Thứ năm 15/01/2026 05:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề lý luận về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử

Tóm tắt: Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử. Qua đó, giúp các nhà hoạch định chính sách có những căn cứ lý luận để thiết kế các chính sách về nhãn hiệu phù hợp, gắn liền bản chất đặc thù của thương mại điện tử.

Tóm tắt: Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử. Qua đó, giúp các nhà hoạch định chính sách có những căn cứ lý luận để thiết kế các chính sách về nhãn hiệu phù hợp, gắn liền bản chất đặc thù của thương mại điện tử.

Abstract: This article analyzes some theoretical issues on the protection of industrial property rights of brand in e-commerce. Thereby, helping policymakers have theoretical bases to design appropriate brand policies, associated with the specific nature of e-commerce.

1. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), thì nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh khác[1]. Có thể nói, nhãn hiệu chính là giải pháp giúp người tiêu dùng nhận diện được chính sản phẩm, hàng hóa của nhà sản xuất.

Ở Việt Nam, theo khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 - sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau đây gọi là Luật Sở hữu trí tuệ), thì nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện như: (i) Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; (ii) Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác (Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ).

1.1. Khái niệm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Có ba cơ sở triết học về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) thường được nhắc đến là quan điểm về quyền tự nhiên (của John Locke), quyền tự do sáng tạo (của Emmanual Kant và George Hegel) và quan điểm vị lợi coi quyền SHTT là phương tiện (utilitarianism của Jeremy Bentham). Quan điểm vị lợi hay còn gọi là chủ nghĩa công lợi, chủ nghĩa này cho rằng hành động tốt nhất là hành động đạt được một cách cao nhất những gì được cho là hữu ích. Gắn với quyền SHTT, quan điểm vị lợi cho rằng quyền SHTT là phương tiện giúp cân bằng một mặt là nhu cầu sáng tạo cá nhân, mặt khác là nhu cầu phổ biến thông tin và tiếp cận thông tin. Quan điểm này hiện nay đang được sử dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới trong việc xây dựng pháp luật về sở hữu trí tuệ (Mỹ, Anh, Pháp...) và ở cả Việt Nam, khi xây dựng chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy sự tiến bộ khoa học công nghệ, đảm bảo hài hòa lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng. Cách tiếp cận này được tác giả cho là hợp lý, khi xem xét việc bảo hộ quyền SHTT cần nhìn trong tổng thể mối quan hệ lợi ích của chủ thể quyền sở hữu với lợi ích của toàn xã hội. Như vậy, dưới góc độ triết học, việc bảo hộ quyền SHTT nói chung, quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) đối với nhãn hiệu nói riêng, là bảo hộ thành quả sự đầu tư (trí tuệ, của cải, công sức...) của các chủ thể quyền sở hữu đối với nhãn hiệu để tạo nên sự nhận diện cho chính sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất.

Dưới góc độ kinh tế học, bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu giải quyết vấn đề mất cân bằng thông tin giữa người mua - người bán, bảo vệ lợi ích của chủ thể sản xuất kinh doanh và đảm bảo cho người bán yên tâm đầu tư vào chất lượng và danh tiếng sản phẩm.

Hiện nay, khi nghiên cứu về bảo hộ nhãn hiệu có thể được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu bao gồm ba nội dung: (i) Trình tự và thủ tục xác lập quyền; (ii) Nội dung quyền của chủ sở hữu; (iii) Đề cập đến việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến việc bảo hộ nhãn hiệu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm những vấn đề liên quan đến trình tự và thủ tục xác lập quyền và nội dung quyền của chủ sở hữu. Vấn đề về xử lý các hành vi xâm phạm quyền, nằm trong nội dung của bảo vệ quyền SHCN đối với nhãn hiệu.

1.2. Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Quyền sở hữu đem lại cho chủ sở hữu ba quyền năng: Chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Quyền SHTT nói chung, quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng là quyền đối với đối tượng vô hình, nên quyền năng chiếm hữu về mặt vật chất sẽ không thể có được. Quyền năng định đoạt phụ thuộc khá nhiều vào quyền năng sử dụng, có thể sử dụng nên có thể định đoạt, sử dụng thế nào thì việc định đoạt thường sẽ tương ứng. Điều này cho thấy, phân tích quyền năng sử dụng đối với quyền SHTT nói chung, quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng cho phép hiểu đầy đủ và toàn diện nhất về bản chất sở hữu của quyền SHTT[2]. Như vậy, nội dung của quyền SHTT nói chung, quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng bao gồm quyền năng sử dụng (thông qua các độc quyền sử dụng) và quyền định đoạt.

Thứ nhất, về quyền sử dụng nhãn hiệu: Đây được xem là một trong những quyền năng quan trọng nhất của chủ sở hữu nhãn hiệu. Bên cạnh đó, chủ sở hữu còn có quyền chuyển quyền sử dụng đối với nhãn hiệu. Điều này được hiểu rằng, trong thời gian bảo hộ, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cho người khác. Chủ sở hữu có độc quyền sử dụng nhãn hiệu, đồng nghĩa với việc họ có quyền cấm người khác sử dụng nhãn hiệu.

Thứ hai, về quyền định đoạt nhãn hiệu: Chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền định đoạt đối với nhãn hiệu. Theo nội dung này, định đoạt quyền SHCN đối với nhãn hiệu được hiểu là việc dịch chuyển quyền SHCN từ một (hoặc nhiều) chủ thể này sang một (hoặc nhiều) chủ thể khác hoặc làm mất đi quyền SHCN đối với nhãn hiệu đang được bảo hộ của chủ sở hữu nhãn hiệu. Bên cạnh đó, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền thế chấp, sử dụng quyền SHCN đối với nhãn hiệu để góp vốn kinh doanh, thành lập doanh nghiệp.

2. Mối quan hệ giữa bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và thương mại điện tử

Hiện nay, sự phát triển của thương mại điện tử (TMĐT) sẽ góp phần đẩy nhanh vấn đề nhận diện nhãn hiệu của các doanh nghiệp khắp mọi nơi trên thế giới. Do vậy, để tận dụng tối ưu các giải pháp hữu ích của internet, các doanh nghiệp đã đưa vào các website - bộ mặt của công ty trên nền internet những dữ liệu động, hỗ trợ các giao dịch giữa người mua và người bán với mục đích cuối cùng là tối ưu hóa lợi nhuận tốt nhất. Chính điều này đã đặt ra vấn đề mới, cơ hội mới cho doanh nghiệp trong việc quảng bá hình ảnh, thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ của mình một cách tốt nhất. Tuy nhiên, trong TMĐT, do người tiêu dùng cách xa về mặt địa lý, không gian so với nhà cung cấp sản phẩm hàng hóa, nên việc in dấu một nhãn hiệu đã được biết đến trong trí nhớ người tiêu dùng là điều rất quan trọng. Với khoảng cách đó, khách hàng dường như không có cơ hội thiết lập tiếp xúc cá nhân với người bán và sản phẩm hoặc xem xét kỹ càng sản phẩm và dịch vụ trước khi mua chúng. Cho nên, việc lựa chọn sản phẩm dựa trên các nhãn hiệu có uy tín, hay đã được biết đến, dường như là một trong những yếu tố tiên quyết ảnh hưởng đến việc ra quyết định mua hàng của người tiêu dùng. Hiện nay, khách hàng thông thường có xu hướng trung thành với sản phẩm, hàng hóa gắn liền nhãn hiệu mình thường hay sử dụng (sự trung thành thương hiệu), thậm chí còn truyền miệng về sản phẩm nhãn hiệu đó. Như vậy, với sự phát triển của TMĐT gắn liền với các mô hình kinh doanh ngày một sáng tạo, đồng nghĩa với việc ngày càng ghi dấu sự hiện diện của nhãn hiệu với vai trò chỉ dẫn thương mại, hướng dẫn người tiêu dùng đến nơi xuất xứ, cung cấp hàng hóa sản phẩm đó. Điều này cho phép đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến việc bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong TMĐT, một mặt vừa khuyến khích và bảo đảm cạnh tranh công bằng giữa các nhà sản xuất, bảo vệ người tiêu dùng, mặt khác phải tính đến sự phát triển của TMĐT.

Bản chất của giải pháp quyền SHTT nói chung và quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng là tạo ra khả năng kiểm soát theo luật định đối với việc phổ biến thông tin thông qua việc cấp các độc quyền pháp lý có giới hạn. Hệ thống quyền SHTT là phương tiện giúp cân bằng giữa một mặt là nhu cầu sáng chế và sáng tạo, mặt khác là nhu cầu phổ biến và tiếp cận thông tin. Với chức năng xác định nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo chất lượng, hệ thống nhãn hiệu là hình ảnh không thể thiếu trong quảng cáo truyền thông của doanh nghiệp. Trong khi đó, quyền SHTT liên quan đến chỉ dẫn thương mại như nhãn hiệu được phát triển với tư cách một giải pháp cho thất bại thị trường do thông tin bất cân xứng, vì thế có thể đồng tồn tại cùng cạnh tranh lành mạnh. Áp dụng các lý thuyết này trong môi trường TMĐT, tác giả cũng sử dụng cách tiếp cận “trung dung” được ủng hộ bởi một lượng lớn các học giả cho rằng, trong môi trường kỹ thuật số, gắn với các hoạt động kinh doanh thương mại trực tuyến, bản chất và các nguyên lý của hệ thống SHTT vẫn không thay đổi nhưng cần có những điều chỉnh hợp lý để hệ thống này tận dụng được những cơ hội và đối phó được những thách thức mới mà công nghệ đem lại và các điều chỉnh này phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia.

Việc các chủ thể của hoạt động TMĐT hiểu rõ và có trách nhiệm với việc bảo vệ quyền SHTT nói chung, quyền SHCN của chủ sở hữu nhãn hiệu nói riêng, góp phần không chỉ tạo niềm tin cho người tiêu dùng với sản phẩm hàng hóa dịch vụ, mà tạo niềm tin cho chính hoạt động mua bán cung ứng hàng hóa, dịch vụ qua TMĐT. Qua đó, góp phần làm thúc đẩy sự phát triển của TMĐT, thúc đẩy sự sáng tạo các mô hình kinh doanh áp dụng công nghệ mới, nhất là trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0, với xu hướng internet kết nối vạn vật. Thực tế hiện nay, rất nhiều người tiêu dùng mua phải hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng thông qua các website của TMĐT. Do vậy, nếu chính các chủ thể cung cấp môi trường cho hoạt động TMĐT nói trên tuân thủ các chính sách về bảo vệ quyền SHTT, SHCN đối với nhãn hiệu của các chủ sở hữu, hợp tác với các chủ thể quyền trong việc loại bỏ việc xâm phạm nhãn hiệu hoặc Nhà nước có những biện pháp ngăn chặn và đẩy lùi các hành vi xâm phạm trên, thì sẽ thúc đẩy sự phát triển TMĐT một cách nhanh chóng.

Nói tóm lại, sự phát triển của TMĐT sẽ làm ảnh hưởng đến việc phát triển, mở rộng khả năng nhận diện nhãn hiệu của doanh nghiệp, nhà sản xuất. Ngược lại, bảo vệ quyền SHCN đối với nhãn hiệu được thực hiện tốt trong TMĐT, thì lợi ích của chủ sở hữu được bảo vệ, niềm tin cho khách hàng, người tiêu dùng đối với doanh nghiệp, niềm tin của khách hàng đối với hoạt động TMĐT được tăng cao và thúc đẩy sự phát triển của TMĐT. Tuy nhiên, để phát triển hài hòa cả TMĐT và bảo vệ quyền SHCN đối với nhãn hiệu, cần tính đến việc đảm bảo sự cân bằng lợi ích cho cả hai vấn đề nói trên. Việc mở rộng và bảo vệ thái quá vấn đề nào cũng làm ảnh hưởng ngược lại đến sự tồn tại và phát triển của yếu tố còn lại. Nếu chú trọng phát triển TMĐT, không tính đến bảo vệ quyền SHTT, thì sẽ dẫn đến sự xâm phạm lợi ích của các chủ thể quyền, ảnh hưởng đến sự lao động sáng tạo của các chủ thể quyền SHTT, lợi ích người tiêu dùng. Nếu chỉ bảo vệ quyền SHTT, SHCN với nhãn hiệu, không tính đến sự phổ cập và phát triển thông tin, giao dịch điện tử, ảnh hưởng đến sáng tạo các mô hình giao dịch TMĐT, không khuyến khích sự phát triển của TMĐT, ảnh hưởng sự phát triển và tiến bộ xã hội, con người. Do vậy, cần nhìn nhận sự phát triển của TMĐT, sự ghi dấu và phát triển của nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ trong TMĐT là tất yếu và cần có sự bảo hộ của Nhà nước đối với cả hai vấn đề trên, sao cho vừa thúc đẩy sự phát triển của TMĐT, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền SHTT nói chung, SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng.

3. Những vấn đề pháp lý cơ bản liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu trong thương mại điện tử

3.1. Về đăng ký tên miền

Một vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm là mối quan hệ giữa nhãn hiệu và tên miền (domain name). Một website được định vị trên internet bằng địa chỉ internet của mình. Bên cạnh chức năng là địa chỉ internet, các tên miền còn có chức năng xác định các doanh nghiệp hay các hàng hóa hoặc dịch vụ trên internet[3]. Những đặc điểm này đem lại giá trị kinh tế rất lớn cho tên miền. Để đảm bảo việc định vị sản phẩm thống nhất trong thế giới thực và thế giới ảo, các chủ sở hữu nhãn hiệu luôn có mong muốn là sử dụng các nhãn hiệu đã đăng ký của mình làm tên miền. Tuy nhiên, việc mở rộng quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu với các địa chỉ internet dường như sẽ mâu thuẫn với nguyên tắc “đăng ký trước, xét cấp trước”. Do vậy, vấn đề tranh chấp nảy sinh khi có người sử dụng, vận hành trang web có tên miền nhưng không phải là người sở hữu tên miền hoặc nhãn hiệu tương tự như tên miền. Lúc này, người đăng ký tên miền có thể chiếm giữ tên miền để trục lợi từ các chủ thể liên quan hoặc chiếm giữ tên miền để không cho đối thủ cạnh tranh đăng ký được hoặc sự dụng tên miền đó. Khi chiếm giữ tên miền, các chủ thể này còn có thể kết hợp xây dựng những nội dung bất lợi cho đối thủ cạnh tranh trong các thông tin là nội dung của trang web có địa chỉ tên miền đã đăng ký... Vì vậy, vấn đề cơ bản đặt ra với nhãn hiệu trong hoạt động đăng ký tên miền chính là cần phải xác định cơ chế pháp lý để bảo hộ nhãn hiệu trong phạm vi môi trường TMĐT, ngăn chặn vấn đề tranh chấp vi phạm nói trên. Những yếu tố này có thể là lựa chọn luật áp dụng điều chỉnh thống nhất với nhãn hiệu và tên miền, vấn đề về mở rộng phạm vi quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu trong môi trường ảo và thực. Theo quy định pháp luật quốc tế và pháp luật sở hữu trí tuệ ở một số quốc gia, thì việc sử dụng một nhãn hiệu có thể là điều kiện để đăng ký hoặc là duy trì việc đăng ký. Vậy nếu như sử dụng nhãn hiệu này trong thương mại điện tử thì có thỏa mãn các yêu cầu đó hay không? Nếu thỏa mãn thì cần phải thêm những điều kiện nào, ngoại lệ nào? Các nhãn hiệu đồng nhất hay tương tự có thể được sở hữu bởi những người khác nhau ở các nước riêng biệt. Do đó, việc sử dụng các nhãn hiệu như vậy trong TMĐT bởi một hay nhiều người sở hữu có thể dẫn đến xung đột. Như vậy, thì hệ thống đăng ký nhãn hiệu dựa trên lãnh thổ hiện nay có đủ thích hợp cho thị trường trực tuyến phi biên giới đang nổi lên hay không? Vấn đề xác lập quyền đối với nhãn hiệu trong môi trường internet đặt ra như thế nào để vừa đảm bảo quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu vừa bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng?

3.2. Vấn đề phát sinh trong thương mại điện tử liên quan đến việc cung cấp môi trường cho hoạt động thương mại điện tử

Liên quan đến việc cung cấp môi trường cho hoạt động TMĐT, có thể kể đến người môi giới điện tử. Người môi giới điện tử trong môi trường TMĐT (the digital middleman) có thể là một công ty hoặc một hãng viễn thông trên mạng internet, tạo ra một môi trường làm việc trên mạng (cửa hàng điện tử ảo, trang web quảng cáo…). Một số nhà môi giới điện tử lại hoạt động như là nhà đấu giá hay như một “chợ trời” nơi các nhà buôn đưa các quảng cáo hàng hóa lên và người mua đấu giá chúng. Đây là một trong nhóm chủ thể hiện đang tham gia hoạt động TMĐT, họ chính là các thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT. Như vậy trong quá trình hoạt động TMĐT, chủ sở hữu website có thể chào bán bất kỳ hàng hóa dịch vụ nào, nếu như đó là các hàng hóa, xâm phạm nhãn hiệu được chào bán rộng rãi trên các website đó, môi trường đó, ví dụ như bán hàng “fake”, hay bất kỳ hành vi xâm phạm nhãn hiệu của chủ thể thứ ba khác, thì cơ chế bảo hộ pháp luật hiện nay quy định và giải quyết vấn đề trên như thế nào?

Tiếp nữa là những nhà cung cấp dịch vụ internet hay nhà cung cấp dịch vụ nối mạng (Internet Service Provider- ISP), chuyên cung cấp các giải pháp kết nối mạng toàn cầu cho các đơn vị tổ chức hay các cá nhân người dùng. Trên nền tảng công nghệ đó, trong thế giới ảo do các trung gian thương mại tạo nên, người bán và người mua sẽ tiến hành giao dịch với nhau qua hệ thống TMĐT. Tuy nhiên, đối với các hoạt động cung cấp môi trường TMĐT như trên (từ việc nhà cung cấp dịch vụ internet, chủ các website TMĐT, sàn TMĐT, chợ ảo…) khi có sự xâm phạm nhãn hiệu của bên thứ ba đối với chủ sở hữu nhãn hiệu, ngay trên chính môi trường TMĐT mà các chủ thể trên cung cấp, thì cơ chế trách nhiệm của các bên liên quan được xác định như thế nào? Việc “vào cuộc” của các nhà cung cấp môi trường TMĐT về mặt pháp lý ra sao để tạo nên sự cân bằng, hài hòa lợi ích giữa sự phát triển của thông tin, của hoạt động TMĐT và việc bảo hộ thành quả lao động trí tuệ? Bởi lẽ, một mặt việc bảo hộ quyền SHTT nói chung, quyền SHCN với nhãn hiệu nói riêng, chính là bảo hộ thành quả sáng tạo trí óc của con người thông qua các độc quyền của chủ sở hữu theo quy định, tuy nhiên, mặt khác nó cũng cần xem xét trên góc độ mở rộng khả năng tiếp cận thông tin để đảm bảo lợi ích của toàn xã hội. Trong môi trường TMĐT, cho dù bản chất và nguyên lý của hệ thống SHTT vẫn không thay đổi, nhưng vẫn cần có những điều chỉnh hợp lý để hệ thống này tận dụng được những cơ hội và đối phó được những thách thức mới mà các tiến bộ công nghệ, kinh tế đem lại.

3.3. Các hoạt động maketing, quảng cáo trên internet có sự xuất hiện nhãn hiệu của bên thứ ba

Để quảng bá website, các doanh nghiệp có xu hướng gia tăng lượng truy cập website thông qua kỹ thuật sử dụng từ khóa (keyword). Việc sử dụng các cỗ máy tìm kiếm, hay các dịch vụ dẫn chiếu như Google, Yahoo để định vị thông tin bằng cách gõ một thuật ngữ hoặc một từ vào thanh công cụ tìm kiếm trở thành một hoạt động phổ biến của người sử dụng internet hiện nay.

Khi chúng ta dùng các từ khóa để nhập vào các công cụ tìm kiếm, sẽ dễ dàng tìm thấy các kết quả hiện thị là các trang web mà chúng ta muốn hướng đến. Việc tìm kiếm như vậy thường đem đến hai loại kết quả: Thứ nhất là, danh sách kết quả “tự nhiên” được hiện lên khi ta sử dụng từ khóa; thứ hai là một danh sách dưới tiêu đề “Các liên kết được tài trợ”, hay các quảng cáo có liên quan đến từ khóa đó. Các liên kết được tài trợ xuất hiện khi doanh nghiệp trả tiền, hay mua chính từ khóa tìm kiến đó cho các công ty hỗ trợ quảng cáo. Liên kết được tài trợ này, sẽ giúp người tìm kiếm kết nối với website của các công ty trả tiền cho việc kết nối đó. Vấn đề liên quan đến nhãn hiệu trong quảng cáo từ khóa sẽ nảy sinh khi một doanh nghiệp trả phí cho các công ty nhận quảng cáo, để mua các từ khóa, là chính các nhãn hiệu, thậm chí là nhãn hiệu nổi tiếng của bên thứ ba. Như vậy, hành vi mua nhãn hiệu của một bên thứ ba dưới dạng từ khóa quảng cáo từ nhà quảng cáo, có thuộc phạm vi độc quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu hay không? Hay nói cách khác, vấn đề mở rộng phạm vi nội dung quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu trong TMĐT đến mức độ nào?

Bản chất của pháp luật về SHTT là tạo ra những khả năng kiểm soát theo luật định đối với việc phổ biến thông qua việc cấp các độc quyền pháp lý có giới hạn. Với các chức năng xác định nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo chất lượng và cải thiện việc truyền thông, nhãn hiệu giúp giảm chi phí tìm kiếm của người tiêu dùng, giúp giảm chi phí quảng cáo cho chủ sở hữu. Tuy nhiên, trước sự phát triển như vũ bão của internet và TMĐT đã tạo ra nhiều thách thức đối với các nguyên tắc nền tảng của quyền SHTT. Trong đó, bên cạnh việc có hay không việc mở rộng quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong TMĐT đối với các chủ sở hữu, có các vấn đề pháp lý phát sinh trong việc bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong TMĐT cần đặt ra là: (i) Xác định phương thức tiếp cận phù hợp đối với các đối tượng mới xuất hiện trong TMĐT; (ii) Xác định phạm vi độc quyền của quyền SHTT đối với các hành vi sử dụng, khai thác trong TMĐT; (iii) Cơ chế trách nhiệm của các nhà cung cấp môi trường cho TMĐT khi có hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Để bảo vệ quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu, thúc đẩy sự phát triển của TMĐT, cần có các nghiên cứu chuyên sâu về việc bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong TMĐT.

ThS. Trần Thị Thanh Huyền

Khoa Luật - Học viện Phụ nữ Việt Nam







[1]. Http://www.wipo.int/trademarks/en/.

[2]. Trần Lê Hồng,“Một số vấn đề về tài sản trí tuệ nhìn từ góc độ khoa học pháp lý và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 2/2012, tr. 23.

[3]. Phạm Thị Mai Khanh (2016), Quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử, Luận án Tiến sĩ, tr. 43.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: