Thứ ba 17/03/2026 16:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề pháp lý phát sinh trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là vấn đề không mới trong xã hội hiện đại. Đặc biệt, xã hội ngày nay đã và đang đặt ra rất nhiều vấn đề phức tạp là nguyên nhân dẫn đến tình trạng vô sinh hiếm muộn có xu hướng ngày càng tăng cao. Bài viết phân tích những khía cạnh về bản chất pháp lý của sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Đồng thời, bài viết cũng tập trung phân tích các vấn đề pháp lý phát sinh có tính dự liệu trước thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về vấn đề này. Trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật, tác giả chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế, từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản - một trong những vấn đề bộc lộ nhiều khó khăn và mang tính nhạy cảm cao trong giai đoạn hiện nay.


1. Nhận diện bản chất pháp lý của sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là một trong những quan hệ xã hội khá phức tạp, có mối liên hệ chặt chẽ cả về các yếu tố về y học và các yếu tố pháp lý. Xét dưới phương diện y học, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản khá đa dạng, bao gồm nhiều phương pháp khác nhau nhằm mục đích điều trị tình trạng vô sinh, hiếm muộn, giúp các cặp vợ chồng được thực hiện quyền làm cha, làm mẹ. Về bản chất, đặc trưng cơ bản nhất của việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là hình thức sinh con phải có sự can thiệp của các kỹ thuật y sinh học; áp dụng các tri thức về khoa học để hỗ trợ cho việc sinh con mà vì lý do nào đó không thể thụ thai tự nhiên. Tùy thuộc vào thể trạng và các yếu tố sinh học của mỗi cá nhân khác nhau, các bác sĩ, chuyên gia có thể lựa chọn các phương pháp hỗ trợ sinh sản cho phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất.

Dưới phương diện pháp lý, trước đây, để xác định các trường hợp sinh con cần có sự tác động, can thiệp của y học, pháp luật Việt Nam sử dụng thuật ngữ “sinh con theo phương pháp khoa học” tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/02/2003 của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học (Nghị định số 12/2003/NĐ-CP). Theo đó, “sinh con theo phương pháp khoa học là việc sinh con được thực hiện bằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm”. Tuy nhiên, về mặt logic, khái niệm về sinh con bằng phương pháp khoa học được quy định trên không thật sự hợp lý. Bởi lẽ, cách định nghĩa như trên là sử dụng một khái niệm khác để giải thích cho khái niệm cần làm rõ. Với cách định nghĩa này, một lần nữa lại cần làm rõ khái niệm “sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” là gì. Điều này tạo ra sự rườm rà và khó hiểu trong việc vận dụng thuật ngữ. Do đó, để khắc phục hạn chế này, khoản 21 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã pháp điển hóa bằng cách sử dụng khái niệm thống nhất là “sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản”. Theo đó, “sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”. Như vậy, pháp luật hiện hành đã có sự thay đổi trong việc điều chỉnh thuật ngữ pháp lý nói trên. Điều này là phù hợp, dễ hiểu và súc tích. Định nghĩa này đã chỉ ra rằng, hai phương thức quan trọng để thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm.

Đối với kỹ thuật thụ tinh nhân tạo: Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ông nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Nghị định số 10/2015/NĐ-CP) không đưa ra cách giải thích từ ngữ cụ thể. Đồng thời, khoản 2 Điều 1 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định về phạm vi điều chỉnh cũng đã giới hạn rằng: “Việc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo được thực hiện theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này”[1]. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng, việc làm rõ khái niệm này là rất cần thiết bởi lẽ thực tế vẫn có sự nhầm lẫn trong cách thức vận dụng hai trường hợp này khi tiến hành thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Trước đây, định nghĩa về thụ tinh nhân tạo đã được quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 12/2003/NĐ-CP. Về mặt kỹ thuật thì phương pháp này được quy định cụ thể tại Mục III Thông tư 12/2012/TT-BYT ngày 05/7/2012 của Bộ Y tế ban hành quy trình kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm. Theo đó, thụ tinh nhân tạo là kỹ thuật không quá phức tạp, kỹ thuật này được thực hiện nhằm mục đích giúp các chủ thể có nhu cầu gia tăng khả năng thụ thai, với cách thực hiện tự thụ tinh và phát triển ngay trong cơ thể của người phụ nữ mà không cần phải tạo phôi ở môi trường bên ngoài và chuyển phôi để người phụ nữ này mang thai.

Đối với kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm: Xét dưới khía cạnh y học, thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp tạo phôi bên ngoài cơ thể, sau một thời gian nuôi cấy bên ngoài, phôi sẽ được đưa trở lại buồng tử cung của người phụ nữ để làm tổ và bắt đầu quá trình mang thai. Đây là một kỹ thuật y khoa phức tạp được sử dụng điều trị các trường hợp vô sinh, hiếm muộn và là phương pháp đem lại hiệu quả điều trị khá cao trong giai đoạn hiện nay. Xét dưới khía cạnh pháp lý, định nghĩa thụ tinh trong ống nghiệm được quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP. Đây là sự kế thừa quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định số 12/2003/NĐ-CP trước đây. Đồng thời, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP cũng đưa ra các định nghĩa nhằm giải thích cụ thể cho sự kết hợp để tạo phôi như quy định tại khoản 4 Điều 2, khoản 3 Điều 3. Như vậy, thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp thực hiện hỗ trợ sinh con trên cơ sở ứng dụng khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực y học nhằm tạo phôi từ sự kết hợp giao tử của nam và nữ. Việc tạo phôi này phải được thực hiện trong ống nghiệm, bên ngoài cơ thể. Điều này cũng có nghĩa là, thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp thường được thực hiện khi các chủ thể không có khả năng thụ tinh tự nhiên hoặc thụ tinh nhân tạo không phát huy hiệu quả. Ngày nay, thụ tinh trong ống nghiệm chủ yếu được dùng trong điều trị vô sinh hoặc thực hiện kỹ thuật mang thai hộ.

2. Một số vấn đề pháp lý phát sinh trong trường hợp sinh con từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và giải pháp hoàn thiện

Trong những thập niên gần đây, việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã không còn là khái niệm xa lạ đối với nhiều người tại Việt Nam nói riêng và nhiều quốc gia trên thế giới nói chung. Việc áp dụng kỹ thuật này để sinh con cũng đã và đang trở thành lựa chọn của rất nhiều cặp vợ chồng không thể có khả năng làm cha mẹ một cách tự nhiên. Tuy nhiên, với những đặc trưng của một quan hệ chỉ có thể tiến hành dựa trên cơ sở của việc ứng dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì vấn đề này cũng đang đặt ra nhiều rắc rối, phức tạp. Một số vấn đề pháp lý phát sinh chưa theo kịp những thay đổi có liên quan đến việc thực hiện kỹ thuật này trong thực tiễn. Điều này thể hiện rõ trong các vấn đề sau:

Một là, theo quy định của pháp luật hiện hành, việc thực hiện sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm sẽ phải trải qua nhưng quy trình khắt khe về mặt kỹ thuật[2]. Tuy nhiên, không có điều gì có thể đảm bảo rằng việc thực hiện các quy trình kỹ thuật đó là luôn luôn đúng. Giả thiết được đặt ra là, nếu trong quá trình cặp vợ chồng vô sinh thực hiện kỹ thuật này nhưng sai sót là các kỹ thuật viên y tế đã cấy nhầm phôi. Sau đó, khi đứa trẻ được sinh ra thì họ xét nghiệm đứa trẻ này không có cùng huyết thống với chính họ. Vậy, việc giải quyết hậu quả pháp lý trong trường hợp trên được đặt ra như thế nào?

Vấn đề này cũng sẽ là trở ngại đối với trường hợp các bên thực hiện mang thai hộ. Pháp luật Việt Nam hiện hành cho phép các cặp vợ chồng không thể mang thai và sinh con ngay cả khi thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Song, với giả thiết về việc “cấy nhầm phôi” nói trên thì rõ ràng, giữa các bên không phát sinh những tranh chấp trong việc thực hiện mang thai hộ, đứa trẻ sau khi sinh ra vẫn được chuyển giao và thực hiện các thủ tục hộ tịch nên không thể có sự can thiệp từ các cơ quan có thẩm quyền về việc xác định thỏa thuận mang thai hộ trên là vô hiệu do vi phạm quy định về điều kiện thực hiện. Điều này cũng dẫn đến hệ quả là không có bất kỳ chế tài nào được áp dụng để xử lý các trường hợp mang thai hộ vi phạm quy định của pháp luật đối với các bên cũng như đối với cơ sở y tế thực hiện kỹ thuật này. Do đó, vấn đề này cần được cân nhắc và hướng dẫn kịp thời nhằm tránh các trường hợp vi phạm xảy ra cũng như tạo cơ chế pháp lý và sự ràng buộc trách nhiệm đối với các cơ sở y tế thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm.

Theo quan điểm tác giả, nếu việc vi phạm về các điều kiện thực hiện (như trường hợp cấy nhầm phôi nêu trên), nhưng đứa trẻ đó được sinh ra thì cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ vẫn được xác định là cha mẹ của trẻ và có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ để đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ. Tuy nhiên, pháp luật cũng cần đặt ra các biện pháp chế tài xử lý đủ sức răn đe đối với các cơ sở y tế để hạn chế tình trạng thẩm định hồ sơ mang thai hộ tắc trách dẫn đến sự vi phạm pháp luật. Chẳng hạn, tước giấy phép thực hiện nếu vi phạm quá số lần quy định; tước chứng chỉ hành nghề đối với cán bộ y tế thẩm định thiếu trách nhiệm dẫn đến sai phạm, đồng thời áp dụng các hình phạt khác như phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ... Đối với chủ thể thực hiện mang thai hộ cố tình lợi dụng quy định của pháp luật về mang thai hộ vì mục đích thương mại để vi phạm về điều kiện thực hiện có thể bị xử lý hành chính, dân sự hoặc hình sự tùy thuộc mức độ vi phạm.

Hai là, việc giải quyết quan hệ cha, mẹ, con trong một số trường hợp “hi hữu” nhưng hoàn toàn có khả năng xảy ra trên thực tế là chưa có những dự liệu phù hợp, dẫn đến không có cơ sở để giải quyết tranh chấp cho các chủ thể (nếu có) phát sinh. Vấn đề này được minh chứng cụ thể trong tình huống sau: Chị C thỏa thuận đồng ý mang thai hộ vì mục đích thương mại với giá 300 triệu đồng cho vợ chồng anh A và chị B. Sau khi cấy phôi được hình thành từ cặp vợ chồng A và B thì chị C được thông báo là đã mang thai đôi. Quá trình mang thai thuận lợi và chị C đã sinh được hai bé là cháu M và cháu N. Sau khi sinh, hai cháu được giao cho bên nhờ mang thai hộ là anh A và chị B. Tuy nhiên, sau đó, qua một xét nghiệm thì các bên phát hiện ra rằng, một trong hai đứa trẻ là cháu M không phải là con của A và B mà là con đẻ của chị C và chồng (do trong quá trình cấy phôi thai, chị C cũng có quá trình rụng trứng và thụ thai). Hiện tượng y học hiếm gặp này được gọi là “siêu thai”, trong đó, một người phụ nữ tiếp tục rụng trứng sau khi mang thai. Hai em bé có gen di truyền khác nhau đã ở trong cùng một bụng mẹ. Chị C yêu cầu hai vợ chồng anh A và chị B trao trả con nhưng không được chấp nhận. Hai vợ chồng này yêu cầu chị C phải trả một khoản tiền lớn để bồi thường nếu muốn nhận con. Do không đủ tiền bồi thường, nên cháu M đã bị vợ chồng A và B bỏ rơi.

Như vậy, rõ ràng thỏa thuận giữa các bên là mang thai hộ vì mục đích thương mại, là hành vi vi phạm pháp luật. Như vậy, đương nhiên, nếu chị C khởi kiện yêu cầu được nhận lại con hoặc vợ chồng A và B khởi kiện yêu cầu trả cháu M nhưng chị C không nhận thì thỏa thuận này bị tuyên bố là vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật. Tuy nhiên, trường hợp trên sẽ phát sinh hai vấn đề cần giải quyết:

- Việc xác định quan hệ cha, mẹ, con đối với cả hai đứa trẻ trong trường hợp trên được giải quyết thế nào? Căn cứ vào quy định tại khoản 6 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trường hợp này vẫn có thể được xác định là “tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân và ngay cả khi không rơi vào điều luật này thì Tòa án nhân dân cũng không có quyền từ chối giải quyết vì lý do không có điều luật áp dụng[3]. Tuy nhiên, cách thức giải quyết tranh chấp nói trên hiện chưa có những hướng dẫn cụ thể nên gây khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật. Trong những trường hợp trên, nếu bên nhờ mang thai hộ có yêu cầu Tòa án giải quyết thì chắc chắn hợp đồng mang thai hộ được xác định là vô hiệu. Tuy nhiên, những phụ nữ mang thai hộ vì mục đích thương mại mang thai vì hi vọng kiếm tiền, do đó, khi hợp đồng bị tuyên bố là vô hiệu, họ sẽ phải tự sinh con và nuôi con. Đứa trẻ được sinh ra được xác định là con của bên mang thai hộ và chồng của người đó nếu có theo nguyên tắc suy đoán pháp lý được quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 dù cho đứa trẻ không có huyết thống với họ. Trong khi đó, bên nhờ mang thai hộ không thể nhận con có cùng “máu mủ” với chính mình. Điều này rõ ràng có ảnh hưởng sâu sắc đến quyền lợi của trẻ em, làm mất ổn định trật tự xã hội. Vì vậy, dưới góc độ bảo vệ quyền trẻ em, tác giả cho rằng, việc thực hiện theo nguyên tắc trên là không hợp lý. Bởi vì, đứa trẻ không có cùng huyết thống với người mang thai hộ nhưng họ vẫn được xác định là cha, mẹ của trẻ thì trẻ em sẽ phải đối diện với nguy cơ bị bỏ rơi, bị xâm phạm về quyền và lợi ích hợp pháp bởi lẽ rõ ràng người mang thai hộ không mong muốn được nuôi trẻ. Vì vậy, trẻ em sẽ lại là nạn nhân của một thỏa thuận trái pháp luật do người lớn thực hiện. Quan điểm của tác giả cho rằng, cho dù rơi vào hoàn cảnh nào thì trẻ em vẫn luôn phải là đối tượng được ưu tiên và bảo vệ tối đa. Nguyên tắc này cần phải được luật hóa: “Trong mọi trường hợp, lợi ích của trẻ em được sinh ra từ kỹ thuật này luôn được đặt lên hàng đầu và phải được xem là tối quan trọng”. Do đó, mặc dù là mang thai hộ vì mục đích thương mại nhưng nếu đứa trẻ được xác định là có quan hệ huyết thống với người nhờ mang thai hộ thì vẫn được xác định là con của cặp vợ chồng này để đảm bảo rằng trẻ nhận được tình yêu thương và chăm sóc chu đáo. Đồng thời, để xây dựng hành lang pháp lý ngăn chặn và xử lý hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại thì chính người nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ phải chịu những chế tài của pháp luật vì những hành vi vi phạm của mình để đảm bảo sự răn đe và tính nghiêm minh của pháp luật. Do đó, Nhà nước cần xây dựng cơ chế kiểm soát tốt việc mang thai hộ, có chế tài nghiêm khắc với các cán bộ y tế thực hiện mang thai hộ vì mục đích thương mại và áp dụng ngay cả với người mang thai hộ và người nhờ mang thai hộ vì mục đích thương mại. Điều này sẽ góp phần bảo vệ tốt hơn quan hệ pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

- Giả sử như trường hợp hi hữu về việc mang “siêu thai” nói trên nhưng lại được thực hiện trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo hoàn toàn hợp pháp thì được giải quyết như thế nào? Giả thuyết được đặt ra là chị C yêu cầu vợ chồng anh A và chị B trả con đẻ nhưng không được chấp nhận nên chị C khởi kiện tại Tòa án nhân dân. Rõ ràng đứa trẻ này được sinh ra từ kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nên theo nguyên tắc tại Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì trẻ được xác định là con của bên nhờ mang thai hộ. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, đối với trường hợp này không thể áp dụng nguyên tắc xác định quan hệ cha, mẹ, con nói trên để giải quyết mà cần căn cứ vào việc xác định quan hệ huyết thống của trẻ với cha, mẹ để giải quyết. Về nguyên tắc, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là kỹ thuật bắt buộc thực hiện thụ tich trong ống nghiệm từ giao tử của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ nên trẻ sinh ra sẽ có quan hệ huyết thống với bên nhờ mang thai. Do đó, nếu đứa trẻ không phải là con do bên mang thai hộ nhờ mang thai thì đứa trẻ được sinh ra vẫn được xác định là con của người mang thai hộ. Các bên có thể chứng minh qua việc cung cấp kết quả giám định AND và theo đó, các bên phải thực hiện nghĩa vụ nhận/giao con nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên và lợi ích hợp pháp của bên mang thai hộ và của chính bản thân trẻ em.

Tóm lại, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là một trong những quan hệ pháp luật chịu những tác động nhất định của các khía cạnh pháp lý, y học, khoa học kỹ thuật và đạo đức. Đây là vấn đề không còn quá mới nhưng có xu hướng phát triển nhanh trong giai đoạn gần đây, nhất là khi những tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật và y học đã và đang tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội. Do vậy, việc dự liệu những mối quan hệ phát sinh và xử lý những hệ quả pháp lý mang tính dự báo là vô cùng quan trọng. Điều này vừa góp phần đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, đặc biệt là lợi ích của trẻ em, vừa góp phần ổn định xã hội, tránh những tranh chấp không đáng có, tạo cơ sở cho việc kiện toàn hệ thống pháp luật đáp ứng những yêu cầu đa dạng, phức tạp và nhiều biến động trong bối cảnh xã hội ngày càng hiện đại.

TS. Nguyễn Thị Lê Huyền
Trường Đại học Luật, Đại học Huế


[1] Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2019 không đưa ra cách giải thích về thụ tinh nhân tạo.

[2] Xem thêm Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-BYT ngày 30/01/2019 của Bộ Y tế quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

[3] Xem khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: