rằng, chấp hành viên phải thông báo để Viện kiểm sát thực hiện việc giám sát hoạt động bán đấu giá.

4. Việc phối hợp với trại giam, Tòa án trong hoạt động thi hành án dân sự đối với người đang thi hành án phạt tù

Để thi hành các khoản án phí, tiền phạt, trả lại tài sản đối với những người đang thi hành án tại trại giam không phải mọi trường hợp chấp hành viên đều gặp thuận lợi, rất nhiều trường hợp phạm nhân phải chấp hành án dài hạn, trong quá trình thụ án tại trại, phạm nhân phải chuyển đi nhiều trại giam khác nhau, để xác minh, giải quyết việc thi hành án đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù cũng gặp nhiều khó khăn, chấp hành viên tiến hành xác minh tại trại giam nơi cải tạo giam giữ ban đầu của phạm nhân, nhưng trại giam không nắm chính xác, cụ thể trại giam nơi phạm nhân hiện đang thụ hình, tình hình nhân thân, tài sản của họ; Theo qui định của pháp luật, Tòa án là cơ quan ra quyết định thi hành án phạt tù, nhưng việc theo dõi tình hình chấp hành án của các đối tượng trên cũng không được thường xuyên, kịp thời, vì thế việc xác minh các thông tin của phạm nhân, nơi trại giam mà phạm nhân đang chấp hành án rất khó được xác định. Theo qui định tại Điều 39 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 về việc thông báo tình hình chấp hành án như sau: “Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm định kỳ 06 tháng một lần thông báo tình hình chấp hành án của phạm nhân cho thân nhân của họ”. Trên thực tế nhiều trường hợp thân nhân của người phạm tội cũng không nhận được các thông báo trên, hoặc họ từ chối cung cấp các thông tin của người phải thi hành án cho các chấp hành viên, do vậy, để giải quyết dứt điểm việc thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù hiện nay, cơ quan thi hành án dân sự đang gặp rất nhiều khó khăn.

5. Trách nhiệm phối hợp của ủy ban nhân dân các cấp, trong công tác thi hành án dân sự

Tại các Điều 173, 174, 175 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã qui định cụ thể về nhiệm vụ quyền hạn của Uỷ ban nhân dân các cấp đối với công tác thi hành án. Vai trò của ủy ban nhân dân các cấp, chính quyền địa phương đối với công tác thi hành án dân sự trong những năm qua vô cùng to lớn, thành quả của công tác thi hành án dân sự có sự góp sức, góp công, phối hợp thực hiện của nhiều ban ngành đoàn thể. Song đối với một vài trường hợp, việc chỉ đạo của chính quyền chưa thực sự quyết liệt, vai trò phối hợp thực hiện công tác thi hành án của các ngành còn xem nhẹ, coi nhiệm vụ thi hành án dân sự là nhiệm vụ chỉ của riêng cơ quan thi hành án, vì thế, hiệu quả hoạt động thi hành án còn hạn chế.

Để giải quyết xong hoàn toàn một việc thi hành án dân sự phức tạp, chấp hành viên phải thực hiện nhiều thủ tục, liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau, từ việc thông báo, tống đạt các giấy tờ, quyết định thi hành án, đến việc xác minh điều kiện nhân thân, tài sản của các đương sự và áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án. Chỉ một trong các khâu phối hợp thực hiện không tốt, sẽ ảnh hướng đến toàn bộ quá trình thi hành án, làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết thi hành án, do vậy, chấp hành viên, cơ quan thi hành án rất cần sự phối hợp có trách nhiệm của các cơ quan hữu quan, các tổ chức đoàn thể trong toàn bộ hệ thống chính trị để công tác thi hành án dân sự đem lại hiệu quả cao hơn nữa, đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ và sự mong đợi của toàn xã hội.

Trần Ngọc Bản

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: