Thứ ba 10/03/2026 09:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề pháp lý về quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết phân tích một số khái niệm về quyền tài sản, trên cơ sở đó nhận diện các quyền tài sản là một dạng tài sản. Bên cạnh đó, bài viết tập trung phân tích các quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015, phân biệt quyền tài sản là một loại tài sản với quyền tài sản chỉ là một vật quyền, đặc biệt chỉ ra sự khác biệt giữa loại tài sản này và các quyền khác đối với tài sản.

Bài viết phân tích một số khái niệm về quyền tài sản, trên cơ sở đó nhận diện các quyền tài sản là một dạng tài sản. Bên cạnh đó, bài viết tập trung phân tích các quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015, phân biệt quyền tài sản là một loại tài sản với quyền tài sản chỉ là một vật quyền, đặc biệt chỉ ra sự khác biệt giữa loại tài sản này và các quyền khác đối với tài sản.

Quyền tài sản (QTS) là một khái niệm có nhiều quan điểm khác nhau, việc phân biệt QTS là một dạng tài sản với các quyền khác đối với tài sản nói chung theo nghĩa rộng (vật quyền) và với các quyền khác đối với tài sản theo luật thực định (được luật thực định ghi nhận cụ thể) không phải lúc nào cũng dễ dàng. Sự biểu hiện đa dạng của các vật quyền trên tài sản tạo ra ranh giới mong manh trong sự phân định QTS là một loại tài sản với các vật quyền khác không là đối tượng tài sản. Bên cạnh đó, trong xã hội công nghệ hiện đại, với sự xuất hiện ngày càng nhiều loại tài sản mới dưới dạng QTS đòi hỏi nhà làm luật cần có những quy định kịp thời để điều chỉnh các giao dịch liên quan đến các tài sản mới này. Do vậy, việc làm rõ các vấn đề nêu trên về QTS là rất cần thiết.

1. Nhận diện quyền tài sản là một loại tài sản

Xét về mặt khoa học pháp lý thì chưa có một khái niệm chính thống về QTS. Hiện nay đang tồn tại những quan điểm khác nhau về QTS.

Có quan điểm cho rằng, “quyền tài sản có thể được hiểu theo nghĩa rộng là tổng hợp các quyền và lợi ích của chủ thể trong việc chi phối, kiểm soát tài sản gồm chủ sở hữu và người có quyền khác với tài sản”[1]. Qua đây, có thể thấy, ý kiến này nhìn nhận QTS theo nghĩa rộng, không chỉ bao gồm quyền sở hữu mà bao gồm bất cứ quyền và lợi ích nào khác có giá trị kinh tế và thuộc về một chủ thể nhất định.

Theo Giáo trình của Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, “quyền tài sản là một dạng tài sản đặc thù, không tồn tại dưới dạng vật chất hữu hình, là một loại quyền dân sự có nội dung kinh tế, có thể trị giá được bằng tiền, do chủ thể có quyền tự mình thực hiện hoặc yêu cầu người khác thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của người có quyền”[2]. Định nghĩa này đã khái quát dấu hiệu của QTS ở khía cạnh là một dạng tài sản, đó là quyền dân sự có tính chất vô hình và có thể trị giá được bằng tiền. Như vậy, dù không thể hiện tường minh, nhưng khi xem xét ở khía cạnh quyền, QTS theo định nghĩa chỉ bao gồm quyền sở hữu (do là một dạng tài sản) đối với những thứ vô hình, không bao hàm các quyền và lợi ích khác, tức những vật quyền chưa được xem là tài sản. Định nghĩa cũng nêu lên cách thức tác động của chủ thể có QTS là có thể tự mình thực hiện quyền (quyền đối vật) hoặc yêu cầu người khác thực hiện (quyền đối nhân).

Tại Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 105 đã khẳng định QTS là một loại tài sản và được cụ thể hóa tại Điều 115 như sau: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”. Định nghĩa đã không chỉ ra đầy đủ những đặc trưng để nhận diện tài sản ngoài dấu hiệu “trị giá được bằng tiền”, không giúp phân biệt được QTS là một loại tài sản và các quyền khác đối với tài sản. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã xây dựng các quy định về các quyền khác đối với tài sản bên cạnh quyền sở hữu đã cho thấy một bước tiến mới trong chế định tài sản nói chung, QTS nói riêng.

Một QTS như thế nào thì được xem là tài sản? Theo một định nghĩa về tài sản trong quyển Deluxe Black‘s Law Dictionary, “tài sản là một từ để chỉ mọi thứ là đối tượng của quyền sở hữu”[3]. Với quy định hiện hành ở Việt Nam, quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt[4]. Như vậy, một thứ là đối tượng của quyền sở hữu có nghĩa là thứ đó có thể được chiếm hữu, sử dụng, định đoạt bởi một chủ thể nào đó[5]. Ở nhiều nước trên thế giới, quyền sở hữu gồm quyền sử dụng và quyền định đoạt, việc chiếm hữu tài sản được pháp luật các nước quy định như là một tình trạng thực tế đối với tài sản[6]. Theo học thuyết của Harold Demsetz và thực tiễn đã cho thấy, một QTS có thể được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau. QTS có thể được nhiều người khác nhau thực hiện và trong những trường hợp cụ thể, “việc thực hiện các quyền trên không có ý nghĩa và thích hợp cho việc xác lập quyền sở hữu”[7]. Từ đó, với cách nhìn này cho phép chúng ta lý giải việc các quyền thế chấp, cầm cố, chuyển nhượng, ưu tiên thanh toán, truy đòi tài sản và các quyền khác ở mức độ nào đó có thể hiểu có giá trị kinh tế nhưng không được xem là tài sản.

Bên cạnh đó, việc xác định các quyền nào là đối tượng của quyền sở hữu còn phụ thuộc vào các nhà lập pháp của mỗi quốc gia. Chẳng hạn, theo pháp luật Việt Nam, quyền hưởng dụng không được coi là đối tượng của quyền sở hữu, đó là những quyền được xác lập trên tài sản của người khác, đó là một bộ phận trong các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản mà không được tách ra thành một tài sản độc lập với đầy đủ các quyền năng của chủ sở hữu; người có quyền hưởng dụng không được ghi nhận quyền được bán, cầm cố hoặc thế chấp quyền hưởng dụng[8] nên chủ thể không thể thực hiện quyền này[9]. Tuy nhiên, theo pháp luật Pháp, quyền hưởng dụng cũng là một quyền được xác lập trên tài sản của người khác, nhưng luật của Pháp đã khẳng định người có quyền hưởng dụng có thể bán quyền hưởng dụng, điều này cho thấy, quyền hưởng dụng bản thân nó cũng là đối tượng của quyền sở hữu, là một tài sản[10]. Hoặc theo pháp luật Việt Nam, quyền sử dụng đất là tài sản dưới dạng QTS, nhưng theo pháp luật của nhiều nước trên thế giới, quyền sử dụng đất là một quyền năng trong quyền sở hữu đất đai.

2. Quyền tài sản và các quyền khác đối với tài sản theo Bộ luật Dân sự năm 2015

Mặc dù Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định QTS là “quyền trị giá được bằng tiền” nhưng không phải bất cứ quyền nào trị giá được bằng tiền cũng được xem là đối tượng tài sản, nói cách khác là không xác lập cho chủ thể quyền được quyền sở hữu đối với QTS đó mà thuần túy chỉ là một vật quyền, là một bộ phận của quyền sở hữu. Điều 159 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã ghi nhận ba loại vật quyền gọi là “quyền khác đối với tài sản”, là những quyền của chủ thể được xác lập trên tài sản “thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác” gồm quyền hưởng dụng, quyền bề mặt, quyền đối với bất động sản liền kề. Đây là những quyền được tách ra từ quyền sở hữu để trở thành quyền độc lập[11]. Nổi bật là quyền hưởng dụng và quyền bề mặt là những quyền có thể định giá được thành tiền và có thể dễ dàng chuyển giao trong giao lưu dân sự[12].

Đối với quyền bề mặt, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã ghi nhận quyền của chủ thể có quyền bề mặt thông qua quy định nội dung của quyền bề mặt tại Điều 271, bên cạnh việc tự mình khai thác sử dụng bề mặt, cũng như có quyền sở hữu tài sản được tạo ra từ việc khai thác, sử dụng này, người có quyền bề mặt còn có thể chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền bề mặt. Như vậy, chủ thể của quyền bề mặt có thể chuyển quyền sở hữu tài sản và quyền khai thác mặt nước, mặt đất, lòng đất cho người khác thông qua các giao dịch như mua bán, tặng cho, thế chấp, trao đổi tài sản. Đối với quyền hưởng dụng, theo Điều 261 Bộ luật Dân sự năm chỉ cho phép người có quyền hưởng dụng cho thuê quyền hưởng dụng. Đồng thời, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng đã quy định chủ thể có quyền khác đối với tài sản được thực hiện mọi hành vi “trong phạm vi quyền được quy định” tại Bộ luật này, luật khác có liên quan. Trong khi đó, chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng “không được trái với quy định của luật”[13]. Điều này cũng đồng nghĩa người có quyền hưởng dụng không thể chuyển nhượng, chuyển đổi hay thế chấp quyền hưởng dụng do không được luật quy định. Quyền hưởng dụng có thể chuyển giao khá dễ dàng, cách thức xác lập quyền tương tự như quyền bề mặt nhưng luật không cho phép chuyển giao như quyền bề mặt. Khác với Việt Nam, theo pháp luật Pháp, quyền hưởng dụng cũng là một quyền được xác lập trên tài sản của người khác[14], nhưng luật của Pháp đã khẳng định mạnh mẽ quyền của người hưởng dụng không chỉ có thể cho thuê quyền hưởng dụng mà thậm chí có thể bán quyền hưởng dụng[15]. Thiết nghĩ, pháp luật Việt Nam cũng nên ghi nhận quyền định đoạt của chủ thể có quyền hưởng dụng như là chủ sở hữu một tài sản độc lập, tức có thể chuyển đổi, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố quyền hưởng dụng.

Có thể thấy, đối với quyền hưởng dụng, quyền đối với bất động sản liền kề, luật quy định quyền của chủ thể khá hạn chế, ví dụ, chủ thể của quyền hưởng dụng có thể cho thuê quyền hưởng dụng và chỉ được hưởng dụng trong thời gian nhất định; hoặc quyền đối với bất động sản liền kề sẽ được chuyển giao cho người nhận chuyển nhượng bất động sản có quyền đó, chủ thể có quyền đối với bất động sản liền kề hoàn toàn không thể định đoạt quyền này một cách độc lập. Tuy nhiên, đối với quyền bề mặt, luật đã ghi nhận chủ thể quyền có thể chuyển giao quyền bề mặt, điều đó được hiểu chủ thể của quyền bề mặt có quyền định đoạt quyền bề mặt theo ý chí của mình[16]. Do đó, mặc dù được tách ra từ quyền sở hữu, nhưng với quyền năng của chủ thể mang quyền bề mặt, ở một mức độ nhất định, nhà làm luật đã xem quyền bề mặt là đối tượng của quyền sở hữu, là một loại tài sản dưới dạng QTS, mặc dù nó được tách ra từ một tài sản khác là quyền sử dụng đất. Hoặc cũng có thể hiểu nhà làm luật đã quy định quyền này như một ngoại lệ, đặc quyền của quyền khác đối với tài sản. Điểm khác biệt so với các chủ sở hữu khác là chủ thể của quyền bề mặt chỉ có quyền này trong một thời hạn nhất định.

3. Xác định phạm trù quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Như đã trình bày, QTS theo nghĩa rộng có thể bao gồm quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản (gọi ngắn gọn là quyền đối với tài sản hay vật quyền). Những thứ vô hình là đối tượng của quyền sở hữu với những đặc trưng nêu trên được gọi là tài sản dạng quyền tài sản, ở Việt Nam, quyền này quy định tại Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đối với các vật quyền trên tài sản, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã lựa chọn ba loại vật quyền để điều chỉnh riêng biệt tại Điều 159 Bộ luật Dân sự năm 2015, gọi là các “quyền khác đối với tài sản”, được tách ra từ quyền sở hữu, ghi nhận song song, bên cạnh quyền sở hữu. Như vậy, có thể thấy, quyền đối với tài sản theo luật thực định Việt Nam bao gồm quyền sở hữu đối với những thứ vô hình (được hiểu là một loại tài sản), các quyền khác đối với tài sản theo Điều 159 Bộ luật Dân sự năm 2015 và những vật quyền khác. Các vật quyền này có thể chuyển hóa thành tài sản khi được pháp luật thừa nhận.

Theo Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”. Qua nghiên cứu chế định QTS, có thể liệt kê một số QTS là một dạng tài sản như sau: Quyền đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất, quyền đòi nợ, QTS phát sinh từ hợp đồng, quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm[17]. Ngoài ra, khi Bộ luật Dân sự năm 2015 đã không buộc QTS phải là quyền có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự thì các quyền như quyền được cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe, danh dự và các QTS khác là những quyền trị giá được thành tiền, dù không thể chuyển giao trong giao lưu dân sự cũng được xem là QTS.

“Các quyền tài sản khác” tại Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể liệt kê một số quyền như sau: Quyền đòi nợ[18], quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên[19], QTS phát sinh từ hợp đồng; quyền được nhận số tiền bảo hiểm, QTS đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp[20], quyền sử dụng khu vực biển được giao để nuôi trồng thủy sản[21], quyền được cấp dưỡng, quyền được bồi thường thiệt hại và các QTS khác được pháp luật quy định.

Trong Thông tư số 08/2018/TT-BTP ngày 20/6/2018 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, hợp đồng và trao đổi thông tin về đăng ký biện pháp bảo đảm tại các trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của cục đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp, thì bên cạnh liệt kê một số quyền chung còn liệt kê QTS trong một số trường hợp cụ thể, trong đó, các QTS phát sinh từ hợp đồng như quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán…; một số QTS phát sinh từ một số hợp đồng cụ thể liên quan đến tàu bay, tàu biển và QTS liên quan đến hợp đồng về nhà ở (điểm b, điểm c khoản 7 Điều 6). Thông tư này đã giúp xác định cụ thể hơn các tài sản là QTS theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, Thông tư đã có một số quy định trùng lặp về quyền đòi nợ. Quyền đòi nợ có thể phát sinh từ hợp đồng vay, các loại hợp đồng khác hoặc phát sinh từ các căn cứ khác. Thông tư trên đã quy định quyền đòi nợ chung chung tại điểm a khoản 7 Điều 6 và liệt kê quyền đòi nợ là một dạng QTS phát sinh từ một số hợp đồng cụ thể tại điểm b, điểm c khoản 7 Điều 6 (không nhắc đến quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng vay). Có thể thấy, chưa có sự nhất quán và rõ ràng trong quy định này, vừa thừa lại vừa thiếu. QTS phát sinh từ hợp đồng không được ghi nhận theo hướng khái quát nhưng liệt kê thì không đầy đủ (ví dụ, không nhắc đến quyền được bồi thường thiệt hại không phát sinh từ hợp đồng). Thiết nghĩ, quy định QTS trong Thông tư này cần sắp xếp logic và đầy đủ hơn.

Có thể thấy, mặc dù QTS được xác định là “quyền trị giá được bằng tiền”, nhưng thực chất có những thứ trị giá được bằng tiền nhưng pháp luật Việt Nam chưa cho phép hoặc chưa có hành lang pháp lý điều chỉnh giao dịch liên quan đối tượng đấy. Đặc biệt, trong kỷ nguyên công nghệ số, những thứ “có thể trị giá được bằng tiền” ngày càng đa dạng và phong phú.

Huỳnh Anh
Đại học An Giang trực thuộc Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh


[1] Trích theo Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Công an nhân dân, tr. 228.

[2] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế (tái bản có sửa đổi, bổ sung), Nxb. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr. 40.

[3] Bryan A. Garner (1999), Black's Law Dictionary 7th edition, PUB. West Group, tr. 1232.

[4] Các nước theo truyền thống Civil Law quan niệm quyền sở hữu bao gồm quyền sử dụng, quyền hưởng hoa lợi và quyền định đoạt, còn quyền chiếm hữu là một quan hệ thực tế. Xem thêm Điều 206 Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Luật về quyền của Trung Quốc.

[5] Theo pháp luật dân sự Việt Nam, một mặt, xem quyền chiếm hữu là một quyền năng trong quyền sở hữu, mặt khác lại thiết kế chiếm hữu thành một nội dung riêng theo kiểu một hành vi thực tế.

[6] Nguyễn Văn Cừ, Trần Ngọc Huệ (đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 303.

[7] SMH Law School Summarries I, Third Edition, SMH Inc, 1987, Real Property, Page 1.

[8] Xem Điều 261 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[9] Theo Điều 160 Bộ luật Dân sự năm 2015, chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi “theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật”, nhưng chủ thể có quyền khác đối với tài sản được thực hiện mọi hành vi “trong phạm vi quyền được quy định” tại Bộ luật này, luật khác có liên quan.

[10] Điều 578 Bộ luật Dân sự năm Pháp 2005 (bản dịch): “Quyền hưởng hoa lợi, lợi tức là quyền hưởng dụng tài sản thuộc sở hữu của người khác…” và Điều 595: “Người hưởng hoa lợi, lợi tức có thể tự mình hưởng dụng tài sản, thậm chí có thể bán, chuyển giao không có đền bù quyền hưởng hoa lợi, lợi tức của mình”.

[11] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Điện: “Tách ra từ quyền sở hữu để trở thành một quyền độc lập, các vật quyền chính không phải là quyền sở hữu đều có tính tạm thời: Đến lúc nào đó các quyền này phải biến mất hoặc gia nhập trở lại vào quyền sở hữu”, xem Nguyễn Ngọc Điện (2016), Giáo trình luật dân sự, tập 1, Nxb. Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 175.

[12] Riêng quyền đối với bất động sản liền kề chỉ có ý nghĩa đối với chủ sở hữu các bất động sản liền kề đó, không có ý nghĩa đối với chủ thể khác nên quyền này không thể được chuyển giao độc lập cho một chủ thể khác mà không gắn với quyền sở hữu bất động sản liền kề.

[13] Xem Điều 160 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[14] Theo pháp luật Pháp, quyền này gọi là quyền hưởng hoa lợi, lợi tức, tại Điều 578 Bộ luật Dân sự năm 2005 của Pháp (bản dịch): “Quyền hưởng hoa lợi, lợi tức là quyền hưởng dụng tài sản thuộc sở hữu của người khác như chính chủ sở hữu, nhưng có trách nhiệm giữ nguyên tài sản đó”.

[15] Xem Điều 578, Điều 595 Bộ luật Dân sự năm 2005 của Pháp.

[16] Xem các Điều 261, Điều 247, Điều 217 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[17] Xem Điều 322 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[18] Quyền đòi nợ với ý nghĩa là một tài sản thuộc loại quyền tài sản có thể hiểu đó là một khoản tiền sẽ được thanh toán vào một thời gian nhất định.

[19] Cũng có sự trùng lặp như quy định đối với quyền đòi nợ.

[20] Bộ luật Dân sự năm 2015 không liệt kê các quyền tài sản, tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã từng liệt kê một số quyền tài sản là đối tượng của hợp đồng bảo đảm tại Điều 322. Các quyền này hiện nay cũng thỏa mãn theo định nghĩa quyền tài sản của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[21] Điểm a khoản 1 Điều 46 Luật Thủy sản năm 2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.

Theo dõi chúng tôi trên: