Thứ bảy 14/03/2026 06:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Trong lĩnh vực pháp luật, thuật ngữ “trách nhiệm” được dùng theo 02 nghĩa tích cực và tiêu cực. Ở khía cạnh tích cực, khái niệm “trách nhiệm” có nghĩa là chức trách, công việc được giao, bao hàm cả quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định. Ở khía cạnh tiêu cực, “trách nhiệm” được hiểu là hậu quả bất lợi (sự phản ứng mang tính trừng phạt của Nhà nước) mà cá nhân, tổ chức phải gánh chịu khi không thực hiện đúng mệnh lệnh của Nhà nước đã quy định trong các quy phạm pháp luật.

1. Khái quát về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

1.1. Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Trách nhiệm xã hội (TNXH) hiện nay vẫn đang là một khái niệm còn mới mẻ ở Việt Nam. Trên thực tế, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về TNXH của doanh nghiệp. Tuy nhiên, định nghĩa khái quát nhất là cách hiểu của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB), theo đó, TNXH của doanh nghiệp (CSR) được hiểu là cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng,… theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội.

TNXH của doanh nghiệp bao gồm nhiều khía cạnh liên quan đến ứng xử của doanh nghiệp đối với các chủ thể và đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, từ người sản xuất, tiếp thị, tiêu thụ, tiêu dùng đến các nhà cung ứng nguyên liệu, vật liệu tại chỗ; từ đội ngũ cán bộ, nhân viên cho đến các cổ đông của doanh nghiệp. Trong đó có cả trách nhiệm về bảo vệ tài nguyên, môi trường, mà thực chất đó cũng là có trách nhiệm với lợi ích của cộng đồng xã hội, bao gồm cả những hoạt động nhân đạo, từ thiện, hoạt động đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước…

1.2. Quan niệm sai lầm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Trên thực tế, hiện nay vẫn còn có những quan niệm, cách hiểu chưa chính xác, chưa đầy đủ về TNXH của doanh nghiệp, cụ thể:

- Quan niệm cho rằng, TNXH của doanh nghiệp nói riêng dùng để chỉ hoạt động liên quan đến làm từ thiện: Quan niệm này rất phổ biến. Đây là cách hiểu truyền thống, theo đó, thực hiện TNXH là tham gia hoạt động giải quyết các vấn đề xã hội mang tính từ thiện, nhân đạo. Quan niệm này chưa đầy đủ và thiếu chính xác, vì: Thứ nhất, nó chỉ đề cập đến một loại hoạt động hướng ngoại của doanh nghiệp, nhưng trên thực tế, khi thực hiện TNXH của mình, doanh nghiệp không chỉ hướng ra bên ngoài mà còn vì chính mục tiêu lợi ích, giá trị của bản thân; thứ hai, có những doanh nghiệp mượn danh làm từ thiện như là một hình thức quảng cáo cho thương hiệu của mình.

- Quan niệm cho rằng, TNXH của doanh nghiệp là để “đánh bóng” tên tuổi: Rất nhiều doanh nghiệp thực hiện TNXH của doanh nghiệp là do đối tác yêu cầu hoặc cần thu hút các nhà đầu tư, quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp để có thêm hợp đồng kinh doanh. Việc làm như vậy chỉ có ý nghĩa tức thời và đôi khi hiệu ứng ngược. Yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện TNXH nằm ở sự tự nhận thức và sự chủ động của chủ thể doanh nghiệp chứ không phải trông chờ vào sự tác động từ bên ngoài. Chừng nào doanh nghiệp chưa nhận thức được TNXH của mình có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp thì chừng đó doanh nghiệp còn hành động một cách đối phó, nhiều khi là “đánh bóng” tên tuổi.

- Quan niệm cho rằng, TNXH của doanh nghiệp là một chi phí chứ không phải sự đầu tư: TNXH không phải là một hoạt động thứ yếu, doanh nghiệp có muốn thực hiện hay không mà là hoạt động song hành cùng với hoạt động sản xuất - kinh doanh, là một hoạt động tất yếu doanh nghiệp phải thực hiện ngay từ khi ra đời, nó được kiến tạo trên nền tảng của quan hệ lợi ích sao cho có lợi cho cả doanh nghiệp và xã hội. Hoạt động TNXH không phải là chi phí, mà là yếu tố thúc đẩy, góp phần tạo nên sự phát triển của chính doanh nghiệp. Doanh nghiệp thực hiện TNXH gián tiếp tạo ra môi trường, điều kiện tồn tại, phát triển cho chính bản thân mình.

- Quan niệm cho rằng, TNXH của doanh nghiệp là hành vi đạo đức của cá nhân một người lãnh đạo doanh nghiệp: TNXH vừa là một trong những thuộc tính vận động, vừa là một trong những phương thức tồn tại của doanh nghiệp. Vì vậy, TNXH của doanh nghiệp cần được hiểu là trách nhiệm tự thân, xuất phát từ nhu cầu tồn tại, phát triển của doanh nghiệp, chứ không chỉ là trách nhiệm muốn thì thực hiện, không muốn thì thôi hoặc có điều kiện thì làm, không có điều kiện thì không làm. Điều cốt lõi trong việc thực hiện TNXH là mỗi doanh nghiệp phải tự nhận thức và quyết định hành vi của mình để doanh nghiệp có được lợi ích trong kinh doanh, hướng tới lợi ích xã hội chứ không phải do sự ép buộc từ bên ngoài.

1.3. Phân biệt và trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp

Trong lĩnh vực pháp luật, thuật ngữ “trách nhiệm” được dùng theo 02 nghĩa tích cực và tiêu cực. Ở khía cạnh tích cực, khái niệm “trách nhiệm” có nghĩa là chức trách, công việc được giao, bao hàm cả quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định. Ở khía cạnh tiêu cực, “trách nhiệm” được hiểu là hậu quả bất lợi (sự phản ứng mang tính trừng phạt của Nhà nước) mà cá nhân, tổ chức phải gánh chịu khi không thực hiện đúng mệnh lệnh của Nhà nước đã quy định trong các quy phạm pháp luật.

- Dưới góc độ pháp luật: TNXH của doanh nghiệp có thể được nhìn nhận như một dạng đặc biệt của trách nhiệm pháp lý tích cực. Trách nhiệm đó đòi hỏi doanh nghiệp phải đáp ứng được những mong đợi, kỳ vọng của xã hội và thực hiện được cam kết của mình đem lại lợi ích tốt nhất cho tất cả các bên có lợi ích liên quan, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo đáp ứng được sự tuân thủ các quy định pháp luật cơ bản. Từ đó, khái niệm TNXH của doanh nghiệp được hình thành có thể thấy là sự kết hợp giữa việc doanh nghiệp phải đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật và vượt ra hơn nữa là những giá trị đạo đức và kỳ vọng của xã hội, cộng đồng. Tuy nhiên, TNXH của doanh nghiệp do bản chất là những cam kết tự nguyện của doanh nghiệp nên tuyệt nhiên không thể là pháp luật, do đó, không thể đánh đồng TNXH của doanh nghiệp với trách nhiệm pháp lý được. Vì thế, có thể thấy, TNXH của doanh nghiệp chính là sự kết hợp giữa việc doanh nghiệp một mặt phải tuân thủ những trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định và đồng thời là tự nguyện cam kết của doanh nghiệp để thực hiện những giá trị cao hơn trách nhiệm pháp lý tối thiểu.

- Về cơ sở phát sinh: Trách nhiệm pháp lý thông thường hay trách nhiệm pháp lý tiêu cực thường phát sinh khi xuất hiện những điều kiện do pháp luật quy định. Cơ sở phát sinh trách nhiệm pháp lý tiêu cực là những vi phạm pháp luật ở phạm vi, mức độ và lĩnh vực khác nhau. Trong khi đó, cơ sở phát sinh TNXH của doanh nghiệp thì không như vậy, về cơ bản, TNXH là một loại trách nhiệm đối với cộng đồng, xã hội và mang tính tự nguyện. Vì thế, nó gần như phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chủ thể, để quyết định thực hiện hay không thực hiện TNXH.

- Về tính đảm bảo, cưỡng chế thi hành: TNXH của doanh nghiệp do một phần nội dung chính là cam kết tự nguyện của doanh nghiệp nên chưa có tính cưỡng chế thi hành cao. Đối với trách nhiệm pháp lý, khi có hành vi vi phạm pháp luật thì căn cứ vào các quy định của pháp luật, việc thực hiện trách nhiệm mang tính bắt buộc và chủ thể nếu vi phạm trách nhiệm sẽ phải gánh chịu chế tài hợp lý. Còn đối với TNXH, ở góc độ những cam kết tự nguyện, do vượt ra ngoài phạm vi khuôn khổ của trách nhiệm pháp lý nên việc đảm bảo tính cưỡng chế thi hành là không tồn tại, có chăng chỉ là trông chờ vào sự tự nguyện của chủ thể có trách nhiệm.

Qua phân tích bản chất pháp lý của TNXH của doanh nghiệp có thể thấy, ranh giới giữa TNXH và trách nhiệm pháp lý là rất mong manh và khó phân định, giữa chúng có những nét chung và đồng thời có những điểm riêng. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, TNHX là một khái niệm rộng hơn và bao hàm cả trách nhiệm pháp lý. Doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện tốt TNXH khi đã thực hiện tốt trách nhiệm pháp lý. Mặt khác, để thực hiện tốt trách nhiệm pháp lý thì doanh nghiệp cần phải có ý thức về TNXH.

2. Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

TNXH của doanh nghiệp là một hiện tượng xã hội, tồn tại tất yếu khách quan trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp và là một thuộc tính vốn có của doanh nghiệp. Bản chất của hiện tượng TNXH của doanh nghiệp gắn liền với quá trình vận động, phát triển của doanh nghiệp, của xã hội và các nhân tố tác động đến quá trình đó. Các vị thế của doanh nghiệp sẽ tương ứng với mối quan hệ của doanh nghiệp: (i) Với tư cách là thiết chế kinh tế thuộc cơ sở hạ tầng, doanh nghiệp có mối quan hệ với kinh tế thị trường; (ii) Với tư cách là thực thể xã hội, doanh nghiệp có mối quan hệ với môi trường tự nhiên; (iii) Với tư cách là chủ thể trong xã hội, doanh nghiệp có mối quan hệ với các chủ thể khác trong xã hội. Ở mỗi vị thế, doanh nghiệp có TNXH khác nhau.

2.1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với vị thế là một thiết chế kinh tế

Doanh nghiệp sinh ra và tồn tại với chức năng chủ yếu sản xuất ra của cải vật chất và kinh doanh hàng hóa, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội vì mục đích sinh lời. Trong mối quan hệ này, TNXH sẽ bao gồm các trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm với người lao động và trách nhiệm với người tiêu dùng.

- Trách nhiệm đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước, bao gồm: Trách nhiệm đóng thuế, đóng góp vào sự tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội tạo việc làm cho xã hội; trách nhiệm phòng chống tham nhũng.

- Trách nhiệm đối với người lao động, bao gồm: (i) Trách nhiệm nâng cao chất lượng môi trường lao động, cụ thể như: Đảm bảo các về chế độ tiền lương, tiền thưởng, các chế độ phúc lợi, các chế độ khác cho người lao động; trách nhiệm đối với về vấn đề lao động cưỡng bức, việc sử dụng lao động trẻ em, lao động khuyết tật…; trách nhiệm đào tạo và phát triển người lao động; trách nhiệm thành lập và đảm bảo hoạt động của tổ chức độc lập đại diện cho quyền lợi của người lao động. (ii) Trách nhiệm nâng cao chất lượng sống của người lao động, cụ thể như: Đảm bảo các điều kiện làm việc, an toàn sức khỏe nghề nghiệp, an toàn vệ sinh lao động.

- Trách nhiệm với người tiêu dùng, bao gồm: Không sản xuất, kinh doanh hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng ảnh hưởng đến người tiêu dùng; trách nhiệm sản phẩm (là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng).

2.2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với tư cách là một thực thể xã hội - trách nhiệm với môi trường

Trách nhiệm bảo vệ môi trường là một yếu tố không thể thiếu cấu thành TNXH của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tồn tại như một thực thể trong xã hội, do đó, để tồn tại, thực thể ấy không thể không có những tác động vào môi trường tự nhiên. Tình trạng khai khác khoáng sản bừa bãi làm cho tài nguyên quốc gia kiệt quệ; hiện tượng xả khí thải, nước thải chưa xử lý ra môi trường của các doanh nghiệp gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí, hủy diệt môi trường sống là những hành vi không mang tính TNXH. Doanh nghiệp phải thực hiện tốt pháp luật của quốc gia và quốc tế về môi trường. Trách nhiệm môi trường thể hiện qua những hoạt động cụ thể như: Tuân thủ pháp luật, yêu cầu, tiêu chuẩn môi trường; dự báo tác hại có thể xảy ra với môi trường, xây dựng phương án, kế hoạch và lập báo cáo định kỳ với cơ quan quản lý của nhà nước và trên phương tiện thông tin đại chúng; cam kết không khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường (môi trường đất, nước, không khí, tiếng ồn…); sử dụng công nghệ, trang thiết bị, nguyên vật liệu sản xuất đúng quy định của pháp luật và theo hướng thân thiện với môi trường; có quy trình xử lý nước thải, chất thải đúng quy định, không xả chất thải rắn, chất thải độc hại hủy hoại môi trường; tham gia hoạt động bảo vệ môi trường sinh thái bằng các hoạt động tái đầu tư các dự án bảo vệ môi trường trong cộng đồng dân cư…

2.3. của doanh nghiệp với tư cách là một chủ thể xã hội - trách nhiệm đối với cộng đồng

Với tư cách chủ thể xã hội, doanh nghiệp là một tế bào, thành tố tạo thành xã hội, vận động trong sự vận động của xã hội. Chủ thể doanh nghiệp có mối quan hệ phức tạp với các chủ thể xã hội khác trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Trong mối quan hệ đa chiều, phức tạp này, TNXH của doanh nghiệp là việc tham gia giải quyết các vấn đề xã hội nhằm đảm bảo an sinh xã hội, công bằng xã hội, an ninh quốc phòng. Do đó, trước những vấn đề của xã hội, doanh nghiệp không thể đứng ngoài và luôn phải hướng tới mục tiêu là vì cộng đồng và san sẻ gánh nặng với cộng đồng. Doanh nghiệp có trách nhiệm dành một phần lợi nhuận đóng góp vào các hoạt động trợ giúp cộng đồng một cách thường xuyên. Trách nhiệm này được thể hiện thông qua một số hoạt động cụ thể như: Đóng góp xây dựng quốc phòng an ninh; đóng góp phát triển cơ sở hạ tầng cho địa phương; tham gia các hoạt động từ thiện; xóa đói giảm nghèo; đầu tư vào giáo dục, tài trợ các hoạt động văn hóa, thể thao của địa phương, xã hội; trợ giúp cho những đối tượng bảo trợ, cần được hỗ trợ (người gặp thiên tai, người già, trẻ em, người khuyết tật, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn,…).

3. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với việc bảm đảm quyền con người

Theo Các nguyên tắc hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về doanh nghiệp và quyền con người[1] (sau đây gọi tắt là Các nguyên tắc hướng dẫn của Liên Hợp Quốc), mọi doanh nghiệp đều có trách nhiệm phải tôn trọng quyền con người bằng những phương thức cụ thể như:

Thứ nhất, doanh nghiệp cần có cam kết, tuyên bố chính sách về quyền con người. Bước quan trọng đầu tiên để thực hiện việc tôn trọng quyền con người, doanh nghiệp cần thông qua một bản tuyên bố về mặt chính sách (cam kết chính sách). Bản tuyên bố này thể hiện cam kết của doanh nghiệp đối vớinghĩa vụ tôn trọng quyền con người và được công bố công khai. Nguyên tắc 16 của Các nguyên tắc hướng dẫn của Liên Hợp Quốc đã dưa ra một số yêu cầu cụ thể về nội dung của bản tuyên bố này như: (i) Được phê duyệt ở cấp cao nhất của doanh nghiệp; (ii) Được thông báo bởi bộ phận chuyên môn trong nội bộ và/hoặc bên ngoài doanh nghiệp; (iii) Là văn bản đưa ra những mong đợi của doanh nghiệp về quyền con người đối vớingười lao động, đối tác kinh doanh và các bên có liên quan trực tiếp đến hoạt động, sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp; (iv) Được công khai và thông báo đến tất cả nhân viên, đối tác kinh doanh và các bên có liên quan khác trong và ngoài doanh nghiệp; (v) Được đưa vào trong các chính sách hoạt động và thủ tục cần thiết nhằm áp dụng trong toàn bộ doanh nghiệp.

Cam kết chính sách về quyền con người có thể dưới hình thức là một bản tuyên bố riêng nhưng cũng có thể được lồng nghép vào các chính sách, quy định hiện hành của doanh nghiệp hoặc được đưa vào bộ quy tắc hành nghề của doanh nghiệp.

Thứ hai, doanh nghiệp cần tiến hành thực hiện nghĩa vụ rà soát về quyền con người. Trách nhiệm rà soát (với sự cẩn trọng thích đáng) về quyền con người là một quá trình quản lý rủi ro mà doanh nghiệp cần xác định, ngăn ngừa, giảm thiểu và chịu trách nhiệm giải quyết các tác động tiêu cực về quyền con người do doanh nghiệp và các đối tác, chuỗi cung ứng của mình gây nên trong quá trình vận hành, sản xuất. Nguyên tắc 17 của Các nguyên tắc hướng dẫn của Liên Hợp Quốc nêu rõ quá trình rà soát quyền con người cần bao gồm một số yếu tố như: (i) Tiến hành đánh giá tác động của hoạt động của doanh nghiệp (đánh giá rủi ro) đến quyền con người (bao gồm cả tác động thực tế và tác động tiềm ẩn); (ii) Trên cơ sở các phát hiện mà đánh giá đưa ra để có các biện pháp giải quyết phù hợp và lồng ghép các biện pháp này vào vào chính sách và hoạt động của doanh nghiệp; (iii) Luôn theo dõi, giám sát tính hiệu quả của các biện pháp đã và đang thực hiện để ngăn ngừa và giảm tác động tiêu cực về quyền con người; (iv) Cần cung cấp thông tin rộng rãi, đặc biệt là thông tin cho các nhóm, đối tượng bị ảnh hưởng về quá trình doanh nghiệp thực hiện rà soát nhân quyền con người và các kết quả đạt được; (v) Cuối cùng, rà soát quyền con người là một quá trình liên tục. Rủi ro về quyền con người có thể thay đổi theo thời gian khi các hoạt động kinh doanh và bối cảnh hoạt động của doanh nghiệp thay đổi.

Thứ ba, doanh nghiệp cần có các biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của doanh nghiệp gây nên những tác động tiêu cực hoặc vi phạm quyền quyền con người. Theo Nguyên tắc 19 Các nguyên tắc hướng dẫn của Liên Hợp Quốc thì doanh nghiệp cần tiến hành các biện pháp cụ thể sau để giải quyết tác động nhân quyền:

- Đối với các tác động hay vi phạm quyền con người do chính doanh nghiệp gây ra, doanh nghiệp cần ngay lập tức chấm dứt và ngăn ngừa sự vi phạm này, đồng thời cần trực tiếp hoặc phối hợp với các bên liên quan để đưa ra biện pháp khắc phục hậu quả;

- Đối với các tác động hay vi phạm mà doanh nghiệp có góp phần gây ra hoặc đồng loã, doanh nghiệp cần có biện pháp cần thiết để chấm dứt và ngăn ngừa sự tham gia của mình cũng như cần dùng sự ảnh hưởng của mình để giảm thiểu các tác động tiêu cực về nhân quyền ở mức cao nhất có thể;

- Đối với các tác động hay vi phạm có liên quan đến chuỗi hoạt động, sản phẩm và dịch vụ thông qua quan hệ kinh doanh thì doanh nghiệp cũng cần sử dụng sự ảnh hưởng của mình để chấm dứt, ngăn ngừa sự tác động đó.

Cần lưu ý rằng, mặc dù doanh nghiệp cần giải quyết mọi tác động nhân quyền, nhưng trong một số trường hợp, doanh nghiệp có thể ưu tiên lựa chọn giải quyết trước một số vấn đề nhân quyền có tính nghiêm trọng hơn, nhất là trong trường hợp nếu trì hoãn giải quyết thì có thể gây hậu quả nặng nề.

Như vậy, tôn trọng quyền con người được coi là một trong ba trụ cột cơ bản trong khuôn khổ của Liên Hợp Quốc về doanh nghiệp và quyền con người. Với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, thiện chí chính trị của các quốc gia, áp lực từ phía các tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp ngày càng nhận thức rõ trách nhiệm của mình, đồng thời đưa ra các hành động, cam kết cụ thể để giảm thiểu rủi ro, hạn chế vi phạm quyền cũng như đóng góp vào việc bảo đảm quyền con người.

4. Hạn chế, bất cập trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam và giải pháp

4.1. Hạn chế, bất cập

Việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp ở nước ta tồn tại một số hạn chế, bất cập cụ thể như sau:

Thứ nhất, cơ chế pháp tính pháp lý của việc đánh giá thực hiện TNXH của doanh nghiệp ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập như: Chưa có cơ chế xác định trách nhiệm cụ thể về TNXH của doanh nghiệp của các cơ quan nhà nước, của các tổ chức đại diện doanh nghiệp và của doanh nghiệp; chưa có cơ chế cụ thể để tôn vinh những doanh nghiệp thực hiện TNXH của doanh nghiệp…

Thứ hai, sự hiểu biết của doanh nghiệp về TNXH của doanh nghiệp chưa đầy đủ. Nhiều doanh nghiệp chỉ hiểu đơn thuần là làm từ thiện, mà chưa hiểu rằng việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp là phải thể hiện trực tiếp trong toàn bộ các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Trên thực tế, một bộ phận doanh nghiệp chưa quan tâm nhiều đến bảo vệ môi trường, chưa thực hiện tốt TNXH về bảo vệ môi trường. Nhiều doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, công nghệ thủ công, hoạt động chủ yếu ở khu vực nông thôn, sản xuất, kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp được xác định là đối tượng chính gây ra ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn như: Ô nhiễm nguồn nước, đất đai, phá vỡ hệ sinh thái, ảnh hưởng không tốt đến sinh hoạt của người dân.

Thứ ba, một rào cản tác động bất lợi đến việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp là do nhiều doanh nghiệp hiện nay bị thiếu hụt nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực TNXH của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhiều doanh nghiệp vẫn còn thiếu trách nhiệm với Nhà nước và người lao động. Ngoài ra, những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp vì lợi nhuận trước mắt, đã sản xuất hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng, gây tổn hại đến người tiêu dùng. Điều đó còn cho thấy, các doanh nghiệp này chưa thể hiện được TNXH đối với người tiêu dùng.

4.2. Giải pháp

Để có thể giúp cho doanh nghiệp thực hiện tốt TNXH của mình, cần có sự chung tay của cả phía Nhà nước và doanh nghiệp, cụ thể:

- Đối với Nhà nước:

+ Nhà nước cần xây dựng một hành lang pháp lý bắt buộc các doanh nghiệp phải thực thi TNXH một cách đầy đủ, nghiêm túc và có những cơ chế, chính sách hỗ trợ để các doanh nghiệp có thể thực hiện được TNXH của mình như: Chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nông sản, thực phẩm thực hiện các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường, sản xuất theo công nghệ sạch,...

+ Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, đưa ra chế tài xử phạt mạnh, đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm quy định trong việc thực hiện TNXH. Bên cạnh đó, cần tăng cường các hình thức khuyến khích, khen thưởng, tôn vinh đối với các doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội.

+ Giám sát chặt chẽ, đồng bộ việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp, theo đó, cần có sự kết hợp giữa chính quyền và các lực lượng liên quan, kể cả các lực lượng dân sự tự quản để đảm bảo doanh nghiệp nghiêm túc thực hiện những nội dung đã cam kết.

+ Cần tăng cường thông tin, tuyên truyền để mọi người hiểu đúng về bản chất TNXH của doanh nghiệp, cũng như những lợi ích mà doanh nghiệp được hưởng khi thực hiện trách nhiệm xã hội. Việc tuyên truyền này cần được thực hiện qua nhiều hình thức như: Phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức tập huấn thậm chí là bắt buộc đối với lãnh đạo doanh nghiệp,...

- Đối với doanh nghiệp:

+ Trong chiến lược kinh doanh của mình, doanh nghiệp cần xây dựng nội dung thực hiện TNXH và coi đó như là nhân tố để bảo đảm sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp.

+ Lãnh đạo doanh nghiệp cần quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về TNXH của doanh nghiệp đối với cán bộ quản lý của mình.

Ở Việt Nam hiện nay, TNXH của doanh nghiệp vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ và được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp thường được xem là một hành động giải quyết các vấn đề xã hội vì các mục đích từ thiện và nhân đạo. Do đó, để các doanh nghiệp chủ động thực hiện TNXH là một thách thức không nhỏ, nó đòi hỏi một kế hoạch chu đáo, sự tận tâm để đánh giá đúng lợi ích tiềm năng đích thực, xây xựng niềm tin, triển khai các hoạt động nội bộ doanh nghiệp và các hoạt động bên ngoài xã hội. Theo đó, cần thay đổi nhận thức của doanh nghiệp và hoàn thiện cơ chế thực hiện TNXH của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thực hiện tốt TNXH là góp phần thực thi có hiệu quả pháp luật Việt Nam và các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết có nội dung liên quan đến vấn đề này.

Bùi Huyền

(Tổng hợp từ tài liệu Hội nghị đối thoại "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp"

do Bộ Tư pháp tổ chức ngày 13/11/2018 tại Hà Nội)


[1] Các nguyên tắc hướng dẫn này do đại diện đặc biệt về vấn đề quyền con người, tập đoàn xuyên quốc gia và các doanh nghiệp khác soạn thảo, sau đó được Hội đồng Nhân quyền của Liên Hợp Quốc thông qua theo Nghị quyết sô 17/4 ngày 16/6/2011.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: