Thứ ba 25/08/2026 16:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất

Người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất cũng có thể trở thành bị hại nếu đáp ứng những điều kiện luật định của bị hại nói chung. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa đưa ra được định nghĩa chính thức về khái niệm “người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất”.

1. Khái niệm bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất

Theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì: “Bị hại là cá nhân bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”[1]. Tuy nhiên, không phải mọi chủ thể bị thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra đều được xác định là bị hại. Chỉ những chủ thể bị tác động trực tiếp bởi tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự, được triệu tập tham gia tố tụng với tư cách bị hại thì mới được xác định là bị hại trong vụ án, có quyền và nghĩa vụ nhất định khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ án. Đặc biệt, đối với những vụ án khởi tố theo yêu cầu bị hại thì tư cách bị hại có thể được xác định trước khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự. Theo đó, khi bị hại hoặc người đại diện của họ yêu cầu khởi tố trong một số trường hợp luật định thì đó cũng sẽ là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án[2].

Người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất cũng có thể trở thành bị hại nếu đáp ứng những điều kiện luật định của bị hại nói chung. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa đưa ra được định nghĩa chính thức về khái niệm “người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất”. Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định “Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn” thì không được làm chứng. Thông qua quy định này có thể nhận thấy người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có thể có khả năng nhận thức hoặc không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án. Đối chiếu với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khái niệm về người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất cũng không được đề cập mà hai văn bản này chỉ quy định về:

- Người mất năng lực hành vi dân sự: Người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định[3].

- Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự: Người nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự[4].

- Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi: Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ[5].

Tuy nhiên, ba chủ thể này có được xem là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hay không thì vẫn chưa được làm rõ. Liên quan đến khái niệm này, Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự đã quy định người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần sẽ thuộc các trường hợp sau đây: “Người có nhược điểm về tâm thần có giấy tờ, tài liệu được cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận; người có nhược điểm về thể chất thuộc một trong các trường hợp: Bị mù hai mắt, bị câm, bị điếc có xác nhận của cơ quan y tế từ cấp huyện trở lên”[6]. Tuy nhiên, những quy định này chỉ mơ hồ xác định hình thức để được công nhận là một người có nhược điểm về tinh thần, thể chất mà không có những hướng dẫn cụ thể về cách thức xác định những đối tượng này. Do đó, trên thực tiễn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, tức là người do tình trạng thể chất (như mù, câm, điếc, tàn tật…) hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi.

Quan điểm thứ hai lại nhận định, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi[7].

Như vậy, cả hai quan điểm này đều khẳng định người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất không bao gồm người bị mất năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất trong tố tụng hình sự nên được hiểu bao gồm cả ba dạng: Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và người mất năng lực hành vi dân sự. Bởi vì, chính những hạn chế về tâm thần hoặc thể chất của những chủ thể này là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến việc mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án. Hơn nữa, khi được Tòa án ra quyết định tuyên bố về khả năng nhận thức và làm chủ hành vi thì những chủ thể trên đều được chỉ định người đại diện theo quy định của pháp luật[8]. Điều này gián tiếp khẳng định nếu họ có trở thành người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự thì họ cũng sẽ có những quyền, nghĩa vụ nhất định và việc tham gia tố tụng của họ sẽ thông qua người đại diện.

Từ những phân tích trên, có thể kết luận: “Người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; hoặc người mất năng lực hành vi dân sự”. Đồng thời có thể đưa ra định nghĩa: “Bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”.

2. Quy định về chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự có bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất

Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại là trường hợp đặc biệt mà theo tính chất của vụ án và vì lợi ích của bị hại, cơ quan có thẩm quyền không tự ý khởi tố vụ án mà phụ thuộc vào ý chí của bị hại hoặc người đại diện của bị hại, thể hiện qua yêu cầu của họ. Thông qua chế định này, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tạo điều kiện cho bị hại hoặc người đại diện của họ có thể cân nhắc và xem xét việc khởi tố vụ án có mang lại lợi ích cho bị hại hay không. Đây chính là biểu hiện của việc bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự[9]. Theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ được khởi tố vụ án hình sự đối về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Người đại diện ở đây chỉ bao gồm người đại diện theo pháp luật, xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý chưa hoàn thiện hoặc từ tình trạng tâm thần, thể chất của họ dẫn đến việc hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Cách quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 dẫn đến hai cách hiểu:

Thứ nhất, nếu tội phạm được thực hiện thỏa mãn điều kiện tại khoản 1 Điều 155 và người bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất yêu cầu khởi tố hoặc người đại diện của họ yêu cầu khởi tố thì vụ án sẽ được khởi tố.

Thứ hai, nếu người bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì khi yêu cầu khởi tố vụ án hình sự phải thông qua người đại diện của họ.

Trên thực tiễn xét xử các vụ án hình sự hiện nay thì cách hiểu thứ hai được áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, theo tác giả, cách hiểu thứ hai chỉ nên áp dụng đối với trường hợp bị hại là người mất năng lực hành vi dân sự. Đối với những trường hợp còn lại, nên áp dụng cách hiểu thứ nhất, nghĩa là vụ án được khởi tố không chỉ do yêu cầu khởi tố của người đại diện của bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà còn bao gồm cả yêu cầu khởi tố của bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Bởi như đã phân tích, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có thể là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Trong hai trường hợp này, khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án của họ chỉ bị hạn chế chứ không mất hoàn toàn. Do đó, quyền yêu cầu khởi tố vụ án của họ cần được tôn trọng.

Ngoài ra, thuật ngữ “người đại diện” được nhắc đến trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có tương đồng với “người đại diện” được quy định trong Bộ luật dân sự không thì vẫn chưa được đề cập. Thay vào đó, Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi có quy định “Người đại diện của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và có đủ điều kiện làm người đại diện theo quy định tại các điều 134, 135 và 136 Bộ luật Dân sự, được xác định theo thứ tự sau đây: Cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi; người giám hộ; người do Tòa án chỉ định[10]. Tuy nhiên, khái niệm “người đại diện” trong trường hợp này lại gắn liền với người dưới 18 tuổi mà không bao gồm người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Theo tác giả, nếu xét về bản chất thì chế định đại diện trong tố tụng hình sự khác với chế định đại diện trong pháp luật dân sự. Người đại diện trong tố tụng hình sự có thể hiểu là người thay mặt, nhân danh người được đại diện thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng trong tất cả các giai đoạn tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được đại diện chứ không phải là người thay mặt, nhân danh người được đại diện thiết lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi pháp luật cho phép. Tuy nhiên, xét về cách thức xác định người đại diện để tham gia tố tụng thì có sự tương đồng giữa hai ngành luật này. Hay nói cách khác, để xác định người đại diện nói chung và người đại diện của người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất nói riêng tham gia tố tụng hình sự thì phải căn cứ vào những quy định tại điều 134, 135, 136 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, cần có quy định dẫn chiếu để thể hiện sự liên quan trong cách thức xác định người đại diện giữa hai ngành luật này, tạo điều kiện thuận lợi cho người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình áp dụng pháp luật, từ đó đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

3. Nội dung, hình thức yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất

Yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất là cơ sở quan trọng để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Hiện nay, hình thức yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại hoặc người đại diện của họ được quy định tại Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự đã quy định người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần[11]. Theo đó, yêu cầu khởi tố của bị hại hoặc người đại diện của bị hại phải thể hiện bằng văn bản có chữ ký hoặc điểm chỉ của họ; trường hợp bị hại hoặc người đại diện của bị hại đến trực tiếp trình bày thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải lập biên bản ghi rõ nội dung yêu cầu khởi tố để họ ký hoặc điểm chỉ vào biên bản. Biên bản do Viện kiểm sát lập phải được chuyển ngay cho Cơ quan điều tra để xem xét việc khởi tố vụ án hình sự và đưa vào hồ sơ vụ án[12]. Tuy nhiên, quy định này chỉ đề cập rằng yêu cầu khởi tố của bị hại phải thể hiện bằng văn bản nhưng hiện nay chưa có biểu mẫu chính thức nào đề cập đến nội dung của đơn yêu cầu khởi tố. Trên thực tiễn, có quan điểm cho rằng đơn tố giác tội phạm được xem là đơn yêu cầu khởi tố, vì tuy tiêu đề là đơn tố giác tội phạm nhưng trong nội dung đơn lại chứa đựng yêu cầu xử lý người phạm tội. Trong khi quan điểm khác lại cho rằng đơn tố giác tội phạm là cơ sở ban đầu để cơ quan có thẩm quyền xác minh, sau khi tiến hành xác minh nếu có dấu hiệu tội phạm thì bị hại phải làm tiếp đơn yêu cầu khởi tố vụ án[13]. Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai, việc tố giác tội phạm chỉ nên được xem là thông báo về việc có tội phạm xảy ra trên thực tế. Sau đó cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành xác định dấu hiệu tội phạm theo quy định tại Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Nếu có đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì mới thông báo cho người bị hại hoặc người đại diện của họ để làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Quy định này vừa mang tính chặt chẽ về mặt hình thức vừa tạo sự thống nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Mặt khác, đơn tố giác tội phạm thường không có mẫu thống nhất, vì vậy, nội dung đơn sẽ được trình bày khác nhau, có hoặc không trình bày rõ yêu cầu khởi tố vụ án của bị hại hoặc người đại diện của họ, từ đó gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền trong việc lưu trữ tài liệu vào hồ sơ những vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Hơn nữa, tại thời điểm viết đơn tố giác tội phạm, bị hại hoặc người đại diện của họ chưa hẳn đã biết rõ về quyền yêu cầu khởi tố vụ án của mình. Nếu mặc định đơn tố giác đồng thời là đơn yêu cầu khởi tố vụ án thì đã vô tình tước đi quyền yêu cầu khởi tố vụ án của họ ngay từ đầu. Do vậy, pháp luật tố tụng hình sự cần ban hành hướng dẫn cụ thể về vấn đề này để việc áp dụng pháp luật được thống nhất, đảm bảo tốt nhất quyền lợi của bị hại hoặc người đại diện của họ.

4. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Từ những bất cập trên, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị để hoàn thiện chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần như sau:

Thứ nhất, pháp luật tố tụng hình sự cần đưa ra định nghĩa chính thức về người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Theo đó, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; hoặc người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại điều 22, 23, 24 Bộ luật Dân sự năm 2015. Quy định này giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhanh chóng xác định được người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, từ đó áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ họ trong suốt quá trình tố tụng.

Thứ hai, cần có định nghĩa chính thức về “người đại diện” trong pháp luật tố tụng hình sự nói chung, bao gồm điều kiện để trở thành người đại diện và cách thức xác định người đại diện. Cụ thể, bổ sung trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 một điều luật quy định về người đại diện như sau: “Người đại diện của người tham gia tố tụng là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và có đủ điều kiện làm người đại diện theo quy định tại các điều 134, 135 và 136 Bộ luật Dân sự”. Qua định nghĩa này, có thể suy ra người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và có đủ điều kiện làm người đại diện theo quy định tại các điều 134, 135 và 136 Bộ luật Dân sự. Quy định này giúp cho pháp luật tố tụng hình sự về chế định người đại diện nói chung và người đại diện của người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất được cụ thể và rõ ràng hơn. Mặt khác, quy định này cũng giúp khẳng định vị thế nhất định của người đại diện, từ đó bảo vệ tốt hơn người bị hại là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

Thứ ba, cần ban hành hướng dẫn về hình thức và nội dung của yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại hoặc người đại diện của họ. Về hình thức, cần quy định rõ sau khi cơ quan có thẩm quyền đã xác minh đầy đủ dấu hiệu của những tội phạm thuộc trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị hại hoặc người đại diện của họ được thông báo về quyền được yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, được hướng dẫn thực hiện việc yêu cầu khởi tố dưới dạng văn bản hoặc trình bày trực tiếp và được ghi nhận lại bằng biên bản. Về nội dung, cần hướng dẫn về nội dung cụ thể của yêu cầu khởi tố để bảo đảm quá trình áp dụng pháp luật được thống nhất trên thực tiễn./.

ThS. Nguyễn Phương Thảo
Khoa Luật hình sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3] Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Điều 23 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5] Điều 24 Bộ luật Dân sự 2015.

[6] Khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDT ngày 01/8/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự đã quy định người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.

[7] Dương Tấn Thanh, “Một số bất cập của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trong thực tiễn”, [http://tks.edu.vn/WebThongTinKhoaHoc/Detail/805?idMenu=79] (truy cập ngày 31/8/2021).

[8] Khoản 2 Điều 22, khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 24, Điều 136 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[9] Trường Đại học Luật, Thành phố Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự (tái bản có sửa đổi, bổ sung), Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 365.

[10] Điều 3 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi.

[11] Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[12] Khoản 5 Điều 7 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[13] Hoàng Thị Vân Anh, “Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại: Những hạn chế cần khắc phục”, [https://kiemsat.vn/khoi-to-vu-an-theo-yeu-cau-cua-bi-hai-nhung-han-che-can-khac-phuc-55497.html] (truy cập ngày 01/9/2021).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: