Thứ năm 15/01/2026 06:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay

Trọng tài có lịch sử hình thành từ rất sớm, hình thức giải quyết tranh chấp này xuất hiện trước khi có Tòa án. Hiện nay, trọng tài thương mại mang tính toàn cầu và là phương thức giải quyết tranh chấp được sử dụng

Trọng tài có lịch sử hình thành từ rất sớm, hình thức giải quyết tranh chấp này xuất hiện trước khi có Tòa án. Hiện nay, trọng tài thương mại mang tính toàn cầu và là phương thức giải quyết tranh chấp được sử dụng khá phổ biến trên thế giới, nhất là những nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Tại Việt Nam, trọng tài thương mại tuy mới được hình thành nhưng đã góp phần tích cực vào việc giải quyết nhanh chóng, kịp thời các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh. Pháp luật Việt Nam điều chỉnh lĩnh vực này đang từng bước được hoàn thiện theo hướng phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và các cam kết của Nhà nước ta trong các điều ước quốc tế. Để làm rõ và đánh giá một cách khách quan về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ở Việt Nam, bài viết tập trung phân tích ưu nhược điểm của phương thức giải quyết tranh chấp này từ đó đưa ra một số khuyến nghị đối với các bên tranh chấp khi lựa chọn sử dụng phương thức giải quyết này.

1. Khái quát về trọng tài thương mại

1.1. Khái niệm trọng tài thương mại


Theo từ điển Chính trị vắn tắt của Liên Xô thì: Trọng tài là một hình thức Tòa án phân xử, trong đó sự tranh chấp được giải quyết nhờ một quan tòa (trọng tài) do các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau bầu ra[1].

Đại từ điển Kinh tế thị trường định nghĩa trọng tài như sau: Trọng tài là phương pháp giải quyết hòa bình các vụ tranh chấp, là chỉ đôi bên đương sự tự nguyện đem những sự việc, những vấn đề tranh chấp giao cho người thứ ba có tư cách công bằng, chính trực xét xử, lời phán quyết do người này đưa ra có hiệu lực ràng buộc cả hai bên[2]. Theo quy định của Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010 thì trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của luật này[3].

Về thuật ngữ “thương mại”: Việc phân biệt các hợp đồng được coi là “hợp đồng thương mại” và những hợp đồng không phải hợp đồng “thương mại” có ý nghĩa quan trọng vì nhiều quốc gia chỉ cho phép những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng “thương mại” được đưa ra giải quyết tại trọng tài. Theo chú thích Điều 1 (1) Luật Mẫu UNCITRAL, thuật ngữ “thương mại” được giải thích theo nghĩa rộng để có thể bao hàm các vấn đề phát sinh từ tất cả các quan hệ có bản chất thương mại, dù có quan hệ hợp đồng hay không. Các quan hệ có bản chất thương mại bao gồm các giao dịch sau: Các hoạt động mua bán hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; môi giới; cho thuê; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc nhượng quyền khai thác; liên doanh hoặc các hình thức hợp tác kinh doanh khác; vận chuyển hàng hóa hoặc hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt hoặc đường bộ. Pháp luật Việt Nam không quy định riêng thuật ngữ “thương mại” mà quy định về “hoạt động thương mại”, theo đó, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác[4]. Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định về phạm vi thẩm quyền giải quyết của trọng tài bao gồm: Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài[5]. Như vậy, có thể thấy thuật ngữ “thương mại” ở Việt Nam đang được hiểu theo nghĩa rộng tương tự cách hiểu của pháp luật trọng tài quốc tế.

Từ các định nghĩa và phân tích nêu trên chúng ta có thể rút ra khái niệm trọng tài thương mại như sau: Trọng tài thương mại là một phương pháp pháp lý để giải quyết tranh chấp thương mại ngoài Tòa án, theo đó các bên tranh chấp thỏa thuận đưa tranh chấp của mình đến một trọng tài viên hay một hội đồng trọng tài để giải quyết theo quy định của luật áp dụng và chấp nhận chịu sự ràng buộc về mặt pháp lý, tuân thủ phán quyết của trọng tài viên hay hội đồng trọng tài. Thuật ngữ trọng tài thương mại gắn liền với thẩm quyền của trọng tài, đó là trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thương mại.

1.2. Đặc điểm của trọng tài thương mại

Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp nói riêng cũng như mọi vấn đề liên quan đến quá trình giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại nói chung dựa trên nguyên tắc quan trọng là quyền tự định đoạt của các bên. Cơ quan nhà nước và trọng tài thương mại chỉ can thiệp theo yêu cầu của các bên tranh chấp. Kể cả khi Tòa án hoặc trọng tài đã can thiệp thì trong quá trình tố tụng, quyền tự định đoạt biểu hiện bằng những hành vi đơn phương hoặc thỏa thuận của các bên vẫn luôn được ghi nhận và tôn trọng. Quyền tự định đoạt của các bên được coi là một nội dung của quyền tự do kinh doanh và được pháp luật bảo hộ. Pháp luật hiện hành của Việt Nam, cũng như trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên đều đã ghi nhận nguyên tắc này. Theo thông lệ quốc tế và quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bao gồm: Thương lượng; hòa giải; trọng tài thương mại và Tòa án.

Từ khái niệm đã nêu cho thấy hình thức giải quyết tranh chấp này có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết một tranh chấp thương mại cụ thể nào đó khi các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận lựa chọn trọng tài để giải quyết. Tuy nhiên, khi các bên đã thỏa thuận lựa chọn trọng tài theo quy định của pháp luật thì việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài lại trở thành yêu cầu bắt buộc khi có tranh chấp xảy ra. Khi đó Tòa án sẽ được coi là không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đó nữa.

Thứ hai, trọng tài cũng là hình thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba khách quan để giúp các bên giải quyết bất đồng. Tuy nhiên, khác với việc bên thứ ba làm trung gian hòa giải - người không có quyền đưa ra quyết định giải quyết tranh chấp có tính chất ràng buộc các bên, quyết định của trọng tài (trọng tài viên hoặc hội đồng trọng tài) là chung thẩm và có tính chất ràng buộc pháp lý đối với các bên tranh chấp tương tự như một bản án của Tòa án.

Thứ ba, trọng tài là một phương thức giải quyết phi nhà nước nên trọng tài không mang tính quyền lực nhà nước như Tòa án. Tuy nhiên, do phán quyết của trọng tài là chung thẩm và ràng buộc các bên như một bản án của Tòa án nên trọng tài khác với phương thức thương lượng hay hòa giải. Hiện nay, nhiều quốc gia ban hành những quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của trọng tài. Ủy ban Luật Thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) cũng đã ban hành Luật Mẫu về trọng tài thương mại được nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam dựa vào để ban hành đạo luật về trọng tài thương mại riêng của nước mình.

2. Ưu điểm, nhược điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

2.1. So với các phương thức giải quyết tranh chấp khác, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại có các ưu điểm như sau:

Một là, tính linh hoạt; tiết kiệm thời gian; không bị ràng buộc bởi nguyên tắc lãnh thổ. Các bên tranh chấp được chủ động lựa chọn thời gian, địa điểm cũng như có quyền lựa chọn mô hình trọng tài, lựa chọn trọng tài viên để giải quyết vụ tranh chấp. Thủ tục trọng tài đơn giản, nhanh chóng, không trải qua nhiều cấp xét xử như ở Toà án, hơn nữa các bên có thể thỏa thuận về thủ tục giải quyết tranh chấp (miễn là các bên được đối xử công bằng, thủ tục giải quyết trọng tài có thể được xây dựng phù hợp với những yêu cầu cụ thể của tranh chấp, hơn là phù hợp với những quy tắc cố định của luật tố tụng) giúp cho quá trình giải quyết tranh chấp nhanh gọn hơn, hạn chế tốn kém về thời gian và chi phí cho doanh nghiệp, cũng như cho họ hi vọng về một phán quyết thỏa đáng.

Hai là, tính bí mật của trọng tài thương mại. Sự riêng tư của thủ tục trọng tài và tính bảo mật bao trùm toàn bộ quá trình tố tụng trọng tài là một điểm hấp dẫn đối với các doanh nghiệp và các tổ chức có thể bị liên quan (thường là trái với ý chí của họ) trong các quy trình pháp lý. Ví dụ: Có thể có những bí mật kinh doanh hoặc kế hoạch cạnh tranh cần được bảo vệ, hoặc có thể chỉ là các bên không muốn chi tiết của vụ tranh chấp thương mại (hoặc việc đưa ra những quyết định sai lầm) trở thành đề tài bàn tán trong dư luận. Nguyên tắc trọng tài xét xử không công khai, phần nào giúp các bên giữ được uy tín trên thương trường. Các bên tranh chấp có khả năng tác động đến quá trình trọng tài, kiểm soát được việc cung cấp chứng cứ của mình và điều này giúp các bên giữ được bí quyết kinh doanh. Đây được coi là ưu điểm được các bên tranh chấp ưa chuộng nhất.

Ba là, tính trung lập, phương thức trọng tài trao cho các bên cơ hội chọn một địa điểm “trung lập” và một hội đồng trọng tài “trung lập” để giải quyết tranh chấp của họ. Các bên tranh chấp có thể có trụ sở ở các địa bàn khác nhau, do đó việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp khác (như Tòa án) thì địa điểm xét xử các bên sẽ không có quyền lựa chọn mà phải theo quy định của pháp luật tố tụng. Ngược lại, việc dẫn chiếu tới trọng tài có nghĩa là tranh chấp sẽ được phân xử tại một địa điểm trọng tài trung lập chứ không phải là sân nhà của một trong các bên. Mỗi bên sẽ được trao cơ hội tham gia vào việc lựa chọn thành phần của hội đồng trọng tài. Nếu hội đồng trọng tài chỉ gồm một trọng tài viên thì trọng tài viên đó sẽ được lựa chọn trên cơ sở thỏa thuận của các bên (hoặc bằng cách để trung tâm trọng tài lựa chọn nếu các bên đồng ý) và trọng tài viên được yêu cầu sẽ phải hành xử độc lập và vô tư. Nếu hội đồng trọng tài gồm ba trọng tài viên, hai người trong số họ có thể được lựa chọn bởi các bên, nhưng mỗi người sẽ được yêu cầu phải hành xử độc lập và vô tư (đây là đạo đức, uy tín nghề nghiệp của họ và trọng tài viên có thể bị bãi nhiệm nếu bị chứng minh rằng không hành xử như vậy). Như vậy, dù gồm một hay ba trọng tài viên, hội đồng trọng tài phải hoàn toàn khách quan và “trung lập”.

Bốn là, tranh chấp được giải quyết bởi các trọng tài viên là chuyên gia trong lĩnh vực liên quan đến vụ việc do chính các bên lựa chọn. Việc lựa chọn này rất có lợi cho các bên trong tranh chấp vì trọng tài viên được lựa chọn là các chuyên gia có chuyên môn, có nhiều kinh nghiệm trên nhiều lĩnh vực khác nhau như thuế, xuất nhập khẩu hàng hóa, ngân hàng, sở hữu trí tuệ, chứng khoán, kiểm toán, kiểm định… phù hợp để bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong các loại tranh chấp có tính chất đặc thù, phức tạp. Khi các bên lựa chọn được trọng tài viên giỏi, nhiều kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc vấn đề đang tranh chấp, thì họ có thể đưa ra các phán quyết giải quyết tranh chấp nhanh chóng, chính xác và công bằng.

Năm là, hiệu lực thi hành của phán quyết trọng tài. Sau khi kết thúc quá trình trọng tài (nếu không có thỏa thuận nào được lập giữa các bên), hội đồng trọng tài sẽ đưa ra quyết định của họ dưới hình thức một phán quyết. Trong vấn đề này có ba điểm sau cần chú ý: (i) Phán quyết này có giá trị ràng buộc và không phải là một khuyến nghị mà các bên có thể chấp nhận làm theo hoặc từ chối nếu họ muốn (như trong phương thức trung gian hay hòa giải); (ii) Phán quyết trọng tài sẽ là phán quyết cuối cùng (không giống như bản án của Tòa án là nấc thang đầu tiên trong quá trình tố tụng từ sơ thẩm đến phúc thẩm và các trình tự tố tụng khác) như một quá trình lâu dài và phức tạp; (iii) Một khi phán quyết trọng tài (nhất là phán quyết trọng tài quốc tế) đã được lập, nó sẽ được Tòa án công nhận hiệu lực và có giá trị thi hành cả ở phạm vi quốc gia và quốc tế[6]. Trong khi đó, một bản án của Tòa án quốc gia nếu muốn được công nhận và thi hành ở nước ngoài cần phụ thuộc vào các điều ước quốc tế cụ thể ký kết giữa quốc gia đó và quốc gia nơi bản án muốn được thi hành.

Ở Việt Nam, theo quy định của pháp luật hiện hành, phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành[7]. Sau khi có phán quyết trọng tài một hoặc các bên tranh chấp có quyền yêu cầu đăng ký tại Tòa án nơi hội đồng trọng tài đã ra phán quyết (việc đăng ký hoặc không đăng ký phán quyết trọng tài không ảnh hưởng đến nội dung và giá trị pháp lý của phán quyết trọng tài), trước khi yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành phán quyết trọng tài đó[8]. Việc thi hành phán quyết trọng tài được thực hiện trên cơ sở tự nguyện giữa các bên, trường hợp hết thời hạn thi hành mà các bên không tự nguyện thi hành thì bên được thi hành có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự[9]. Như vậy, giá trị và hiệu lực pháp lý của phán quyết trọng tài được bảo đảm thi hành như đối với bản án của Tòa án.

2.2. Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại cũng có một số hạn chế (khuyết điểm) sau:

Thứ nhất, chi phí cho việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại là khá cao (thường cao hơn mức án phí giải quyết tranh chấp bằng phương thức Tòa án) nên đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ như ở Việt Nam hiện nay thường khó có khả năng chi trả[10]. Một số lý do khiến cho chi phí trọng tài cao hơn, đầu tiên là phí và các chi phí cho trọng tài viên (không giống như lương của thẩm phán) phải được trả bởi các bên và những khoản chi phí này thường rất lớn (bởi các trọng tài viên thường là chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp); các bên có thể phải trả phí hành chính cho trung tâm trọng tài, hoặc chi phí cho một thư ký được chỉ định để quản lý quá trình tố tụng trọng tài; ngoài ra còn có thể có chi phí thuê địa điểm, phí dịch vụ ghi biên bản trong phiên xử, cũng như các khoản chi phí cho các cố vấn pháp lý của các bên và các nhân chứng chuyên gia…

Thứ hai, những phán quyết trọng tài mâu thuẫn, thiếu chính xác. Khuyết điểm này được phát sinh do các nguyên nhân sau: (i) Do tính chất nhanh chóng của cách thức giải quyết vụ việc, trọng tài tuyên án chỉ sau một cấp xét xử duy nhất nên khó tránh khỏi có những sai sót; (ii) Không tồn tại một hệ thống án lệ nào có giá trị ràng buộc trong tố tụng trọng tài - nghĩa là, không có quy định nào về việc một phán quyết trọng tài đối với một vấn đề cụ thể, hoặc một tình tiết cụ thể, có thể ràng buộc các trọng tài viên khác khi họ gặp phải các vấn đề hoặc tình tiết tương tự. Mỗi phán quyết trọng tài đều độc lập, phán quyết của các hội đồng trọng tài trước đó (đối với các vụ việc tương tự), nếu có được biết đến (mà điều này thường ít có khả năng vì tính bảo mật của trọng tài), có thể chỉ có giá trị tham khảo, khuyến nghị chứ không hơn không kém.

Do đó, đôi khi các quyết định của trọng tài có thể chưa chính xác hoặc mâu thuẫn, gây thiệt hại đối với doanh nghiệp (trong trường hợp này các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài[11]).

Thứ ba,trường hợp các bên không thỏa thuận sử dụng phương trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp kinh doanh trong hợp đồng thì khi xảy ra tranh chấp, trọng tài không có thẩm quyền giải quyết ngay cả khi một trong các bên tranh chấp hoặc cả hai bên tranh chấp có ý định hoặc có mong muốn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại.

3. Kết luận và khuyến nghị

Trên cơ sở các ưu nhược điểm nêu trên, cho thấy giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại mặc dù vẫn có những nhược điểm nhất định nhưng đây là phương thức giải quyết có nhiều ưu thế mà các doanh nghiệp nên lựa chọn, bởi lẽ khuyết điểm lớn nhất của phương thức này có lẽ nằm ở chỗ chi phí khá cao. Tuy nhiên, nếu đánh giá dựa trên chỉ số tương quan giữa chi phí, thời gian và hiệu quả thì đây là nhược điểm có thể chấp nhận được, bởi vì phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án tuy án phí có thể thấp hơn nhưng thời gian giải quyết kéo dài (do qua nhiều cấp xét xử cũng như sự quá tải của hệ thống Tòa án về số lượng các vụ án). Hơn nữa, các bên sẽ không cần phải tiêu tốn thêm chi phi sau khi có phán quyết trọng tài như chi phí cho việc nộp đơn kháng cáo tại Tòa. Trong khi giá trị và hiệu lực của bản án và phán quyết trọng tài đều được đảm bảo như nhau.

Trong khi các quan điểm khác nhau còn tranh luận về tương quan giữa hiệu quả và chi phí khi giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài, thì điều quan trọng chúng ta cần nhớ là mục đích của trọng tài thương mại không chỉ đơn giản là kết thúc một vụ tranh chấp theo cách càng nhanh và càng rẻ thì càng tốt mà mục đích của trọng tài thương mại là đưa đến một phán quyết công bằng và hợp lý cho tranh chấp, dựa trên cách đánh giá phù hợp với hợp đồng có liên quan, sự việc thực tế và quy định của pháp luật. Đây cũng là một lý do quan trọng mà trong những năm gần đây ở Việt Nam các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp ngày càng quan tâm đến hoạt động trọng tài thương mại và lựa chọn phương thức trọng tài để giải quyết những tranh chấp phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh[12].

Trong quá trình hình thành và phát triển của trọng tài thương mại, ở Việt Nam đã và đang có các tổ chức trọng tài thương mại sau đây:

- Các trung tâm trọng tài kinh tế thành lập tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo Nghị định số 116-CP ngày 05/9/1994 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế. Trước đây, đã có 06 trung tâm trọng tài kinh tế được thành lập với thẩm quyền là giải quyết các tranh chấp kinh tế không có yếu tố quốc tế. Sự ra đời của các trung tâm trọng tài kinh tế với tính chất và tố tụng trọng tài hoàn toàn khác, đồng thời cũng để thay thế cho hệ thống trọng tài kinh tế nhà nước đã tồn tại nhiều năm trước đó (đã được giải thể từ tháng 7/1994).

- Các trung tâm trọng tài được thành lập tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh. Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tại các địa phương khác có thể thành lập thêm các trung tâm trọng tài. Các trung tâm trọng tài này được thành lập và hoạt động theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 và Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 15/01/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại.

- Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VIAC (trên cơ sở hợp nhất Hội đồng Trọng tài Ngoại thương và Hội đồng Trọng tài Hàng hải), được thành lập và hoạt động theo Quyết định số 204/TTg ngày 28/4/1993 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam và Quyết định số 114/TTg ngày 16/02/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc mở rộng thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam.

Các trung tâm trọng tài kinh tế và trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam là các trung tâm trọng tài được thành lập trước ngày Pháp lệnh Trọng tài thương mại có hiệu lực (01/7/2003) không phải làm thủ tục thành lập lại nhưng phải sửa đổi, bổ sung Điều lệ, Quy tắc tố tụng trọng tài cho phù hợp với quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003. Đến năm 2010, Quốc hội đã ban hành Luật Trọng tài thương mại thay thế cho Pháp lệnh Trọng tài thương mại (Luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2011). Do đó, các trung tâm trọng tài hiện nay đang hoạt động theo quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

Theo quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010, hiện nay trọng tài thương mại ở Việt Nam được tổ chức theo hai mô hình: (i) Trọng tài thường trực với hình thức thành lập là trung tâm trọng tài thương mại. (ii) Trọng tài vụ việc, mô hình trọng tài này không có trụ sở thường trực, chỉ giải quyết các vụ việc theo yêu cầu và tự giải tán khi giải quyết xong. Thực tiễn ở Việt Nam, mô hình trọng tài này ít hoạt động.

Một số khuyến nghị đối với các bên tranh chấp, các doanh nghiệp trong việc sử dụng dịch vụ giải quyết tranh chấp từ các tổ chức trọng tài thương mại của Việt Nam hiện nay cần chú ý:

Một là, tất cả các tổ chức trọng tài thương mại hiện nay đều là các tổ chức phi chính phủ, là các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tham gia giải quyết các tranh chấp theo sự thỏa thuận, yêu cầu của các bên. Trong hoạt động, các tổ chức trọng tài thương mại hiện nay không được nhân danh quyền lực nhà nước, hoàn toàn khác với hoạt động của hệ thống trọng tài kinh tế nhà nước trước đây.

Hai là, các tổ chức trọng tài thương mại này phần lớn là những tổ chức trọng tài thường trực. Các trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, có trụ sở, có thể có chi nhánh, văn phòng đại diện, có điều lệ, quy tắc tố tụng trọng tài, có ban điều hành với danh sách các trọng tài viên, tồn tại độc lập với các tranh chấp.

Tóm lại, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được đánh giá là phương thức giải quyết tranh chấp của hiện tại và tương lai với nhiều ưu thế nổi trội. Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại đã có những quy định tiến bộ khá phù hợp với quy định của pháp luật trọng tài quốc tế. Do vậy, Việt Nam muốn hội nhập ngày càng sâu, rộng và bền vững vào nền kinh tế thế giới thì phải thường xuyên hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về trọng tài nói riêng cho phù hợp với xu thế phát triển chung, đồng thời tổ chức thực hiện tốt các quy định đã ban hành, tuyên truyền để cộng đồng doanh nghiệp thấy được những lợi ích của trọng tài thương mại như là một phương thức giải quyết tranh chấp hiện đại, minh bạch, công bằng và thuận lợi. Hiệu quả hoạt động của trọng tài còn phụ thuộc vào thái độ của cộng đồng doanh nghiệp. Do đó, việc tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật trọng tài cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ của các trung tâm trọng tài sẽ giúp doanh nghiệp hiểu hơn về bản chất và ưu thế của trọng tài thương mại, từ đó tạo điều kiện cho phương thức giải quyết tranh chấp này ngày càng phát triển.

ThS. Đào Lộc Bình

Học viện Chính trị khu vực IV


[1] Từ điển Chính trị vắn tắt, Nxb. Tiến Bộ Matxcova và Nxb. Sự Thật, 1988, In tại Liên Xô.

[2] Nguyễn Hữu Quỳnh (1998), Đại từ điển Kinh tế thị trường, Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa, Hà Nội, tr. 1989.

[3] Khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

[4] Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005

[5] Điều 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

[6] Tính tới năm 2018, đã có 159 quốc gia, vùng lãnh thổ trong đó có Việt Nam là thành viên của Công ước New York 1958 - Công ước về Công nhận và Thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài.

[7] Khoản 5, Điều 61, Luật Trọng Tài thương mại năm 2010.

[8] Khoản 1, Điều 62, Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

[9] Điều 65, 66, 67, Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

[10] Theo Biểu phí trọng tài của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) (Ban hành kèm theo Quyết định số 89/QĐ-VIAC ngày 25/01/2016 của Chủ tịch VIAC) thì mức phí thấp nhất là 16.500.000 đồng đối với các tranh chấp có giá trị dưới 100.000.000 đồng và cao nhất đối với các tranh chấp có giá trị trên 500.000.000.000 đồng là 3.609.300.000 đồng + 0,3% số tiền vượt quá 500.000.000.000 đồng. Trong khi đó mức án phí trong vụ án kinh doanh thương mại của Tòa án được quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thấp nhất là 3.000.000 đồng đối với tranh chấp không có giá ngạch và tranh chấp có giá trị dưới 60.000.000 đồng; mức án phí cao nhất đối với các tranh chấp có giá trị trên 4.000.000.000 đồng là 112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tranh chấp vượt 4.000.000.000 đồng.

[11] Điều 68, 69 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

[12] Theo thống kê của VIAC, trong thời gian 20 năm từ 1993 đến 2013, VIAC giải quyết tổng cộng 738 vụ tranh chấp (bình quân 37 vụ/năm), nhưng chỉ trong 04 năm từ 2014 đến 2017 VIAC đã giải quyết 576 vụ tranh chấp (bình quân 144 vụ/năm) tức gấp hơn 04 lần.

Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, từ năm 2011 đến tháng 6/2015, các trung tâm trọng tài đã thụ lý 897 vụ việc, ban hành 586 phán quyết. Sau bốn năm triển khai thi hành Luật Trọng tài thương mại, số vụ việc thụ lý và giải quyết tại VIAC tăng hơn 30% (nguồn: http://plo.vn/kinh-te/quan-ly/khi-dan-va-doanh-nghiep-nho-co-che-trong-tai-579625.html).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: