Thứ hai 20/07/2026 05:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề lý luận về hợp đồng dịch vụ logistic ở Việt Nam hiện nay

Xuất hiện ở Việt Nam chưa lâu nhưng logistics đã dần khẳng định vai trò to lớn của mình đối với nền kinh tế nước ta, góp phần tiết kiệm, giảm chi phí lưu thông trong phân phối hàng hóa

Xuất hiện ở Việt Nam chưa lâu nhưng logistics đã dần khẳng định vai trò to lớn của mình đối với nền kinh tế nước ta, góp phần tiết kiệm, giảm chi phí lưu thông trong phân phối hàng hóa, nâng cao tính cạnh tranh cho hàng hóa, từ đó giúp thúc đẩy thương mại, hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2007. Hiện nay, tổng số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics là khoảng hơn 3.000 doanh nghiệp, trong đó 20% là công ty nhà nước, 70% là công ty trách nhiệm hữu hạn, 10% là doanh nghiệp tư nhân[1].

Quan hệ kinh doanh dịch vụ logistics được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý chủ yếu là hợp đồng. Đây cũng là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh (nếu có). Một hợp đồng được soạn thảo chặt chẽ giúp cho doanh nghiệp tránh được nhiều rủi ro, bất lợi trong quá trình thực hiện. Ở Việt Nam, các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến việc soạn thảo hợp đồng, trừ một vài doanh nghiệp lớn. Vì thế, khi tranh chấp xảy ra, doanh nghiệp gặp rất nhiều bất lợi do hợp đồng quy định không đúng hoặc không đầy đủ, chưa kể đến việc đối tác có thể lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bên còn lại để chèn vào những điều khoản có lợi cho bên họ mà bất lợi cho bên kia.

Hiện nay, các quy định về hợp đồng dịch vụ logistics vẫn còn thiếu, chưa đầy đủ, chưa rõ ràng, các nghiên cứu về hợp đồng dịch vụ logistics chưa có. Vì thế, trong bài viết này, tác giả sẽ bàn về một số vấn đề lý luận lien quan đến hợp đồng dịch vụ logistics.

1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng dịch vụ logistics

1.1. Khái niệm hợp đồng dịch vụ logistics

Luật Thương mại năm 2005 chưa quy định rõ thế nào là hợp đồng dịch vụ mà khái niệm này được nêu tại Điều 513 Bộ luật Dân sự năm 2015: Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ. Đối tượng của hợp đồng dịch vụ là một công việc cụ thể, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.

Luật Thương mại năm 2005 quy định: Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán, bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. Như vậy, hợp đồng dịch vụ thể hiện tính thương mại rõ ràng. Cung ứng dịch vụ là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bên cung ứng thực hiện việc cung ứng để thu lợi nhuận và bên còn lại trả tiền.

Dịch vụ logistics, theo Điều 233 Luật Thương mại năm 2005: Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.

Trong một cuốn sách tựa đề: The handbook of Logistics Contract (Sổ tay hợp đồng logistics), Joan Jane and Alfonso de Ochoa 2006 có đoạn viết[2]: Về mặt khái niệm, có thể định nghĩa hợp đồng dịch vụ logistics là một hợp đồng dưới tên một bên thứ ba, gọi là nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba- 3 PL, chịu trách nhiệm trước một bên khác để cung cấp các dịch vụ logistics mà họ cần về sau, đổi lại nhà cung cấp được trả những lợi ích kinh tế khác. Điều quan trọng để đưa ra định nghĩa một cách rõ ràng như vậy vì sự đa dạng của hoạt động này có thể bao gồm, giới hạn dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ này có thể được yêu cầu và sẽ làm mất đi tính tự nhiên của cụm từ “logistics”.

3PL- Third party logistics: Người cung cấp dịch vụ sẽ thay mặt chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận, 3PL gồm nhiều các dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hoá, xử lý thông tin… và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng.

Như vậy, hợp đồng dịch vụ logistics trước hết là một hợp đồng dịch vụ bên thứ ba, bên thứ ba được một bên đứng ra thuê họ làm các dịch vụ logistics mục đích là giúp cho bên thuê thuận tiện và tiết kiệm chi phí hơn, thay vì họ tự làm các việc đó. Dưới góc độ pháp lý và căn cứ vào những quy định của pháp luật Việt Nam, có thể khái quát định nghĩa hợp đồng dịch vụ logistics như sau: Hợp đồng dịch vụ logistics là sự thỏa thuận, theo đó một bên (bên làm dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện hoặc tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm việc nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa, còn bên kia (khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán phí dịch vụ.

2.2. Đặc điểm hợp đồng dịch vụ logistics

Hợp đồng dịch vụ logistics có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, hợp đồng dịch vụ logistics là hợp đồng song vụ, hợp đồng ưng thuận và mang tính chất đền bù

Dịch vụ logistics được thực hiện trên cơ sở hợp đồng song vụ có tính đền bù. Đây là sự thỏa thuận giữa hai bên chủ thế, là sự thống nhất ý chí được thể hiện ra bên ngoài trên cơ sở bình đẳng về địa vị pháp lý, tức là các bên có quyền ngang nhau trong quá trình đàm phán đi đến thống nhất quyền và nghĩa vụ của mình. Bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau theo thỏa thuận. Trường hợp một bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bên còn lại có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ tương ứng. Đặc trưng cơ bản của hợp đồng song vụ là chủ thể này thực hiện nghĩa vụ là cơ sở để chủ thể còn lại thực hiện nghĩa vụ tương ứng đã thỏa thuận trong hợp đồng. Ví dụ, hợp đồng quy định bên A có nghĩa vụ vận chuyển hàng cho bên B từ điểm X đến điểm Y do bên B chỉ định. Tại điểm Y, sau khi đã nhận hàng đầy đủ, bên B phải trả tiền vận chuyển cho bên A (nghĩa vụ của bên A đã hoàn thành làm phát sinh nghĩa vụ tương ứng (nghĩa vụ trả tiền của bên B). Tùy thuộc vào mức độ sử dụng dịch vụ của khách hàng, nội dung hợp đồng có thể đơn giản hoặc phức tạp.

Tính đền bù trong hợp đồng dịch vụ logistics được thể hiện ở chỗ: Bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền phí dịch vụ cho bên cung cấp dịch vụ. Phí dịch vụ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Thời điểm trả tiền dịch vụ các bên thỏa thuận trong hợp đồng, có thể là thanh toán tạm ứng trước, trả tiền ngay sau khi bên cung ứng hoàn thành nghĩa vụ hoặc sau 60 ngày kể từ ngày bên cung ứng hoàn thành nghĩa vụ… Trường hợp bên sử dụng dịch vụ không trả tiền dịch vụ được coi là vi phạm nghĩa vụ. Khi có vi phạm nghĩa vụ, bên sử dung dịch vụ có thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đã vi phạm và/hoặc bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận trong hợp đồng (thường là phạt lãi chậm thanh toán hoặc bên cung ứng tạm dừng nghĩa vụ cung cấp dịch vụ của mình). Ví dụ, hợp đồng quy định: Định kỳ 25 hàng tháng hai bên có nghĩa vụ lập bảng công nợ trong tháng đó, bên cung cấp dịch vụ xuất hóa đơn đỏ gửi cho bên sử dụng dịch vụ. Sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hóa đơn, bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ trả tiền dịch vụ cho bên cung cấp dịch vụ. Quá thời hạn này, bên cung cấp dịch vụ có quyền dừng việc cung cấp dịch vụ, cụ thể là dừng việc vận chuyển hàng, tạm giữ không giao hàng, tính lãi phạt số tiền chậm trả theo thỏa thuận trong hợp đồng...

Thứ hai, chủ thể của hợp đồng. Bên làm dịch vụ phải là thương nhân, còn khách hàng có thể là thương nhân hoặc không là thương nhân.

Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics bao gồm: Tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Hoat động logistics là dịch vụ kinh doanh có điều kiện, thương nhân kinh doanh dịch vụ này tùy từng loại dịch vụ mà điều kiện kinh doanh là khác nhau. Ví dụ, thương nhân thành lập công ty đại lý hải quan thì phải có chứng chỉ đại lý hải quan, thương nhân kinh doanh dịch vụ kho bãi thì phải tuân thủ các điều kiện về kho bãi, thương nhân kinh doanh dịch vụ vận chuyển phải tuân thủ các quy định về vận chuyển... Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải thỏa mãn một số điều kiện theo quy định tại Nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics (Nghị định số 163/2017/NĐ-CP).

Thứ ba, đối tượng của hợp đồng dịch vụ logistics

Đối tượng của hợp đồng dịch vụ logistics là dịch vụ gắn liền với hoạt động mua bán, vận chuyển hàng hóa như: Tổ chức việc vận chuyển hàng hóa, giao hàng hóa cho người vận chuyển, làm các thủ tục giấy tờ cần thiết để vận chuyển hàng hóa là các dịch vụ được Nghị định số 163/2017/NĐ-CP.

Đối tượng của hợp dồng dịch vụ logistics là một sản phẩm vô hình, không tồn tại dưới dạng vật chất, khó xác định dịch vụ bằng những chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hóa. Luật Thương mại n ă m 2005 không quy định về đối tượng dịch vụ mà quy định này được tìm thấy trong Bộ luật Dân sự năm 2005 Điều 519 (và Bộ luật Dân sự năm 2015 tại Điều 514).

Thứ tư, hình thức của hợp đồng dịch vụ logistics bắt buộc phải bằng văn bản.

Hợp đồng dịch vụ logistics là một hợp đồng phức tạp với một chuỗi các dịch vụ gắn liền với quyền lợi và trách nhiệm của các bên, phí dịch vụ, thời điểm dịch chuyển rủi ro, các trường hợp miễn trách của người chuyên, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan có quy định bắt buộc hợp đồng phải được lập bằng văn bản. Nếu không tuân thủ điều kiện về hình thức này thì hợp đồng có thể bị vô hiệu, hoặc khi có tranh chấp xảy ra các bên không có căn cứ pháp lý để giải quyết.

Đứng trước sự bùng nổ của cách mạng 4.0, hình thức của hợp đồng dịch vụ logistics cũng có những bước phát triển mạnh theo xu hướng đó. Đó là việc gia tăng các hợp đồng giao dịch điện tử, một hình thức mới của giao kết. Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về thương mại điện tử (Nghị định số 52/2013/NĐ-CP) gồm 7 chương, 80 điều đã quy định cụ thể về việc phát triển, ứng dụng và quản lý hoạt động thương mại điện tử cũng như công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Với mục tiêu thiết lập hành lang pháp lý cho các giao dịch thương mại điện tử được tiến hành minh bạch, trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện cho thương mại điện tử phát triển.

Chứng từ điện tử trong giao dịch thương mại là hợp đồng, đề nghị, thông báo, xác nhận hoặc các tài liệu khác ở dạng thông điệp dữ liệu do các bên đưa ra liên quan tới việc giao kết hay thực hiện hợp đồng (khoản 3 Điều 3 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP). Như vậy, hợp đồng dịch vụ logistics điện tử được pháp luật thừa nhận.

Thứ năm, nội dung của hợp đồng dịch vụ logistics

Hợp đồng dịch vụ logistics là toàn bộ các điều khoản mà các bên đã giao kết trên cơ sở tự nguyện, tự do ý chí, dựa trên các quy định của pháp luật.

Luật Thương mại năm 2005 không quy định cụ thể về các nội dung chủ yếu của hợp đồng dịch vụ logistics nhưng với tính chất của hợp đồng dịch vụ thì hợp đồng dịch vụ logistics có các nội dung chủ yếu sau: (i) Đối tượng của hợp đồng dịch vụ: Đó là một công việc cụ thể được mô tả chi tiết; (ii) Thù lao dịch vụ và các chi phí liên quan đến việc thực hiện dịch vụ giao nhận hàng hóa; nghĩa vụ thanh toán thù lao và các chi phí dịch vụ; (iii) Thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ là khoảng thời gian bên cung ứng thực hiện công việc, chuyển giao kết quả và bên sử dụng dịch vụ tiếp nhận kết quả công việc, thực hiện nghĩa vụ trả tiền dịch vụ theo thỏa thuận trước đó hoặc ngay tại hợp đồng. Địa điểm thực hiện hợp đồng phụ thuộc vào tính chất của từng dịch vụ, có thể là địa điểm ký kết hợp đồng, có thể là địa điểm tập kết hàng hóa nơi thông quan, địa điểm nơi đóng gói, địa điểm nơi vận chuyển, địa điểm nơi giám định hàng hóa… (iv) Quyền và nghĩa vụ các bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ: Hợp đồng là căn cứ xác lập nên các quan hệ, chủ thể hợp đồng quy định quyền và nghĩa vụ trong các điều khoản độc lập, hoặc cùng một điều khoản tùy thuộc vào sự lựa chọn của các bên. Quyền và nghĩa vụ các bên được xác định dựa trên tính chất dịch vụ, chính sách khách hàng của bên cung ứng, điều kiện của bên sử dụng dịch vụ hoặc người thứ ba được chỉ định cung cấp dịch vụ hoặc sử dụng kết quả của dịch vụ; (v) Kết quả của dịch vụ: Tùy vào tính chất của dịch vụ, các bên ghi nhận nội dung kết quả của dịch vụ. Kết quả đó thỏa mãn lợi ích của bên sử dụng dịch vụ là căn cứ để bên sử dụng dịch vụ trả tiền phí dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ; (vi) Giới hạn trách nhiệm và các trường hợp miễn trách nhiệm đối với người làm dịch vụ; (vii) Chấm dứt hợp đồng dịch vụ: Việc chấm dứt hợp đồng dịch vụ logistics có thể ghi nhận trong hợp đồng (khi hợp đồng đã hoàn thành, các bên thỏa thuận các căn cứ chấm dứt, đơn phương chấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng); (viii) Cơ chế giải quyết khi có tranh chấp phát sinh: Các bên có thể thỏa thuận cơ chế giải quyết tranh chấp khi có phát sinh, luật áp dụng (đặc biệt quan trọng khi một trong các bên có yếu tố nước ngoài). Cách thức ghi nhận phổ biến nhất là các bên tiến hành thương lượng hoặc hòa giải. Khi không hòa giải được, các bên có thể giải quyết bằng trọng tài hoặc Tòa án.

Ngoài ra, tùy từng trường hợp cụ thể, các bên có thể thỏa thuận và ghi trong hợp đồng những nội dung khác.

Như vậy, hoạt động này có nội dung rất “mở”, các bên có thể tự do lựa chọn các dịch vụ cung cấp và tùy theo từng loại hình dịch vụ để ký kết những nội dung cụ thể.

2. Phân loại hợp đồng dịch vụ logistics

2.1. Dựa theo nội dung hợp đồng dịch vụ logistics

Dựa vào nội dung hợp đồng dịch vụ logistics có thể chia thành hợp đồng nguyên tắc và hợp đồng theo chuyến.

(i) Hợp đồng nguyên tắc

Hợp đồng nguyên tắc được ký giữa hai bên về những điều khoản chung, cơ bản của giao dịch. Hợp đồng không thỏa thuận và nêu rõ các điều khoản về số lượng hàng hóa và giá cước vận chuyển, phí dịch vụ cụ thể. Trong hợp đồng nguyên tắc hai bên sẽ quy định những điều khoản chung làm căn cứ cho việc thực hiện những dịch vụ sau: Thời gian, phương thức, thời hạn thanh toán, chất lượng hàng hóa dịch vụ, phạt chậm tiến độ, phạt chậm thanh toán… Các điều khoản trên sẽ mang tính tương đối và áp dụng chung cho những yêu cầu vận chuyển, yêu cầu chung cho những dịch vụ sau.

(ii) Hợp đồng theo chuyến

Trên hợp đồng sẽ có những điều khoản cụ thể bắt buộc về khối lượng hàng hóa, giá cước hàng hóa, thời hạn, phương thức thanh toán… trách nhiệm các bên trong hợp đồng chuyến cũng phải cụ thể, các chi phí phát sinh khi các bên thực hiện không đúng không đầy đủ nghĩa vụ…

2.2. Dựa theo cấp độ của dịch vụ logistics

(i) Hợp đồng dịch vụ logistics 3PL

Những cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ theo hợp đồng là người thay mặt chủ hàng quản lý và thực hiện nhiều hoạt động logistics tích hợp, nhằm giảm thiểu chi phí và tăng hiệu quả logistics cho doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp không có khả năng tự quản lý và vận hành các hoạt động logistics của mình. Tại Việt Nam, các nhà cung cấp dịch vụ 3PL thường thực hiện các công việc chính như: Vận tải nội địa, mua bán cước, đóng gói, cho thuê kho bãi, khai hải quan…

(ii) Hợp đồng dịch vụ logistics 4PL

4PL là mô hình phức tạp hơn 3PL. 4PL phát triển trên nền tảng 3PL nhưng bao gồm những lĩnh vực rộng hơn, các dịch vụ công nghệ thông tin và quản lý cả quá trình kinh doanh. 4PL thực hiện như một hợp đồng hợp nhất các dịch vụ logistics, sử dụng vốn, công nghệ, nguồn lực của mình và của các 3PL khác để thiêt kế, xây dựng, vận hành các giải pháp logistics hiệu quả cho khách hàng. 4PL điều hành tất cả quá trình logistics cho doanh nghiệp, tiếp quản, điều phối và chia sẻ thông tin với các bên thứ 3 mà doanh nghiệp đang sử dụng như: Nhà vận chuyển, các công ty giao nhận, công ty cho thuê kho bãi, 4PL được xem là nhà liên lạc duy nhất thực hiện các nguồn lực và giám sát các chức năng 3PL trong suốt quá trình phân phối nhằm mục đích vươn tới thị trường toàn cầu, giành lợi thế chiến lược và xây dựng các mối quan hệ lâu dài.

(iii) Hợp đồng dịch vụ logistics 5PL

5PL là dịch vụ quản lý logistics cao nhất hiện nay. Sự ra đời gắn với sự bùng nổ công nghệ thông tin và sự phát triển logistics điện tử. 5PL là các doanh nghiệp logistics hàng đầu thế giới, cung cấp dịch vụ lên kế hoạch, tổ chức thực hiện các giải pháp logistics cho khách hàng bằng việc khai thác tối đa ứng dụng công nghệ tích hợp. 5PL nắm vững vai trò tổng hợp các nhu cầu dịch vụ của 3PL để thương lượng mức cước tốt nhất từ các hãng vận tải, với cam kết tiết kiệm và an toàn tối đa. Các doanh nghiệp này phát triển mạng lưới theo dõi hàng hóa từ đầu này sang đầu khác, giúp chủ hàng nắm được các thông tin về hàng hóa trong toàn bộ quá trình vận chuyển.

Đào Thị Cấm

Văn phòng luật sư PRIME VN




[1]Bộ Công thương, Báo cáo Logistics Việt Nam năm 2017, Logistics: Từ kế hoạch đến hành động, Nxb. Công thương, 2017, trang 88.

[2] Joan Jane and Alfonso de Ochoa 2006, The handbook of Logistics Contract: A practical Guide to a Growing Field, Palgrave Macmillan 2006, page 14.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).

Theo dõi chúng tôi trên: