Thứ năm 20/08/2026 03:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề lý luận về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử

Tóm tắt: Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử. Qua đó, giúp các nhà hoạch định chính sách có những căn cứ lý luận để thiết kế các chính sách về nhãn hiệu phù hợp, gắn liền bản chất đặc thù của thương mại điện tử.

Tóm tắt: Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử. Qua đó, giúp các nhà hoạch định chính sách có những căn cứ lý luận để thiết kế các chính sách về nhãn hiệu phù hợp, gắn liền bản chất đặc thù của thương mại điện tử.

Abstract: This article analyzes some theoretical issues on the protection of industrial property rights of brand in e-commerce. Thereby, helping policymakers have theoretical bases to design appropriate brand policies, associated with the specific nature of e-commerce.

1. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), thì nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh khác[1]. Có thể nói, nhãn hiệu chính là giải pháp giúp người tiêu dùng nhận diện được chính sản phẩm, hàng hóa của nhà sản xuất.

Ở Việt Nam, theo khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 - sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau đây gọi là Luật Sở hữu trí tuệ), thì nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện như: (i) Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; (ii) Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác (Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ).

1.1. Khái niệm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Có ba cơ sở triết học về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) thường được nhắc đến là quan điểm về quyền tự nhiên (của John Locke), quyền tự do sáng tạo (của Emmanual Kant và George Hegel) và quan điểm vị lợi coi quyền SHTT là phương tiện (utilitarianism của Jeremy Bentham). Quan điểm vị lợi hay còn gọi là chủ nghĩa công lợi, chủ nghĩa này cho rằng hành động tốt nhất là hành động đạt được một cách cao nhất những gì được cho là hữu ích. Gắn với quyền SHTT, quan điểm vị lợi cho rằng quyền SHTT là phương tiện giúp cân bằng một mặt là nhu cầu sáng tạo cá nhân, mặt khác là nhu cầu phổ biến thông tin và tiếp cận thông tin. Quan điểm này hiện nay đang được sử dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới trong việc xây dựng pháp luật về sở hữu trí tuệ (Mỹ, Anh, Pháp...) và ở cả Việt Nam, khi xây dựng chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy sự tiến bộ khoa học công nghệ, đảm bảo hài hòa lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng. Cách tiếp cận này được tác giả cho là hợp lý, khi xem xét việc bảo hộ quyền SHTT cần nhìn trong tổng thể mối quan hệ lợi ích của chủ thể quyền sở hữu với lợi ích của toàn xã hội. Như vậy, dưới góc độ triết học, việc bảo hộ quyền SHTT nói chung, quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) đối với nhãn hiệu nói riêng, là bảo hộ thành quả sự đầu tư (trí tuệ, của cải, công sức...) của các chủ thể quyền sở hữu đối với nhãn hiệu để tạo nên sự nhận diện cho chính sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất.

Dưới góc độ kinh tế học, bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu giải quyết vấn đề mất cân bằng thông tin giữa người mua - người bán, bảo vệ lợi ích của chủ thể sản xuất kinh doanh và đảm bảo cho người bán yên tâm đầu tư vào chất lượng và danh tiếng sản phẩm.

Hiện nay, khi nghiên cứu về bảo hộ nhãn hiệu có thể được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu bao gồm ba nội dung: (i) Trình tự và thủ tục xác lập quyền; (ii) Nội dung quyền của chủ sở hữu; (iii) Đề cập đến việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến việc bảo hộ nhãn hiệu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm những vấn đề liên quan đến trình tự và thủ tục xác lập quyền và nội dung quyền của chủ sở hữu. Vấn đề về xử lý các hành vi xâm phạm quyền, nằm trong nội dung của bảo vệ quyền SHCN đối với nhãn hiệu.

1.2. Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Quyền sở hữu đem lại cho chủ sở hữu ba quyền năng: Chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Quyền SHTT nói chung, quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng là quyền đối với đối tượng vô hình, nên quyền năng chiếm hữu về mặt vật chất sẽ không thể có được. Quyền năng định đoạt phụ thuộc khá nhiều vào quyền năng sử dụng, có thể sử dụng nên có thể định đoạt, sử dụng thế nào thì việc định đoạt thường sẽ tương ứng. Điều này cho thấy, phân tích quyền năng sử dụng đối với quyền SHTT nói chung, quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng cho phép hiểu đầy đủ và toàn diện nhất về bản chất sở hữu của quyền SHTT[2]. Như vậy, nội dung của quyền SHTT nói chung, quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng bao gồm quyền năng sử dụng (thông qua các độc quyền sử dụng) và quyền định đoạt.

Thứ nhất, về quyền sử dụng nhãn hiệu: Đây được xem là một trong những quyền năng quan trọng nhất của chủ sở hữu nhãn hiệu. Bên cạnh đó, chủ sở hữu còn có quyền chuyển quyền sử dụng đối với nhãn hiệu. Điều này được hiểu rằng, trong thời gian bảo hộ, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cho người khác. Chủ sở hữu có độc quyền sử dụng nhãn hiệu, đồng nghĩa với việc họ có quyền cấm người khác sử dụng nhãn hiệu.

Thứ hai, về quyền định đoạt nhãn hiệu: Chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền định đoạt đối với nhãn hiệu. Theo nội dung này, định đoạt quyền SHCN đối với nhãn hiệu được hiểu là việc dịch chuyển quyền SHCN từ một (hoặc nhiều) chủ thể này sang một (hoặc nhiều) chủ thể khác hoặc làm mất đi quyền SHCN đối với nhãn hiệu đang được bảo hộ của chủ sở hữu nhãn hiệu. Bên cạnh đó, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền thế chấp, sử dụng quyền SHCN đối với nhãn hiệu để góp vốn kinh doanh, thành lập doanh nghiệp.

2. Mối quan hệ giữa bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và thương mại điện tử

Hiện nay, sự phát triển của thương mại điện tử (TMĐT) sẽ góp phần đẩy nhanh vấn đề nhận diện nhãn hiệu của các doanh nghiệp khắp mọi nơi trên thế giới. Do vậy, để tận dụng tối ưu các giải pháp hữu ích của internet, các doanh nghiệp đã đưa vào các website - bộ mặt của công ty trên nền internet những dữ liệu động, hỗ trợ các giao dịch giữa người mua và người bán với mục đích cuối cùng là tối ưu hóa lợi nhuận tốt nhất. Chính điều này đã đặt ra vấn đề mới, cơ hội mới cho doanh nghiệp trong việc quảng bá hình ảnh, thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ của mình một cách tốt nhất. Tuy nhiên, trong TMĐT, do người tiêu dùng cách xa về mặt địa lý, không gian so với nhà cung cấp sản phẩm hàng hóa, nên việc in dấu một nhãn hiệu đã được biết đến trong trí nhớ người tiêu dùng là điều rất quan trọng. Với khoảng cách đó, khách hàng dường như không có cơ hội thiết lập tiếp xúc cá nhân với người bán và sản phẩm hoặc xem xét kỹ càng sản phẩm và dịch vụ trước khi mua chúng. Cho nên, việc lựa chọn sản phẩm dựa trên các nhãn hiệu có uy tín, hay đã được biết đến, dường như là một trong những yếu tố tiên quyết ảnh hưởng đến việc ra quyết định mua hàng của người tiêu dùng. Hiện nay, khách hàng thông thường có xu hướng trung thành với sản phẩm, hàng hóa gắn liền nhãn hiệu mình thường hay sử dụng (sự trung thành thương hiệu), thậm chí còn truyền miệng về sản phẩm nhãn hiệu đó. Như vậy, với sự phát triển của TMĐT gắn liền với các mô hình kinh doanh ngày một sáng tạo, đồng nghĩa với việc ngày càng ghi dấu sự hiện diện của nhãn hiệu với vai trò chỉ dẫn thương mại, hướng dẫn người tiêu dùng đến nơi xuất xứ, cung cấp hàng hóa sản phẩm đó. Điều này cho phép đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến việc bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong TMĐT, một mặt vừa khuyến khích và bảo đảm cạnh tranh công bằng giữa các nhà sản xuất, bảo vệ người tiêu dùng, mặt khác phải tính đến sự phát triển của TMĐT.

Bản chất của giải pháp quyền SHTT nói chung và quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng là tạo ra khả năng kiểm soát theo luật định đối với việc phổ biến thông tin thông qua việc cấp các độc quyền pháp lý có giới hạn. Hệ thống quyền SHTT là phương tiện giúp cân bằng giữa một mặt là nhu cầu sáng chế và sáng tạo, mặt khác là nhu cầu phổ biến và tiếp cận thông tin. Với chức năng xác định nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo chất lượng, hệ thống nhãn hiệu là hình ảnh không thể thiếu trong quảng cáo truyền thông của doanh nghiệp. Trong khi đó, quyền SHTT liên quan đến chỉ dẫn thương mại như nhãn hiệu được phát triển với tư cách một giải pháp cho thất bại thị trường do thông tin bất cân xứng, vì thế có thể đồng tồn tại cùng cạnh tranh lành mạnh. Áp dụng các lý thuyết này trong môi trường TMĐT, tác giả cũng sử dụng cách tiếp cận “trung dung” được ủng hộ bởi một lượng lớn các học giả cho rằng, trong môi trường kỹ thuật số, gắn với các hoạt động kinh doanh thương mại trực tuyến, bản chất và các nguyên lý của hệ thống SHTT vẫn không thay đổi nhưng cần có những điều chỉnh hợp lý để hệ thống này tận dụng được những cơ hội và đối phó được những thách thức mới mà công nghệ đem lại và các điều chỉnh này phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia.

Việc các chủ thể của hoạt động TMĐT hiểu rõ và có trách nhiệm với việc bảo vệ quyền SHTT nói chung, quyền SHCN của chủ sở hữu nhãn hiệu nói riêng, góp phần không chỉ tạo niềm tin cho người tiêu dùng với sản phẩm hàng hóa dịch vụ, mà tạo niềm tin cho chính hoạt động mua bán cung ứng hàng hóa, dịch vụ qua TMĐT. Qua đó, góp phần làm thúc đẩy sự phát triển của TMĐT, thúc đẩy sự sáng tạo các mô hình kinh doanh áp dụng công nghệ mới, nhất là trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0, với xu hướng internet kết nối vạn vật. Thực tế hiện nay, rất nhiều người tiêu dùng mua phải hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng thông qua các website của TMĐT. Do vậy, nếu chính các chủ thể cung cấp môi trường cho hoạt động TMĐT nói trên tuân thủ các chính sách về bảo vệ quyền SHTT, SHCN đối với nhãn hiệu của các chủ sở hữu, hợp tác với các chủ thể quyền trong việc loại bỏ việc xâm phạm nhãn hiệu hoặc Nhà nước có những biện pháp ngăn chặn và đẩy lùi các hành vi xâm phạm trên, thì sẽ thúc đẩy sự phát triển TMĐT một cách nhanh chóng.

Nói tóm lại, sự phát triển của TMĐT sẽ làm ảnh hưởng đến việc phát triển, mở rộng khả năng nhận diện nhãn hiệu của doanh nghiệp, nhà sản xuất. Ngược lại, bảo vệ quyền SHCN đối với nhãn hiệu được thực hiện tốt trong TMĐT, thì lợi ích của chủ sở hữu được bảo vệ, niềm tin cho khách hàng, người tiêu dùng đối với doanh nghiệp, niềm tin của khách hàng đối với hoạt động TMĐT được tăng cao và thúc đẩy sự phát triển của TMĐT. Tuy nhiên, để phát triển hài hòa cả TMĐT và bảo vệ quyền SHCN đối với nhãn hiệu, cần tính đến việc đảm bảo sự cân bằng lợi ích cho cả hai vấn đề nói trên. Việc mở rộng và bảo vệ thái quá vấn đề nào cũng làm ảnh hưởng ngược lại đến sự tồn tại và phát triển của yếu tố còn lại. Nếu chú trọng phát triển TMĐT, không tính đến bảo vệ quyền SHTT, thì sẽ dẫn đến sự xâm phạm lợi ích của các chủ thể quyền, ảnh hưởng đến sự lao động sáng tạo của các chủ thể quyền SHTT, lợi ích người tiêu dùng. Nếu chỉ bảo vệ quyền SHTT, SHCN với nhãn hiệu, không tính đến sự phổ cập và phát triển thông tin, giao dịch điện tử, ảnh hưởng đến sáng tạo các mô hình giao dịch TMĐT, không khuyến khích sự phát triển của TMĐT, ảnh hưởng sự phát triển và tiến bộ xã hội, con người. Do vậy, cần nhìn nhận sự phát triển của TMĐT, sự ghi dấu và phát triển của nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ trong TMĐT là tất yếu và cần có sự bảo hộ của Nhà nước đối với cả hai vấn đề trên, sao cho vừa thúc đẩy sự phát triển của TMĐT, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền SHTT nói chung, SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng.

3. Những vấn đề pháp lý cơ bản liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu trong thương mại điện tử

3.1. Về đăng ký tên miền

Một vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm là mối quan hệ giữa nhãn hiệu và tên miền (domain name). Một website được định vị trên internet bằng địa chỉ internet của mình. Bên cạnh chức năng là địa chỉ internet, các tên miền còn có chức năng xác định các doanh nghiệp hay các hàng hóa hoặc dịch vụ trên internet[3]. Những đặc điểm này đem lại giá trị kinh tế rất lớn cho tên miền. Để đảm bảo việc định vị sản phẩm thống nhất trong thế giới thực và thế giới ảo, các chủ sở hữu nhãn hiệu luôn có mong muốn là sử dụng các nhãn hiệu đã đăng ký của mình làm tên miền. Tuy nhiên, việc mở rộng quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu với các địa chỉ internet dường như sẽ mâu thuẫn với nguyên tắc “đăng ký trước, xét cấp trước”. Do vậy, vấn đề tranh chấp nảy sinh khi có người sử dụng, vận hành trang web có tên miền nhưng không phải là người sở hữu tên miền hoặc nhãn hiệu tương tự như tên miền. Lúc này, người đăng ký tên miền có thể chiếm giữ tên miền để trục lợi từ các chủ thể liên quan hoặc chiếm giữ tên miền để không cho đối thủ cạnh tranh đăng ký được hoặc sự dụng tên miền đó. Khi chiếm giữ tên miền, các chủ thể này còn có thể kết hợp xây dựng những nội dung bất lợi cho đối thủ cạnh tranh trong các thông tin là nội dung của trang web có địa chỉ tên miền đã đăng ký... Vì vậy, vấn đề cơ bản đặt ra với nhãn hiệu trong hoạt động đăng ký tên miền chính là cần phải xác định cơ chế pháp lý để bảo hộ nhãn hiệu trong phạm vi môi trường TMĐT, ngăn chặn vấn đề tranh chấp vi phạm nói trên. Những yếu tố này có thể là lựa chọn luật áp dụng điều chỉnh thống nhất với nhãn hiệu và tên miền, vấn đề về mở rộng phạm vi quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu trong môi trường ảo và thực. Theo quy định pháp luật quốc tế và pháp luật sở hữu trí tuệ ở một số quốc gia, thì việc sử dụng một nhãn hiệu có thể là điều kiện để đăng ký hoặc là duy trì việc đăng ký. Vậy nếu như sử dụng nhãn hiệu này trong thương mại điện tử thì có thỏa mãn các yêu cầu đó hay không? Nếu thỏa mãn thì cần phải thêm những điều kiện nào, ngoại lệ nào? Các nhãn hiệu đồng nhất hay tương tự có thể được sở hữu bởi những người khác nhau ở các nước riêng biệt. Do đó, việc sử dụng các nhãn hiệu như vậy trong TMĐT bởi một hay nhiều người sở hữu có thể dẫn đến xung đột. Như vậy, thì hệ thống đăng ký nhãn hiệu dựa trên lãnh thổ hiện nay có đủ thích hợp cho thị trường trực tuyến phi biên giới đang nổi lên hay không? Vấn đề xác lập quyền đối với nhãn hiệu trong môi trường internet đặt ra như thế nào để vừa đảm bảo quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu vừa bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng?

3.2. Vấn đề phát sinh trong thương mại điện tử liên quan đến việc cung cấp môi trường cho hoạt động thương mại điện tử

Liên quan đến việc cung cấp môi trường cho hoạt động TMĐT, có thể kể đến người môi giới điện tử. Người môi giới điện tử trong môi trường TMĐT (the digital middleman) có thể là một công ty hoặc một hãng viễn thông trên mạng internet, tạo ra một môi trường làm việc trên mạng (cửa hàng điện tử ảo, trang web quảng cáo…). Một số nhà môi giới điện tử lại hoạt động như là nhà đấu giá hay như một “chợ trời” nơi các nhà buôn đưa các quảng cáo hàng hóa lên và người mua đấu giá chúng. Đây là một trong nhóm chủ thể hiện đang tham gia hoạt động TMĐT, họ chính là các thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT. Như vậy trong quá trình hoạt động TMĐT, chủ sở hữu website có thể chào bán bất kỳ hàng hóa dịch vụ nào, nếu như đó là các hàng hóa, xâm phạm nhãn hiệu được chào bán rộng rãi trên các website đó, môi trường đó, ví dụ như bán hàng “fake”, hay bất kỳ hành vi xâm phạm nhãn hiệu của chủ thể thứ ba khác, thì cơ chế bảo hộ pháp luật hiện nay quy định và giải quyết vấn đề trên như thế nào?

Tiếp nữa là những nhà cung cấp dịch vụ internet hay nhà cung cấp dịch vụ nối mạng (Internet Service Provider- ISP), chuyên cung cấp các giải pháp kết nối mạng toàn cầu cho các đơn vị tổ chức hay các cá nhân người dùng. Trên nền tảng công nghệ đó, trong thế giới ảo do các trung gian thương mại tạo nên, người bán và người mua sẽ tiến hành giao dịch với nhau qua hệ thống TMĐT. Tuy nhiên, đối với các hoạt động cung cấp môi trường TMĐT như trên (từ việc nhà cung cấp dịch vụ internet, chủ các website TMĐT, sàn TMĐT, chợ ảo…) khi có sự xâm phạm nhãn hiệu của bên thứ ba đối với chủ sở hữu nhãn hiệu, ngay trên chính môi trường TMĐT mà các chủ thể trên cung cấp, thì cơ chế trách nhiệm của các bên liên quan được xác định như thế nào? Việc “vào cuộc” của các nhà cung cấp môi trường TMĐT về mặt pháp lý ra sao để tạo nên sự cân bằng, hài hòa lợi ích giữa sự phát triển của thông tin, của hoạt động TMĐT và việc bảo hộ thành quả lao động trí tuệ? Bởi lẽ, một mặt việc bảo hộ quyền SHTT nói chung, quyền SHCN với nhãn hiệu nói riêng, chính là bảo hộ thành quả sáng tạo trí óc của con người thông qua các độc quyền của chủ sở hữu theo quy định, tuy nhiên, mặt khác nó cũng cần xem xét trên góc độ mở rộng khả năng tiếp cận thông tin để đảm bảo lợi ích của toàn xã hội. Trong môi trường TMĐT, cho dù bản chất và nguyên lý của hệ thống SHTT vẫn không thay đổi, nhưng vẫn cần có những điều chỉnh hợp lý để hệ thống này tận dụng được những cơ hội và đối phó được những thách thức mới mà các tiến bộ công nghệ, kinh tế đem lại.

3.3. Các hoạt động maketing, quảng cáo trên internet có sự xuất hiện nhãn hiệu của bên thứ ba

Để quảng bá website, các doanh nghiệp có xu hướng gia tăng lượng truy cập website thông qua kỹ thuật sử dụng từ khóa (keyword). Việc sử dụng các cỗ máy tìm kiếm, hay các dịch vụ dẫn chiếu như Google, Yahoo để định vị thông tin bằng cách gõ một thuật ngữ hoặc một từ vào thanh công cụ tìm kiếm trở thành một hoạt động phổ biến của người sử dụng internet hiện nay.

Khi chúng ta dùng các từ khóa để nhập vào các công cụ tìm kiếm, sẽ dễ dàng tìm thấy các kết quả hiện thị là các trang web mà chúng ta muốn hướng đến. Việc tìm kiếm như vậy thường đem đến hai loại kết quả: Thứ nhất là, danh sách kết quả “tự nhiên” được hiện lên khi ta sử dụng từ khóa; thứ hai là một danh sách dưới tiêu đề “Các liên kết được tài trợ”, hay các quảng cáo có liên quan đến từ khóa đó. Các liên kết được tài trợ xuất hiện khi doanh nghiệp trả tiền, hay mua chính từ khóa tìm kiến đó cho các công ty hỗ trợ quảng cáo. Liên kết được tài trợ này, sẽ giúp người tìm kiếm kết nối với website của các công ty trả tiền cho việc kết nối đó. Vấn đề liên quan đến nhãn hiệu trong quảng cáo từ khóa sẽ nảy sinh khi một doanh nghiệp trả phí cho các công ty nhận quảng cáo, để mua các từ khóa, là chính các nhãn hiệu, thậm chí là nhãn hiệu nổi tiếng của bên thứ ba. Như vậy, hành vi mua nhãn hiệu của một bên thứ ba dưới dạng từ khóa quảng cáo từ nhà quảng cáo, có thuộc phạm vi độc quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu hay không? Hay nói cách khác, vấn đề mở rộng phạm vi nội dung quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu trong TMĐT đến mức độ nào?

Bản chất của pháp luật về SHTT là tạo ra những khả năng kiểm soát theo luật định đối với việc phổ biến thông qua việc cấp các độc quyền pháp lý có giới hạn. Với các chức năng xác định nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo chất lượng và cải thiện việc truyền thông, nhãn hiệu giúp giảm chi phí tìm kiếm của người tiêu dùng, giúp giảm chi phí quảng cáo cho chủ sở hữu. Tuy nhiên, trước sự phát triển như vũ bão của internet và TMĐT đã tạo ra nhiều thách thức đối với các nguyên tắc nền tảng của quyền SHTT. Trong đó, bên cạnh việc có hay không việc mở rộng quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong TMĐT đối với các chủ sở hữu, có các vấn đề pháp lý phát sinh trong việc bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong TMĐT cần đặt ra là: (i) Xác định phương thức tiếp cận phù hợp đối với các đối tượng mới xuất hiện trong TMĐT; (ii) Xác định phạm vi độc quyền của quyền SHTT đối với các hành vi sử dụng, khai thác trong TMĐT; (iii) Cơ chế trách nhiệm của các nhà cung cấp môi trường cho TMĐT khi có hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Để bảo vệ quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu, thúc đẩy sự phát triển của TMĐT, cần có các nghiên cứu chuyên sâu về việc bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong TMĐT.

ThS. Trần Thị Thanh Huyền

Khoa Luật - Học viện Phụ nữ Việt Nam







[1]. Http://www.wipo.int/trademarks/en/.

[2]. Trần Lê Hồng,“Một số vấn đề về tài sản trí tuệ nhìn từ góc độ khoa học pháp lý và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 2/2012, tr. 23.

[3]. Phạm Thị Mai Khanh (2016), Quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử, Luận án Tiến sĩ, tr. 43.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: