Thứ năm 12/03/2026 05:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất

Người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất cũng có thể trở thành bị hại nếu đáp ứng những điều kiện luật định của bị hại nói chung. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa đưa ra được định nghĩa chính thức về khái niệm “người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất”.

1. Khái niệm bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất

Theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì: “Bị hại là cá nhân bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”[1]. Tuy nhiên, không phải mọi chủ thể bị thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra đều được xác định là bị hại. Chỉ những chủ thể bị tác động trực tiếp bởi tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự, được triệu tập tham gia tố tụng với tư cách bị hại thì mới được xác định là bị hại trong vụ án, có quyền và nghĩa vụ nhất định khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ án. Đặc biệt, đối với những vụ án khởi tố theo yêu cầu bị hại thì tư cách bị hại có thể được xác định trước khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự. Theo đó, khi bị hại hoặc người đại diện của họ yêu cầu khởi tố trong một số trường hợp luật định thì đó cũng sẽ là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án[2].

Người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất cũng có thể trở thành bị hại nếu đáp ứng những điều kiện luật định của bị hại nói chung. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa đưa ra được định nghĩa chính thức về khái niệm “người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất”. Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định “Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn” thì không được làm chứng. Thông qua quy định này có thể nhận thấy người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có thể có khả năng nhận thức hoặc không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án. Đối chiếu với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khái niệm về người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất cũng không được đề cập mà hai văn bản này chỉ quy định về:

- Người mất năng lực hành vi dân sự: Người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định[3].

- Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự: Người nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự[4].

- Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi: Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ[5].

Tuy nhiên, ba chủ thể này có được xem là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hay không thì vẫn chưa được làm rõ. Liên quan đến khái niệm này, Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự đã quy định người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần sẽ thuộc các trường hợp sau đây: “Người có nhược điểm về tâm thần có giấy tờ, tài liệu được cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận; người có nhược điểm về thể chất thuộc một trong các trường hợp: Bị mù hai mắt, bị câm, bị điếc có xác nhận của cơ quan y tế từ cấp huyện trở lên”[6]. Tuy nhiên, những quy định này chỉ mơ hồ xác định hình thức để được công nhận là một người có nhược điểm về tinh thần, thể chất mà không có những hướng dẫn cụ thể về cách thức xác định những đối tượng này. Do đó, trên thực tiễn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, tức là người do tình trạng thể chất (như mù, câm, điếc, tàn tật…) hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi.

Quan điểm thứ hai lại nhận định, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi[7].

Như vậy, cả hai quan điểm này đều khẳng định người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất không bao gồm người bị mất năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất trong tố tụng hình sự nên được hiểu bao gồm cả ba dạng: Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và người mất năng lực hành vi dân sự. Bởi vì, chính những hạn chế về tâm thần hoặc thể chất của những chủ thể này là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến việc mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án. Hơn nữa, khi được Tòa án ra quyết định tuyên bố về khả năng nhận thức và làm chủ hành vi thì những chủ thể trên đều được chỉ định người đại diện theo quy định của pháp luật[8]. Điều này gián tiếp khẳng định nếu họ có trở thành người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự thì họ cũng sẽ có những quyền, nghĩa vụ nhất định và việc tham gia tố tụng của họ sẽ thông qua người đại diện.

Từ những phân tích trên, có thể kết luận: “Người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; hoặc người mất năng lực hành vi dân sự”. Đồng thời có thể đưa ra định nghĩa: “Bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”.

2. Quy định về chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự có bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất

Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại là trường hợp đặc biệt mà theo tính chất của vụ án và vì lợi ích của bị hại, cơ quan có thẩm quyền không tự ý khởi tố vụ án mà phụ thuộc vào ý chí của bị hại hoặc người đại diện của bị hại, thể hiện qua yêu cầu của họ. Thông qua chế định này, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tạo điều kiện cho bị hại hoặc người đại diện của họ có thể cân nhắc và xem xét việc khởi tố vụ án có mang lại lợi ích cho bị hại hay không. Đây chính là biểu hiện của việc bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự[9]. Theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ được khởi tố vụ án hình sự đối về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Người đại diện ở đây chỉ bao gồm người đại diện theo pháp luật, xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý chưa hoàn thiện hoặc từ tình trạng tâm thần, thể chất của họ dẫn đến việc hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Cách quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 dẫn đến hai cách hiểu:

Thứ nhất, nếu tội phạm được thực hiện thỏa mãn điều kiện tại khoản 1 Điều 155 và người bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất yêu cầu khởi tố hoặc người đại diện của họ yêu cầu khởi tố thì vụ án sẽ được khởi tố.

Thứ hai, nếu người bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì khi yêu cầu khởi tố vụ án hình sự phải thông qua người đại diện của họ.

Trên thực tiễn xét xử các vụ án hình sự hiện nay thì cách hiểu thứ hai được áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, theo tác giả, cách hiểu thứ hai chỉ nên áp dụng đối với trường hợp bị hại là người mất năng lực hành vi dân sự. Đối với những trường hợp còn lại, nên áp dụng cách hiểu thứ nhất, nghĩa là vụ án được khởi tố không chỉ do yêu cầu khởi tố của người đại diện của bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà còn bao gồm cả yêu cầu khởi tố của bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Bởi như đã phân tích, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có thể là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Trong hai trường hợp này, khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án của họ chỉ bị hạn chế chứ không mất hoàn toàn. Do đó, quyền yêu cầu khởi tố vụ án của họ cần được tôn trọng.

Ngoài ra, thuật ngữ “người đại diện” được nhắc đến trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có tương đồng với “người đại diện” được quy định trong Bộ luật dân sự không thì vẫn chưa được đề cập. Thay vào đó, Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi có quy định “Người đại diện của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và có đủ điều kiện làm người đại diện theo quy định tại các điều 134, 135 và 136 Bộ luật Dân sự, được xác định theo thứ tự sau đây: Cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi; người giám hộ; người do Tòa án chỉ định[10]. Tuy nhiên, khái niệm “người đại diện” trong trường hợp này lại gắn liền với người dưới 18 tuổi mà không bao gồm người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Theo tác giả, nếu xét về bản chất thì chế định đại diện trong tố tụng hình sự khác với chế định đại diện trong pháp luật dân sự. Người đại diện trong tố tụng hình sự có thể hiểu là người thay mặt, nhân danh người được đại diện thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng trong tất cả các giai đoạn tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được đại diện chứ không phải là người thay mặt, nhân danh người được đại diện thiết lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi pháp luật cho phép. Tuy nhiên, xét về cách thức xác định người đại diện để tham gia tố tụng thì có sự tương đồng giữa hai ngành luật này. Hay nói cách khác, để xác định người đại diện nói chung và người đại diện của người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất nói riêng tham gia tố tụng hình sự thì phải căn cứ vào những quy định tại điều 134, 135, 136 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, cần có quy định dẫn chiếu để thể hiện sự liên quan trong cách thức xác định người đại diện giữa hai ngành luật này, tạo điều kiện thuận lợi cho người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình áp dụng pháp luật, từ đó đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

3. Nội dung, hình thức yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất

Yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất là cơ sở quan trọng để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Hiện nay, hình thức yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại hoặc người đại diện của họ được quy định tại Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự đã quy định người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần[11]. Theo đó, yêu cầu khởi tố của bị hại hoặc người đại diện của bị hại phải thể hiện bằng văn bản có chữ ký hoặc điểm chỉ của họ; trường hợp bị hại hoặc người đại diện của bị hại đến trực tiếp trình bày thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải lập biên bản ghi rõ nội dung yêu cầu khởi tố để họ ký hoặc điểm chỉ vào biên bản. Biên bản do Viện kiểm sát lập phải được chuyển ngay cho Cơ quan điều tra để xem xét việc khởi tố vụ án hình sự và đưa vào hồ sơ vụ án[12]. Tuy nhiên, quy định này chỉ đề cập rằng yêu cầu khởi tố của bị hại phải thể hiện bằng văn bản nhưng hiện nay chưa có biểu mẫu chính thức nào đề cập đến nội dung của đơn yêu cầu khởi tố. Trên thực tiễn, có quan điểm cho rằng đơn tố giác tội phạm được xem là đơn yêu cầu khởi tố, vì tuy tiêu đề là đơn tố giác tội phạm nhưng trong nội dung đơn lại chứa đựng yêu cầu xử lý người phạm tội. Trong khi quan điểm khác lại cho rằng đơn tố giác tội phạm là cơ sở ban đầu để cơ quan có thẩm quyền xác minh, sau khi tiến hành xác minh nếu có dấu hiệu tội phạm thì bị hại phải làm tiếp đơn yêu cầu khởi tố vụ án[13]. Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai, việc tố giác tội phạm chỉ nên được xem là thông báo về việc có tội phạm xảy ra trên thực tế. Sau đó cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành xác định dấu hiệu tội phạm theo quy định tại Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Nếu có đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì mới thông báo cho người bị hại hoặc người đại diện của họ để làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Quy định này vừa mang tính chặt chẽ về mặt hình thức vừa tạo sự thống nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Mặt khác, đơn tố giác tội phạm thường không có mẫu thống nhất, vì vậy, nội dung đơn sẽ được trình bày khác nhau, có hoặc không trình bày rõ yêu cầu khởi tố vụ án của bị hại hoặc người đại diện của họ, từ đó gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền trong việc lưu trữ tài liệu vào hồ sơ những vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Hơn nữa, tại thời điểm viết đơn tố giác tội phạm, bị hại hoặc người đại diện của họ chưa hẳn đã biết rõ về quyền yêu cầu khởi tố vụ án của mình. Nếu mặc định đơn tố giác đồng thời là đơn yêu cầu khởi tố vụ án thì đã vô tình tước đi quyền yêu cầu khởi tố vụ án của họ ngay từ đầu. Do vậy, pháp luật tố tụng hình sự cần ban hành hướng dẫn cụ thể về vấn đề này để việc áp dụng pháp luật được thống nhất, đảm bảo tốt nhất quyền lợi của bị hại hoặc người đại diện của họ.

4. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Từ những bất cập trên, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị để hoàn thiện chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần như sau:

Thứ nhất, pháp luật tố tụng hình sự cần đưa ra định nghĩa chính thức về người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Theo đó, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; hoặc người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại điều 22, 23, 24 Bộ luật Dân sự năm 2015. Quy định này giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhanh chóng xác định được người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, từ đó áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ họ trong suốt quá trình tố tụng.

Thứ hai, cần có định nghĩa chính thức về “người đại diện” trong pháp luật tố tụng hình sự nói chung, bao gồm điều kiện để trở thành người đại diện và cách thức xác định người đại diện. Cụ thể, bổ sung trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 một điều luật quy định về người đại diện như sau: “Người đại diện của người tham gia tố tụng là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và có đủ điều kiện làm người đại diện theo quy định tại các điều 134, 135 và 136 Bộ luật Dân sự”. Qua định nghĩa này, có thể suy ra người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và có đủ điều kiện làm người đại diện theo quy định tại các điều 134, 135 và 136 Bộ luật Dân sự. Quy định này giúp cho pháp luật tố tụng hình sự về chế định người đại diện nói chung và người đại diện của người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất được cụ thể và rõ ràng hơn. Mặt khác, quy định này cũng giúp khẳng định vị thế nhất định của người đại diện, từ đó bảo vệ tốt hơn người bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

Thứ ba, cần ban hành hướng dẫn về hình thức và nội dung của yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại hoặc người đại diện của họ. Về hình thức, cần quy định rõ sau khi cơ quan có thẩm quyền đã xác minh đầy đủ dấu hiệu của những tội phạm thuộc trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị hại hoặc người đại diện của họ được thông báo về quyền được yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, được hướng dẫn thực hiện việc yêu cầu khởi tố dưới dạng văn bản hoặc trình bày trực tiếp và được ghi nhận lại bằng biên bản. Về nội dung, cần hướng dẫn về nội dung cụ thể của yêu cầu khởi tố để bảo đảm quá trình áp dụng pháp luật được thống nhất trên thực tiễn./.

ThS. Nguyễn Phương Thảo
Khoa Luật hình sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3] Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Điều 23 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5] Điều 24 Bộ luật Dân sự 2015.

[6] Khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDT ngày 01/8/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự đã quy định người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.

[7] Dương Tấn Thanh, “Một số bất cập của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trong thực tiễn”, [http://tks.edu.vn/WebThongTinKhoaHoc/Detail/805?idMenu=79] (truy cập ngày 31/8/2021).

[8] Khoản 2 Điều 22, khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 24, Điều 136 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[9] Trường Đại học Luật, Thành phố Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự (tái bản có sửa đổi, bổ sung), Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 365.

[10] Điều 3 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi.

[11] Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[12] Khoản 5 Điều 7 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[13] Hoàng Thị Vân Anh, “Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại: Những hạn chế cần khắc phục”, [https://kiemsat.vn/khoi-to-vu-an-theo-yeu-cau-cua-bi-hai-nhung-han-che-can-khac-phuc-55497.html] (truy cập ngày 01/9/2021).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: