Thứ năm 11/12/2025 01:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự

Kháng nghị, kiến nghị là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và kiểm sát hoạt động thi hành án dân sự (THADS), thi hành án hành chính nói riêng. Vấn đề kháng nghị, kiến nghị trong THADS được quy định tại các điều 5, 28, 30 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; các điều 12, 64, 160, 161 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự). Ngoài ra, vấn đề này được hướng dẫn cụ thể tại Điều 34, Điều 35 và Điều 36 Quy chế công tác kiểm sát THADS, thi hành án hành chính ban hành kèm theo Quyết định số 810/QĐ-VKSTC ngày 20/12/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.


1. Về kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân
- Thẩm quyền kháng nghị
Theo quy định tại Điều 5 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, trường hợp hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Viện kiểm sát nhân dân phải kháng nghị. Cơ quan, người có thẩm quyền phải giải quyết kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật.

Theo khoản 1 Điều 160 Luật Thi hành án dân sự thì: “Viện kiểm sát kháng nghị đối với quyết định, hành vi của thủ trưởng cơ quan THADS, chấp hành viên cơ quan THADS cùng cấp và cấp dưới theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân”, đồng thời, khoản 2 Điều 12 được sửa đổi năm 2014 đã có sự bổ sung theo hướng rõ ràng, cụ thể hơn so với Luật Thi hành án dân sự năm 2008, theo đó, một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong THADS là: “Kháng nghị hành vi, quyết định của thủ trưởng, chấp hành viên cơ quan THADS cùng cấp, cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu đình chỉ việc thi hành, thu hồi, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc thi hành án, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật”.

Đối tượng kháng nghị là hành vi hoặc quyết định. Tính chất của vi phạm pháp luật phải “nghiêm trọng”, có thể hiểu hành vi hoặc quyết định đó là cụ thể, trái với quy định của pháp luật, đã gây ra hậu quả hoặc sẽ gây ra hậu quả, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân xét thấy cần phải ngăn chặn hoặc phải khắc phục ngay[1].

- Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân

Khoản 2 Điều 160 Luật Thi hành án dân sự đã quy định rõ về thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên đối với quyết định, hành vi phạm trong lĩnh vực THADS của thủ trưởng, chấp hành viên cơ quan THADS. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc phát hiện được hành vi vi phạm. Về thời hạn gửi quyết định cho Viện kiểm sát, theo Điều 38 Luật Thi hành án dân sự, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định, các quyết định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

- Nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân

Căn cứ khoản 8 Điều 28 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì Viện kiểm sát nhân dân có quyền: “Kháng nghị quyết định của Tòa án, quyết định, hành vi của thủ trưởng, chấp hành viên cơ quan THADS cùng cấp và cấp dưới theo quy định của pháp luật; yêu cầu đình chỉ việc thi hành án, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc thi hành án, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật”.

Trong quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong THADS thì Viện kiểm sát nhân dân có thể kháng nghị với bất kỳ quyết định hay hành vi nào của chấp hành viên, thủ trưởng cơ quan THADS cùng cấp và cấp dưới nếu thấy có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

Trong khi thực hiện nhiệm vụ tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của trọng tài thương mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, chấp hành viên phải ra các quyết định về thi hành án và thực hiện những hành vi tác nghiệp cụ thể. Tất cả các quyết định về thi hành án và các hành vi tác nghiệp cụ thể liên quan đến tổ chức thi hành các bản án, quyết định nêu trên đều có thể bị Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên trực tiếp kháng nghị nếu Viện kiểm sát nhân dân cho rằng các quyết định và hành vi đó trái quy định pháp luật. Các quyết định của chấp hành viên có thể bị kháng nghị rất đa dạng, ví dụ như quyết định kê biên tài sản; quyết định phong tỏa tài khoản; quyết định giải tỏa việc phong tỏa tài khoản... Các hành vi mà chấp hành viên có thể bị Viện kiểm sát kháng nghị thường là các hành vi liên quan đến việc chấp hành viên không ra hoặc chậm ra các quyết định về thi hành án nêu trên, hoặc ra các quyết định về thi hành án không đúng...

Các quyết định về thi hành án của thủ trưởng cơ quan THADS cũng có thể bị Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp kháng nghị nếu Viện kiểm sát cho rằng các quyết định có vi phạm pháp luật. Ví dụ: Quyết định thi hành án; quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định thi hành án; quyết định hoãn thi hành án; quyết định đình chỉ thi hành án... Cũng tương tự như chấp hành viên, các hành vi mà thủ trưởng cơ quan THADS có thể bị Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị là các hành vi liên quan đến việc không ra các quyết định về thi hành án nêu trên, hoặc ra các quyết định về thi hành án không đúng, thực hiện những việc làm trong thi hành án mà pháp luật cấm không được làm, thực hiện không đúng nhiệm vụ, quyền hạn của thủ trưởng cơ quan THADS...

- Trả lời kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân

Theo khoản 1 Điều 161 Luật Thi hành án dân sự, thủ trưởng cơ quan THADS có trách nhiệm trả lời kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân đối với quyết định, hành vi về thi hành án của mình hoặc của chấp hành viên thuộc quyền quản lý trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị. Như vậy, khi nhận được kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân đối với quyết định, hành vi của chính thủ trưởng cơ quan THADS hay của chấp hành viên thuộc quyền quản lý thì thủ trưởng cơ quan THADS đều có trách nhiệm trả lời kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân, kể cả trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp kháng nghị thì thẩm quyền trả lời kháng nghị vẫn là thủ trưởng cơ quan THADS bị kháng nghị.

Đối với trường hợp chấp nhận kháng nghị, khoản 1 Điều 161 Luật Thi hành án dân sự quy định: “Trường hợp chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có văn bản trả lời kháng nghị, thủ trưởng cơ quan THADS phải thực hiện kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân”.

Trường hợp thủ trưởng cơ quan THADS không nhất trí với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thì giải quyết như sau:

+ Đối với cơ quan THADS cấp huyện: Thủ trưởng cơ quan THADS cấp huyện nơi có quyết định, hành vi bị kháng nghị phải báo cáo với thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh. Tuy nhiên, điểm a khoản 2 Điều 161 Luật Thi hành án dân sự lại chưa nêu cụ thể về thời hạn phải thực hiện việc báo cáo lên thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh. Do đó, cần xem xét bổ sung quy định về thời hạn báo cáo này.

Thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh trong trường hợp này phải xem xét, trả lời trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo. Văn bản trả lời của thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh có hiệu lực thi hành.

+ Đối với cơ quan THADS cấp tỉnh: Thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh có quyết định, hành vi bị kháng nghị phải báo cáo với thủ trưởng cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp xem xét và trả lời trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo. Văn bản trả lời của thủ trưởng cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành.

+ Đối với cơ quan thi hành án cấp quân khu: Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu có quyết định, hành vi bị kháng nghị phải báo cáo với thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng và Viện kiểm sát quân sự trung ương. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng phải xem xét và trả lời trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo. Văn bản trả lời của thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có hiệu lực thi hành.

Trường hợp các văn bản trả lời đã có hiệu lực thi hành của thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp tỉnh, thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Tư pháp, thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng mà không có căn cứ thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét lại văn bản trả lời đã có hiệu lực thi hành của thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh, thủ trưởng cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xem xét lại văn bản trả lời đã có hiệu lực thi hành của thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu, thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng. Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm xem xét và trả lời bằng văn bản cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.

2. Về kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân

Theo quy định tại Điều 5 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, trường hợp hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng, không thuộc trường hợp kháng nghị thì Viện kiểm sát nhân dân kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân đó khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật; nếu phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm. Cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan có trách nhiệm xem xét, trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật.

Theo điểm đ khoản 2 Điều 12 Luật Thi hành án dân sự, khi kiểm sát THADS, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn kiến nghị xem xét hành vi, quyết định liên quan đến thi hành án có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng của Tòa án, cơ quan THADS cùng cấp hoặc cấp dưới yêu cầu khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm; kiến nghị cơ quan, tổ chức liên quan có sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý khắc phục nguyên nhân, điều kiện dẫn tới vi phạm pháp luật và áp dụng các biện pháp phòng ngừa.

Đối tượng kiến nghị cũng là hành vi hoặc quyết định vi phạm pháp luật (phải vi phạm quy định, điều luật cụ thể); hành vi có thể là đơn lẻ hoặc lặp đi lặp lại (tình trạng). Tính chất của vi phạm ở mức độ ít nghiêm trọng (có thể hiểu là chưa đạt mức vi phạm nghiêm trọng như nêu trên). Ngoài ra, kiến nghị có thể áp dụng với các trường hợp hành vi hoặc quyết định tuy có tính chất vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhưng không còn thời hạn kháng nghị. Bên cạnh đó, trường hợp phát hiện cơ quan, tổ chức có liên quan có sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị yêu cầu cơ quan, tổ chức khắc phục nguyên nhân, điều kiện dẫn tới vi phạm pháp luật và áp dụng biện pháp phòng ngừa[2].

Riêng đối với hoạt động kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS (là một nội dung của công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp), Điều 30 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp: “Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật”. Theo Điều 159 Luật Thi hành án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân có kiến nghị đối với cơ quan THADS cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm để đảm bảo việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật.

Ngoài những quy định nêu trên về kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát THADS và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS, Điều 315 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định: “Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án (về vụ án hành chính), bảo đảm việc thi hành bản án, quyết định kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật. Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ thi hành án hành chính và cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức phải chấp hành bản án, quyết định của Tòa án để có biện pháp tổ chức thi hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án”. Theo quy định này, khi kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính (trừ trường hợp thi hành phần về tài sản trong bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính), Viện kiểm sát nhân dân có quyền kiến nghị mà không có quyền kháng nghị. Tuy nhiên, vấn đề này cần được hướng dẫn cụ thể hơn. Tại khoản 7, khoản 8 Điều 28 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính quy định: “Kiến nghị Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới, chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc thi hành án”; “Kháng nghị quyết định của Tòa án, quyết định, hành vi của thủ trưởng, chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới theo quy định của pháp luật; yêu cầu đình chỉ việc thi hành án, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định”. Do chưa có hướng dẫn nên việc áp dụng quyền năng pháp lý trong kiểm sát thi hành án hành chính còn nhiều lúng túng. Ví dụ, khi kiểm sát phát hiện Chi cục THADS huyện chậm ban hành văn bản theo dõi thi hành, không thông báo đến cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án, Viện kiểm sát huyện NG tỉnh QN đã ban hành Kháng nghị số 02/KN-VKS ngày 30/3/2017 đối với Chi cục THADS huyện[3].

3. Một số vấn đề còn vướng mắc trong việc thực hiện kháng nghị, kiến nghị

Một là, Điều 5 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 có quy định về kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tư pháp, tuy nhiên, về khái niệm thế nào là “vi phạm pháp luật nghiêm trọng”, “vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng” hiện nay vẫn chưa được làm rõ nên còn có những quan điểm khác nhau trong việc áp dụng pháp luật, đặc biệt là trong việc thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị.

Hai là, theo các quy định pháp luật về kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp và trong công tác kiểm sát THADS thì pháp luật có quy định thời hạn kháng nghị (Điều 160 Luật Thi hành án dân sự) mà không quy định thời hạn kiến nghị; có quy định thời hạn để cơ quan, tổ chức, cá nhân bị kháng nghị có trách nhiệm thực hiện và trả lời cho Viện kiểm sát nhân dân về kết quả thực hiện kháng nghị (Điều 161 Luật Thi hành án dân sự) mà không có quy định thời hạn trả lời và thực hiện kiến nghị, dẫn đến việc áp dụng các quy định của pháp luật chưa thống nhất về vấn đề này .

Ba là, Điều 12 Luật Thi hành án dân sự và Điều 28 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định Viện kiểm sát thực hiện quyền kiến nghị đối với cơ quan, tổ chức có liên quan. Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự cũng như các văn bản hướng dẫn lại chưa quy định trách nhiệm và thời hạn Tòa án và các cơ quan liên quan phải trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân[4]. Do đó, việc xem xét bổ sung quy định cụ thể hơn về những vấn đề này là rất cần thiết.

Bốn là, pháp luật hiện hành chỉ mới quy định về quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc kiểm sát THADS, hành chính mà chưa có quy định cụ thể về nghĩa vụ, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình kiểm sát. Luật Thi hành án dân sự và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 chưa có quy định về các chế tài, nghĩa vụ của kiểm sát viên nếu làm sai, vi phạm pháp luật trong kiểm sát thi hành án. Chưa có quy định rõ ràng để ràng buộc trách nhiệm của Viện kiểm sát khi kiểm sát hoạt động thi hành án (mặc dù Viện kiểm sát đã tiến hành kiểm sát nhưng khi xảy ra sai sót trong quá trình thi hành án lại chưa có quy định cụ thể, rõ ràng về các trách nhiệm pháp lý có liên quan)[5]. Do đó cần có những quy định cụ thể về trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình kiểm sát thi hành án nói chung và trong vấn đề kiến nghị, kháng nghị nói riêng; bổ sung quy định về các chế tài cần áp dụng trong những trường hợp kháng nghị, kiến nghị không chính xác, gây ảnh hưởng đến quá trình tổ chức thi hành án, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các đương sự.

Vấn đề xây dựng quy trình kiểm sát, cần bảo đảm tính thống nhất về quy trình kiểm sát, nâng cao trách nhiệm, trình độ chuyên môn, kiến thức pháp luật về THADS cho kiểm sát viên để góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm sát THADS.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội


[1] Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chuyên đề Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát THADS, hành chính, tài liệu Hội nghị “Nâng cao chất lượng công tác kiểm sát thi hành án dân sự, hành chính” tổ chức ngày 24/7/2017 tại Nghệ An, tr. 68.

[2] Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chuyên đề Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát THADS, hành chính, tài liệu Hội nghị “Nâng cao chất lượng công tác kiểm sát thi hành án dân sự, hành chính” tổ chức ngày 24/7/2017 tại Nghệ An, tr. 68.

[3] Vụ 11 Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tài liệu tập huấn kiểm sát thi hành án hành chính, tháng 9/2018; tr. 11.

[4] Ngô Minh Hiệu, Thực hiện quyền kiến nghị trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, http://vksbacninh.gov.vn/kiem-sat-vien-viet/kiem-sat-vien-viet/thuc-hien-quyen-kien-nghi-trong-luat-to-chuc-vien-kiem-sat-nhan-dan-nam-2014-7809.html, đăng ngày 06/3/2017, truy cập ngày 25/8/2018.

[5] Xem Tờ trình số: 120/TTr-CP ngày 08/5/2014 của Chính phủ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự và Báo cáo số 63/BC-BTP ngày 13/3/2014 của Bộ Tư pháp Tổng kết 04 năm thi hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: