Thứ năm 15/01/2026 10:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề lý luận về tổ chức thi hành pháp luật

Cho tới nay, trong khoa học pháp lý Việt Nam, nội hàm, ý nghĩa của thuật ngữ “tổ chức thi hành pháp luật” vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất. Việc phân tích, làm sáng tỏ hơn nội hàm, ý nghĩa của thuật ngữ này đang là vấn đề cấp thiết được đặt ra hiện nay để việc xây dựng thể chế, chỉ đạo, điều hành, nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật được triển khai một cách đúng đắn.


1. Khái niệm thi hành pháp luật

Theo các giáo trình lý luận về Nhà nước và pháp luật được giảng dạy tại nhiều cơ sở đào tạo pháp luật ở Việt Nam một thời gian dài trước đây, thi hành pháp luật được xác định là một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật. Cụ thể, theo Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội, thực hiện pháp luật là hành vi thực tế, hợp pháp, có mục đích của các chủ thể pháp luật nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào đời sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Thực hiện pháp luật được biểu hiện dưới bốn hình thức là: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật[1]. Theo đó, thi hành pháp luật được hiểu là việc chủ động thực hiện nghĩa vụ pháp lý của chủ thể pháp luật (ví dụ như việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, thực hiện nghĩa vụ quân sự...).

Theo tác giả, cách hiểu về thi hành pháp luật như vậy chưa thực sự sát với ý nghĩa đích thực của cụm từ “thi hành pháp luật” được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam. Tra cứu lịch sử pháp luật Việt Nam thời hiện đại, thuật ngữ “thi hành pháp luật” đã xuất hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng của Việt Nam từ khá sớm. Ngay từ Hiến pháp năm 1946, khi quy định về thẩm quyền của Chính phủ và cơ quan hành chính ở địa phương, Hiến pháp đã quy định rõ thẩm quyền thi hành pháp luật của các cơ quan này. Cụ thể, Điều 52 Hiến pháp năm 1946 quy định Chính phủ có quyền thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện. Đến Hiến pháp năm 1959, Điều 50 quy định Quốc hội có quyền giám sát việc thi hành Hiến pháp, Điều 73 quy định Hội đồng Chính phủ có quyền kiểm tra việc thi hành những nghị định, nghị quyết, chỉ thị. Hiến pháp năm 1980 có nhắc tới nội dung toàn thể nhân dân Việt Nam ra sức thi hành Hiến pháp. Điều 107 Hiến pháp năm 1980 quy định Hội đồng Bộ trưởng có nhiệm vụ bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật. Đến Hiến pháp năm 1992, khoản 2 Điều 112 quy định Chính phủ có trách nhiệm bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật. Thêm vào đó, thi hành pháp luật cũng không phải chỉ là hành vi của cơ quan công quyền mà còn là hành vi của người dân, doanh nghiệp. Điều 9 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam… động viên nhân dân… nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật”. Từ đó cho thấy, thi hành pháp luật không chỉ bó hẹp duy nhất ở hành vi chủ động thực hiện nghĩa vụ pháp lý được pháp luật quy định của các chủ thể mang nghĩa vụ.

Một số năm gần đây, giáo trình lý luận về Nhà nước và pháp luật của một số cơ sở đào tạo uy tín ở Việt Nam đã có sự căn chỉnh lại. Theo đó, hình thức “thi hành pháp luật” trong 04 hình thức thực hiện pháp luật đã được thay bằng “chấp hành pháp luật”[2]. Đây là cách đặt vấn đề phù hợp, tránh được những tranh luận không cần thiết về mặt nhận thức lý luận.

Từ các quy định của pháp luật, cách giải thích phù hợp hơn cả là coi thi hành pháp luật là hành vi (các hoạt động) của các chủ thể trong xã hội nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống, biến các yêu cầu của pháp luật trở thành hành vi thực tế của các chủ thể trong xã hội[3].

2. Khái niệm tổ chức thi hành pháp luật

Trong thuật ngữ “tổ chức thi hành pháp luật”, từ “tổ chức” là một động từ mô tả hành vi của một chủ thể có trách nhiệm tổ chức thi hành pháp luật. “Tổ chức” theo Từ điển tiếng Việt có nghĩa là “sắp xếp, bố trí cho thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng chung nhất định” hoặc “làm cho thành có trật tự, có nền nếp”[4]. Trong tiếng Anh, động từ “tổ chức” (organize) cũng được giải thích khá tương đồng như động từ “tổ chức” trong tiếng Việt. Theo đó, “organize” có nghĩa là “sắp xếp để làm cho việc gì đó xảy ra” (ví dụ, tổ chức cuộc họp) hoặc “làm hoặc sắp xếp điều gì đó theo một hệ thống nhất định”[5]. Trên cơ sở đó, theo lối chiết tự, tổ chức thi hành pháp luật chính là sắp xếp công việc thi hành pháp luật theo một trật tự nhất định hoặc làm cho việc thi hành pháp luật trở nên nền nếp. Theo ý nghĩa này, dường như chúng ta có thể hiểu rằng, mọi chủ thể trong xã hội đều có thể tổ chức thi hành pháp luật. Một doanh nghiệp tiến hành các hoạt động phổ biến, tập huấn pháp luật cho cán bộ quản lý, người lao động trong doanh nghiệp dường như cũng chính là việc thực hiện công việc tổ chức thi hành pháp luật. Thêm vào đó, nếu như ở phần trên khẳng định, hoạt động xét xử của Tòa án, với tư cách là một hoạt động áp dụng pháp luật, được xếp vào một dạng của hoạt động thi hành pháp luật, thì việc Tòa án tổ chức công tác xét xử phải chăng cũng cần phải được xem là tổ chức thi hành pháp luật. Đây là cách hiểu thông thường theo lối chiết tự về cụm từ “tổ chức thi hành pháp luật”. Tác giả cho rằng, dưới góc độ pháp lý và tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam, đây là cách hiểu chưa chính xác. Cần lưu ý rằng, tổ chức thi hành pháp luật với ý nghĩa là một thuật ngữ pháp lý (thuật ngữ được sử dụng chính thức trong các văn bản quy phạm pháp luật) có nội hàm không hoàn toàn giống như cách hiểu thông thường về tổ chức thi hành pháp luật như đã nêu ở trên.

Theo dòng lịch sử pháp luật Việt Nam thời hiện đại, chúng ta có thể thấy rằng, thuật ngữ “tổ chức thi hành pháp luật” thể hiện thông qua việc tổ chức thi hành một văn bản quy phạm pháp luật (nhất là một đạo luật cụ thể) đã từng được sử dụng. Chẳng hạn, năm 1985, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Chỉ thị số 254-CT ngày 13/8/1985 về việc tổ chức thi hành Bộ luật Hình sự. Sau đó, năm 1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Chỉ thị số 269-CT ngày 19/10/1988 về việc tổ chức thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự. Năm 1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Chỉ thị số 74-CT ngày 13/3/1990 về việc tổ chức thi hành Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính. Năm 2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 15/2000/CT-TTg ngày 09/8/2000 về việc tổ chức thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000… Khi nghiên cứu các văn bản vừa nêu, có thể thấy, tổ chức thi hành một văn bản quy phạm pháp luật cụ thể, mà ở đây là một đạo luật cụ thể, thường được thể hiện dưới các hình thức công việc như: (i) Phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức của các chủ thể có liên quan; (ii) Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan; (iii) Tiến hành các công việc xử lý vi phạm pháp luật; (iv) Củng cố tổ chức bộ máy và cán bộ có trách nhiệm xử lý các hành vi vi phạm. Như vậy, thuật ngữ “tổ chức thi hành pháp luật” không chỉ bao hàm việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp luật quy định cho mình thông qua các hoạt động phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật (áp dụng pháp luật) hoặc kiềm chế không thực hiện các hành vi pháp luật cấm (không cho phép) (tuân thủ pháp luật), mà còn bao gồm cả hành vi tạo tiền đề, tạo điều kiện, tạo môi trường thuận lợi để các hoạt động thi hành pháp luật của chính cơ quan này hoặc cấp dưới của cơ quan này được hiệu quả mà còn bao gồm tạo tiền đề, tạo điều kiện, tạo môi trường thuận lợi để các chủ thể có quyền và nghĩa vụ pháp lý thực hiện được quyền và chấp hành nghĩa vụ pháp lý của mình.

Trong lịch sử lập hiến ở Việt Nam, thuật ngữ “tổ chức thi hành Hiến pháp/luật/pháp luật” chỉ xuất hiện từ Hiến pháp năm 2013. Điều 96 Hiến pháp năm 2013 quy định Chính phủ có nhiệm vụ tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. Điều đó là hoàn toàn phù hợp với vị thế Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, bởi lẽ, nội dung cốt lõi của quyền hành pháp (executive power), theo nghĩa truyền thống, chính là quyền năng bảo đảm các đạo luật được thi hành một cách đầy đủ[6] hoặc thẩm quyền thi hành các đạo luật và bảo đảm rằng các đạo luật này được thi hành như ý định đặt ra các đạo luật ấy[7]. Như vậy, quyền hành pháp không chỉ là thi hành các đạo luật mà quan trọng hơn là phải bảo đảm rằng các đạo luật được thi hành như ý định đặt ra các đạo luật ấy[8]. Đó chính là cách nói khác đi của tổ chức thi hành luật. Điều này cũng có nghĩa rằng, tổ chức thi hành luật là phải bảo đảm làm sao để luật được thi hành đầy đủ như ý định ban đầu đặt ra. Bảo đảm cho luật được thi hành đầy đủ như ý định ban đầu đặt ra chính là mục đích cốt lõi của tổ chức thi hành luật[9]. Suy rộng ra, bảo đảm cho pháp luật được thi hành đầy đủ chính là mục đích cốt lõi của tổ chức thi hành pháp luật.

Hiến pháp năm 2013 quy định tổ chức thi hành pháp luật là trách nhiệm hàng đầu của các cơ quan hành chính nhà nước khác (Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp). Cụ thể, Điều 98 Hiến pháp năm 2013 quy định Thủ tướng Chính phủ có nhiệm vụ “lãnh đạo việc tổ chức thi hành pháp luật”. Điều 99 Hiến pháp năm 2013 quy định Bộ trưởng “chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công; tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc”. Điều 100 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng… ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái pháp luật theo quy định của luật”. Điều 112 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương”. Điều 114 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương”.

Xuất phát từ bản chất của quyền hành pháp như quan niệm phổ biến của quốc tế và thực tiễn sử dụng thuật ngữ “tổ chức thi hành luật”, “tổ chức thi hành pháp luật”, tác giả cho rằng, tổ chức thi hành pháp luật về bản chất chính là một chỉnh thể các hành vi công quyền do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện nhằm bảo đảm cho các yêu cầu của pháp luật được hiện thực hóa một cách đầy đủ và trọn vẹn. Đây là trách nhiệm chủ yếu và cơ bản nhất của chủ thể quyền hành pháp (Chính phủ) (đối với tổ chức thi hành luật) và các cơ quan hành chính nhà nước khác (đối với tổ chức thi hành luật và các văn bản dưới luật được gọi chung là pháp luật). Chủ thể tổ chức thi hành pháp luật, theo đúng nội dung, tinh thần của Hiến pháp năm 2013 chỉ là các cơ quan hành chính nhà nước. Cơ quan lập pháp, cơ quan thực hiện quyền tư pháp (Tòa án) không phải là chủ thể tổ chức thi hành pháp luật mặc dù hoạt động của các cơ quan này rõ ràng có ảnh hưởng và liên hệ mật thiết với hiệu lực, hiệu quả hoạt động tổ chức thi hành pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước. Chỉ có cách hiểu như thế thì mới tương thích với quy định tại Điều 98 Hiến pháp năm 2013 quy định Thủ tướng Chính phủ có nhiệm vụ “lãnh đạo việc xây dựng chính sách và tổ chức thi hành pháp luật”.

Tác giả cơ bản đồng ý với quan điểm cho rằng: Hiến pháp sử dụng thuật ngữ “tổ chức thi hành” cho các cơ quan hành chính với hàm ý ngoài việc chủ thể này có thể có trách nhiệm trực tiếp thi hành pháp luật, còn có trách nhiệm tạo ra các cơ sở, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành pháp luật của các chủ thể khác trong phạm vi toàn xã hội10. Như vậy, có thể thấy “vai trò kép” của các cơ quan hành chính trong thi hành và tổ chức thi hành pháp luật mà đứng đầu là Chính phủ. Từ những phân tích kể trên, có thể khẳng định, tổ chức thi hành pháp luật là trách nhiệm và nghĩa vụ riêng có của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền. Tổ chức thi hành pháp luật là những hoạt động do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện để tạo điều kiện, tạo tiền đề và bảo đảm việc hiện thực hóa các yêu cầu của pháp luật (đưa pháp luật vào cuộc sống).

3. Các dạng hoạt động tổ chức thi hành pháp luật

Các dạng hoạt động tổ chức thi hành pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước khá đa dạng. Điều này được quy định trong Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, các đạo luật chuyên ngành, nghị định quy định chung về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, cơ quan ngang Bộ (hiện tại là Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ). Đặc biệt, theo quy định tại Điều 183 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 34/2016/NĐ-CP), có 10 dạng hoạt động tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật: (i) Xây dựng kế hoạch tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật; (ii) Tổ chức thực hiện chính sách, biện pháp trong văn bản quy phạm pháp luật; (iii) Phổ biến văn bản quy phạm pháp luật; (iv) Ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật (nếu có); (v) Tập huấn văn bản quy phạm pháp luật; (vi) Tổ chức tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức; (vii) Bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực để triển khai thi hành văn bản quy phạm pháp luật; (viii) Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật; (ix) Sơ kết, tổng kết việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật; (x) Báo cáo việc tổ chức triển khai thi hành văn bản quy phạm pháp luật và kiến nghị, xử lý vướng mắc trong việc tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật.

Có thể thấy, 10 loại hoạt động được nêu trong Điều 183 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP rất toàn diện. Mặc dù vậy, về mặt lý luận, nội dung quy định tại Điều 183 kể trên cũng còn một số điểm cần bàn thêm. Quy định này coi việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật với tư cách là văn bản hướng dẫn thi hành của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn như là một hoạt động tổ chức thi hành pháp luật dễ tạo ra sự nhầm lẫn giữa hoạt động xây dựng pháp luật với hoạt động thi hành pháp luật. Cần phải khẳng định rằng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định chi tiết văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, là hoạt động xây dựng pháp luật chứ không phải là hoạt động thi hành pháp luật. Thêm vào đó, công việc tổ chức thực hiện chính sách, biện pháp trong văn bản quy phạm pháp luật chưa được giải mã rõ gồm những loại hoạt động cụ thể nào. Ngoài ra, hoạt động phổ biến văn bản quy phạm pháp luật với hoạt động tập huấn văn bản quy phạm pháp luật cũng có thể xếp chung vào cùng một nhóm và cần có cách diễn đạt phù hợp hơn với quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.

Nhằm kế thừa những nội dung hợp lý trong quy định tại Điều 183 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, đồng thời, khắc phục những điểm còn chưa hợp lý, tác giả cho rằng, tổ chức thi hành pháp luật có thể hiểu gồm các phương thức cơ bản sau: (i) Ban hành chương trình, kế hoạch triển khai các quy định pháp luật; (ii) Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật; (iii) Tổ chức các công việc giải quyết các yêu cầu tiếp cận dịch vụ công hoặc dịch vụ hành chính công của công dân (tiến hành các hoạt động đăng ký, cấp phép, cấp giấy chứng nhận...); (iv) Tổ chức bộ máy, nhân sự, trang thiết bị, ngân sách và các điều kiện bảo đảm khác để tổ chức thi hành pháp luật; (v) Tiến hành các hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo; (vi) Giải quyết các kiến nghị của các tổ chức, cá nhân; (vii) Tiến hành hoạt động theo dõi thi hành pháp luật; (viii) Tiến hành các hoạt động sơ kết, tổng kết thi hành pháp luật[11].

4. Đặc điểm của tổ chức thi hành pháp luật

Thứ nhất, tổ chức thi hành pháp luật là hoạt động có chủ đích rõ ràng. Tổ chức thi hành pháp luật thường là hoạt động được tính toán kỹ lưỡng (thông qua các kế hoạch tổ chức thi hành pháp luật, bố trí nguồn lực cho tổ chức thi hành pháp luật…), nhằm bảo đảm cho những tác động dự kiến khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật được hiện thực hóa.

Thứ hai, tổ chức thi hành pháp luật thường mang tính công quyền rõ nét. Tổ chức thi hành pháp luật chỉ là hoạt động của loại chủ thể đặc biệt là cơ quan hành chính nhà nước nhằm thúc đẩy, bảo đảm các yêu cầu trong quy định của pháp luật (dưới dạng quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan) được hiện thực hóa. Chính vì thế, trong nhiều trường hợp, chủ thể tổ chức thi hành pháp luật có thể sử dụng quyền uy để phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật (các hành vi lệch chuẩn). Tuy nhiên, do việc tổ chức thi hành pháp luật thường gắn với yếu tố quyền uy nên để bảo đảm tổ chức thi hành pháp luật hiệu lực, hiệu quả, rất cần lưu ý tới những rủi ro mà hoạt động tổ chức thi hành pháp luật có thể gặp phải, trong đó có rủi ro xâm phạm các quyền con người, quyền công dân trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật.

Thứ ba, việc tổ chức thi hành pháp luật đối với lĩnh vực pháp luật tư và tổ chức thi hành pháp luật đối với lĩnh vực pháp luật công có những điểm khác biệt rất đáng lưu ý. Đối với lĩnh vực pháp luật công, pháp luật đặt ra nhiều nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trước Nhà nước và yêu cầu các tổ chức, cá nhân phải tuân thủ hoặc chấp hành nghiêm chỉnh, từ đó, trong không ít trường hợp là sự ràng buộc quyền tự do của con người. Chính vì thế, việc tổ chức thi hành pháp luật đối với lĩnh vực pháp luật công thường đòi hỏi sự hiện diện của các thiết chế chuyên trách để tiến hành các hoạt động theo dõi, giám sát, phát hiện hành vi vi phạm và tiến hành xử lý hành vi vi phạm (hoặc truy tố người vi phạm trước Tòa án). Đối với lĩnh vực pháp luật tư, các quyền và nghĩa vụ pháp lý được xác lập dựa trên ý chí tự nguyện của các bên (thông qua hành vi sử dụng pháp luật). Khi có tranh chấp (hoặc có hành vi vi phạm), các bên sẽ đưa vụ việc của mình ra các thiết chế tài phán (Tòa án, trọng tài) hoặc hòa giải để giải quyết (nếu không tự thương lượng được). Chính vì thế, sau khi các quy tắc pháp luật tư được ban hành, việc tổ chức thi hành pháp luật chủ yếu dừng ở các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn, giải đáp pháp luật hơn là việc thực hiện các công việc theo dõi, giám sát, phát hiện hành vi vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật.

Thứ tư, tổ chức thi hành pháp luật do một loại chủ thể công quyền thực hiện, đó là các cơ quan hành chính nhà nước (thông qua đội ngũ công chức của mình). Cơ quan hành chính là chủ thể chịu trách nhiệm hàng đầu để bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và đầy đủ. Do đó, ở đâu trật tự pháp luật không được xác lập hoặc an ninh, trật tự có vấn đề, ở đó có trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước phụ trách địa bàn/lĩnh vực đó.

Thứ năm, tổ chức thi hành pháp luật với tư cách là một hoạt động quản lý nhà nước đối với xã hội vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Hoạt động này bị chi phối bởi những yêu cầu, đòi hỏi và quy luật khách quan mà chủ thể tổ chức thi hành pháp luật phải nhận diện đầy đủ thì mới thiết kế được các phương án tổ chức thi hành pháp luật hiệu quả nhất. Thêm vào đó, việc tổ chức thi hành pháp luật tác động trực tiếp tới nhận thức, thói quen (đôi khi đã ăn sâu, bám rễ trong nhận thức, phong tục, tập quán của các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ chấp hành pháp luật) nên để đạt được mục tiêu điều chỉnh pháp luật đề ra ban đầu rất có thể cần nghệ thuật thuyết phục, tổ chức thi hành cùng sự kiên quyết, kiên trì trong tổ chức thực hiện.

Thứ sáu, tổ chức thi hành pháp luật có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động thực thi quyền lực nhà nước khác, bao gồm hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân và hoạt động lập pháp, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan dân cử. Việc tổ chức thi hành pháp luật sẽ khó đạt mục đích nếu thiếu vắng sự tồn tại của hệ thống Tòa án hoạt động hiệu lực, hiệu quả cao. Việc có quá nhiều vụ án hình sự, các tranh chấp dân sự được đưa ra trước Tòa án nhưng không được thụ lý và giải quyết đúng hạn chắc chắn sẽ làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật. Ngược lại, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Tòa án nhân dân cũng đòi hỏi hoạt động tổ chức thi hành pháp luật được thực hiện với hiệu lực, hiệu quả cao. Các phán quyết của Tòa án sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu không được tổ chức thi hành một cách nghiêm minh.

TS. Nguyễn Văn Cương
Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp




[1]. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Nxb. Chính trị quốc gia, 2013, tr. 396.

[2]. GS.TS. Hoàng Thị Kim Quế, Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật (Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015), tr. 493 - 495.

[3]. TS. Lê Thành Long (chủ biên), Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn về theo dõi thi hành pháp luật (Hà Nội: Nxb. Tư pháp, 2011), tr. 40.

[4]. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt (Đà Nẵng: Nxb. Đà Nẵng, 2004), tr. 1007.

[5]. Nguyên văn “to make arrangements for something to happen” hoặc “to do or arrange something to a particular system” .

[6]. Bryan A. Garner (ed.), Black’s Law Dictionary, 9th ed. (St. Paul, MN: Thomson Reuteurs, 2009) at 651 (nguyên văn: The power to see that the laws are duly executed and enforced).

[7]. Andre Kaiser, “Executive Power” in Keith Dowding (ed.), Encyclopedia of Power (London: Sage, 2011) at 228 (nguyên văn “the executive power is the authority to enforce laws and to ensure that they are implemented as intended”).

[8]. Cần lưu ý rằng, thuật ngữ “đạo luật” (laws) ở nhiều quốc gia cần được hiểu chính là các quyết định có tính ràng buộc pháp lý của Quốc hội chứ không chỉ dừng lại ở các văn bản do Quốc hội ban hành có chứa quy phạm pháp luật.

[9]. Theo quan niệm được nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam tán đồng, quyền hành pháp trong các nền chính trị hiện đại ngày nay không chỉ là thi hành các đạo luật của Quốc hội mà phải bao gồm nghĩa đầy đủ hơn là hoạch định và điều hành chính sách quốc gia (xem: Bùi Xuân Đức (2019) “Quyền hành pháp theo Hiến pháp năm 2013: Những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện” http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210390).

[10]. Tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra, theo dõi việc thi hành pháp luật; ban hành văn bản hướng dẫn thi hành; ban hành kế hoạch và triển khai các biện pháp thực hiện, trong đó có phổ biến văn bản; bảo đảm các điều kiện thi hành như nguồn lực, tài chính, tổ chức bộ máy, cán bộ; kiểm tra, xử lý vi phạm; giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân; đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đánh giá tính hợp lý, khả thi của văn bản, tác động của văn bản đối với đời sống xã hội để có kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật nói chung…

[11]. Xem thêm: Đề tài khoa học cấp Bộ (năm 2018) “Cơ chế tổ chức thi hành pháp luật: Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Bộ Tư pháp do GS.TS. Hoàng Thế Liên làm chủ nhiệm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: