Thứ ba 08/09/2026 17:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã

Tóm tắt: Trong thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án gặp khó khăn trong giải quyết yêu cầu tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã. Trong bài viết này, tác giả phân tích những quy định có liên quan, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất hướng giải quyết vướng mắc nói trên cho Tòa án.

Abstract: In reality of resolving civil cases, the courts get difficulties in resolving the requestto declare missing person,to declare death to wanted person. In this essay, the author analyzesthe involving provisions, points out the reasons and suggests the way to resolve above obstaclesfor the courts.


Trong thực tế, không phải lúc nào chúng ta cũng xác định được một người còn sống hay đã chết, như trường hợp họ bỏ nhà đi biệt tích; chiến tranh, thiên tai đã kết thúc một thời gian khá lâu nhưng không tìm thấy thi thể, cũng không thấy họ trở về… Lúc này, sự vắng mặt lâu ngày của người đó làm gián đoạn các quan hệ mà họ đang tham gia, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của những người có liên quan, và tới quyền lợi của chính họ. Để giải quyết tình trạng trên, pháp luật dân sự đặt ra các chế định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố mất tích, tuyên bố chết[1]. Dù đã có những quy định như vậy nhưng khi người bị yêu cầu là đối tượng đang bị truy nã, Tòa án đã lúng túng trong việc áp dụng pháp luật vì đây là trường hợp có liên quan đến hoạt động truy nã của cơ quan điều tra.

1. Thực tiễn giải quyết đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã của Tòa án

Trong thực tiễn giải quyết đơn yêu cầu, Tòa án đã ra nhiều quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết. Tuy nhiên, khi nhận được đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã thì Tòa án lại có sự lúng túng và cuối cùng là trả lại yêu cầu, từ chối thụ lý.

Trường hợp bà M là một ví dụ. Theo bà M, trước đây chồng bà cùng một số người khác thực hiện nhiều vụ cướp giật tài sản, bị công an truy bắt. Sợ phải vào tù, chồng bà đã gom sạch tài sản quý giá trong nhà rồi bỏ đi biệt tăm. Không muốn kéo dài thêm cảnh chờ đợi, bà M muốn ly hôn với người chồng này. Tuy nhiên, sau khi nhận và nghiên cứu đơn yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chồng của bà M, Tòa án nhân dân quận X, thành phố Y đã trả lại đơn, từ chối thụ lý với lý do chồng bà thuộc trường hợp trốn hoạt động truy bắt của công an chứ không phải là mất tích thông thường.

Một trường hợp khác vào năm 2008, trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố mất tích đối với vợ anh Đ, ngay trước ngày mở phiên họp, Tòa án nhận được quyết định truy nã vợ anh Đ (có từ hai năm trước) của công an tỉnh. Do đó, Tòa án đã đình chỉ giải quyết yêu cầu của anh Đ[2].

Trong cả hai vụ việc trên, lý do Tòa án trả lại đơn đều liên quan tới việc người bị yêu cầu đang là đối tượng bị truy nã và trường hợp này không được coi là mất tích thông thường. Thực tiễn này gợi lên hai vấn đề: Một là, quyết định tuyên bố người đang bị truy nã mất tích hoặc tuyên bố người đó là đã chết của Tòa án có ảnh hưởng tới hoạt động truy nã của cơ quan điều tra không? Hai là, nếu có ảnh hưởng thì sự ảnh hưởng này có được coi là căn cứ để Tòa án từ chối thụ lý đơn hay không?

Xoay quanh hai câu hỏi này có ba hướng trả lời khác nhau: Hướng thứ nhất, xuất phát từ quan điểm quyết định tuyên bố mất tích (hoặc tuyên bố chết) không ảnh hưởng đến hoạt động truy nã, cho rằng: Tòa án không được quyền từ chối yêu cầu tuyên bố mất tích (hoặc tuyên bố chết) đối với người đang bị truy nã[3]. Hướng thứ hai, xuất phát từ quan điểm quyết định tuyên bố mất tích (hoặc tuyên bố chết) sẽ làm dừng hoạt động truy nã, cho rằng: Tòa án phải từ chối yêu cầu tuyên bố mất tích (hoặc tuyên bố chết) đối với người đang bị truy nã[4]. Hướng thứ ba, cũng xuất phát từ quan điểm quyết định tuyên bố mất tích (hoặc tuyên bố chết) sẽ làm dừng hoạt động truy nã, nhưng cho rằng: Tòa án không được quyền từ chối yêu cầu tuyên bố mất tích (hoặc tuyên bố chết) đối với người đang bị truy nã[5].

2. Quy định pháp luật liên quan giải quyết yêu cầu tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã

2.1. Căn cứ từ chối đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, đơn yêu cầu tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã trong pháp luật về tố tụng dân sự

Trước đây, trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 (sau đây gọi là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011) quy định về việc từ chối đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, đơn yêu cầu tuyên bố chết trong pháp luật tố tụng dân sự được thể hiện rõ tại khoản 2 Điều 332 và khoản 1 Điều 337 (Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, đơn yêu cầu tuyên bố chết). Hiện nay, dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không còn giữ lại quy định này[6], nhưng về mặt nguyên tắc, đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, đơn yêu cầu tuyên bố chết cũng có thể bị từ chối như các đơn yêu cầu khác và khi Tòa án không chấp nhận đơn, đơn sẽ được trả lại cho đương sự.

Theo Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, những quy định liên quan tới trả lại đơn khởi kiện tại Điều 192 và Điều 193 BLTTDS 2015 cũng có thể là căn cứ áp dụng cho việc trả lại đơn yêu cầu. Trong các căn cứ được liệt kê ở những điều luật này, không có căn cứ nào đề cập tới trường hợp người bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết là đối tượng đang bị truy nã và cũng không tìm thấy căn cứ nào có thể áp dụng đối với trường hợp này.

Như vậy, có thể khẳng định, theo pháp luật tố tụng dân sự hiện hành (cụ thể là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) không có căn cứ cụ thể để từ chối yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã.

2.2. Quy định về căn cứ đình nã đối với người đã bị tuyên bố mất tích, tuyên bố chết trong pháp luật về tố tụng hình sự

Khi một người bỏ đi hoặc vì một lý do nào đó mà không ai rõ người đó đang ở đâu thì người có quyền, lợi ích liên quan được quyền yêu cầu Tòa án tiến hành thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú.

Trong trường hợp người này là bị can[7], bị cáo[8], người bị kết án phạt tù đang tại ngoại mà bỏ trốn[9], cơ quan điều tra có trách nhiệm ra quyết định truy nã để tiến hành việc tìm kiếm đối tượng. Khi nào hoạt động tìm kiếm này sẽ chấm dứt? Hay nói cách khác, trong những trường hợp nào cơ quan điều tra phải ra quyết định đình nã?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 83 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, khoản 2 Điều 114 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, “sau khi nhận người bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải ra ngay quyết định đình nã”. Căn cứ này cũng được ghi nhận tại khoản 2 Điều 12 Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09/10/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự về truy nã và thể hiện trong Mẫu số 31aQĐ sửa đổi theo Thông tư số 22/2014/TT-BCA ngày 03/6/2014 sửa đổi, bổ sung biểu mẫu về truy nã, đình nã ban hành kèm theo Quyết định số 789/2007/QĐ-BCA(C11) ngày 12/7/2007 của Bộ trưởng Bộ Công an để sử dụng trong hoạt động tố tụng hình sự và thi hành án hình sự của lực lượng công an nhân dân.

Trường hợp người đang bị truy nã trong quá trình bỏ trốn phạm tội mới và bị bắt giữ thì cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã sẽ ra quyết định đình nã và phối hợp điều tra với cơ quan điều tra thụ lý vụ án mới[10].

Ngoài các căn cứ trên, đối tượng bị truy nã chết cũng là một căn cứ làm chấm dứt hoạt động truy nã, thông qua thủ tục đình chỉ điều tra. Theo khoản 7 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, khoản 7 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khi người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết thì không được khởi tố vụ án hình sự trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác. Đây cũng là căn cứ để cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra[11], và đương nhiên hoạt động truy nã sẽ chấm dứt khi quyết định này có hiệu lực.

Khi một người biệt tích, việc tìm kiếm người đó có thể được thực hiện bởi người có quyền lợi liên quan theo thủ tục tố tụng dân sự, có thể bởi cơ quan điều tra theo thủ tục tố tụng hình sự hoặc có thể bởi đồng thời cả hai chủ thể này. Vấn đề là, khi việc tìm kiếm theo thủ tục tố tụng dân sự chấm dứt (khi Tòa án ra quyết định tuyên bố mất tích, tuyên bố chết) thì hoạt động tìm kiếm của cơ quan điều tra (truy nã) có chấm dứt theo hay không?

Trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự về truy nã nêu ở trên, chúng ta không thấy đề cập đến những trường hợp “tuyên bố mất tích”, “tuyên bố chết”. Do đó, nếu chỉ căn cứ vào pháp luật về tố tụng hình sự, có thể khẳng định: Quyết định tuyên bố người bị truy nã mất tích (hoặc là đã chết) của Tòa án không phải là căn cứ để cơ quan điều tra ra quyết định đình nã. Quyết định của một cơ quan tố tụng dân sự không ảnh hưởng gì đến hoạt động của một cơ quan tố tụng hình sự. Vì vậy, Tòa án vẫn ra quyết định theo yêu cầu của đương sự và cơ quan điều tra vẫn tiếp tục tiến hành hoạt động truy nã. Đây cũng là ý kiến của hầu hết điều tra viên và giáo viên giảng dạy môn luật tố tụng hình sự.

2.3. Biến động về hộ tịch khi có quyết định tuyên bố mất tích, quyết định tuyên bố chết

Khi có đơn yêu cầu và đơn yêu cầu thỏa mãn các điều kiện Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, Tòa án sẽ phải ra quyết định tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố chết đối với người bị yêu cầu. Quyết định này sẽ tạo ra những hệ quả pháp lý tác động đến các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị tuyên bố. Những thay đổi này là khác nhau giữa trường hợp tuyên bố mất tích (Điều 69 Bộ luật Dân sự năm 2015) với trường hợp tuyên bố chết (Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015). Ngoài những hệ quả pháp lý khác nhau trong lĩnh vực dân sự, quyết định tuyên bố mất tích và quyết định tuyên bố chết cũng tạo ra những hệ quả pháp lý khác nhau về hộ tịch của người bị tuyên bố.

Trước đây, quyết định tuyên bố chết của Tòa án có giá trị thay thế cho giấy báo tử và là cơ sở để Ủy ban nhân dân cấp xã cấp giấy chứng tử đối với người đó theo quy định tại các Điều 24, 21 và 22 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch. Như vậy, quyết định tuyên bố chết sẽ tạo ra những thay đổi trong hộ tịch của người bị tuyên bố tương tự như trường hợp người đó chết. Kết hợp với những quy định liên quan đến vấn đề này trong pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật tố tụng hình sự có thể khẳng định quyết định tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã của Tòa án có thể dẫn tới việc cơ quan điều tra phải ra quyết định đình nã.

Đối với trường hợp bị tuyên bố mất tích, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP không đề cập do đó chúng ta không rõ đơn yêu cầu tuyên bố mất tích đối với người đang bị truy nã nên được giải quyết theo hướng nào mới đúng quy định pháp luật.

Hiện nay, Luật Hộ tịch năm 2014 đã thay thế Nghị định số 158/2005/NĐ-CP và có những thay đổi nhất định góp phần giải quyết những vướng mắc trên. Theo Luật Hộ tịch năm 2014, trường hợp khai tử được đưa vào nhóm 1[12], trong khi trường hợp bị tuyên bố mất tích, bị tuyên bố là đã chết được đưa vào nhóm 2[13]. Theo quy định này, chúng ta sẽ không tiến hành thủ tục khai tử đối với trường hợp bị tuyên bố chết như trước đây mà chỉ ghi nhận biến động về hộ tịch và trường hợp tuyên bố mất tích cũng đã được quy định chứ không bị “lờ đi” như trước. Vì vậy, quyết định tuyên bố chết cũng như quyết định tuyên bố mất tích đối với người đang bị truy nã của Tòa án tạo nên những biến động về hộ tịch nhưng không ảnh hưởng tới hoạt động truy nã của cơ quan điều tra.

3. Khó khăn của Tòa án và hướng khắc phục

Trong thời gian áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011, có thể khẳng định: Quyết định tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã thông qua giấy chứng tử và quyết định đình chỉ điều tra sẽ làm phát sinh căn cứ đình nã đối với người này. Điều này dẫn tới một hệ quả nguy hiểm là người thân của đối tượng đang bị truy nã có thể lợi dụng quy định về tuyên bố chết để ngăn cản hoạt động truy nã của cơ quan điều tra. Chúng ta có thể phần nào thấy được khó khăn của Tòa án khi nhận được thông báo của cơ quan công an về việc người bị yêu cầu tuyên bố chết là đối tượng đang bị truy nã, bởi quyết định của Tòa án có thể gây ra khó khăn cho hoạt động điều tra. Khi gặp phải tình huống này, các Tòa án đều chọn giải pháp từ chối thụ lý đơn yêu cầu dù có thể họ biết việc từ chối là không có căn cứ pháp lý rõ ràng. Đối với trường hợp tuyên bố mất tích, hệ quả tương tự không xảy ra vì quyết định tuyên bố mất tích không thể tạo ra biến động về hộ tịch, cũng không tạo ra căn cứ tạm đình chỉ hay đình chỉ điều tra như quyết định tuyên bố chết. Do đó, khi Tòa án ra quyết định tuyên bố mất tích đối với người đang bị truy nã, cơ quan điều tra vẫn được tiếp tục tiến hành hoạt động truy nã đối tượng. Tuy nhiên, vì sự không rõ ràng của pháp luật và với tâm lý “nhầm còn hơn bỏ sót” để tránh ảnh hưởng đến hoạt động truy nã nên trong thực tiễn, Tòa án từ chối cả yêu cầu tuyên bố mất tích đối với người đang bị truy nã. Việc Tòa án từ chối đơn yêu cầu sẽ không làm gián đoạn hoạt động truy nã của cơ quan điều tra, đảm bảo nguyên tắc “hình hoãn hộ”, tức là khi có sự giao thoa giữa quan hệ pháp luật hình sự với quan hệ pháp luật dân sự thì việc giải quyết vấn đề phát sinh trong quan hệ pháp luật dân sự sẽ phải hoãn lại để ưu tiên cho việc giải quyết vấn đề phát sinh từ quan hệ pháp luật hình sự. Tuy nhiên, việc từ chối đơn yêu cầu mà không có căn cứ rõ ràng như vậy[14] không phải là một giải pháp được khuyến khích vì nó không đảm bảo được quyền lợi của người yêu cầu, trái với nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền dân sự, đi ngược với nguyên tắc cơ quan nhà nước khi từ chối yêu cầu của người dân phải có căn cứ rõ ràng do pháp luật quy định, chứ không thể là một căn cứ mang tính chủ quan. Khó khăn trên xuất phát từ sự không tách bạch trường hợp “chết pháp lý” với trường hợp “chết tự nhiên” trong các văn bản pháp luật có liên quan và hạn chế này đã đặt Tòa án vào tình huống phải lựa chọn khi nhận được đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã mà lựa chọn theo hướng nào cũng không thể đồng thời thỏa mãn hai nguyên tắc vừa nêu.

So với Bộ luật Dân sự năm 2005, chế định tuyên bố mất tích, tuyên bố chết trong Bộ luật Dân sự năm 2015 không có nhiều thay đổi. Thay đổi đáng chú ý liên quan đến phạm vi bài viết này là Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bổ sung thêm quy định tại khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 70, khoản 3 Điều 71 và khoản 5 Điều 73 với nội dung: Quyết định tuyên bố mất tích, tuyên bố chết hay quyết định hủy bỏ các quyết định trên của Tòa án phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Tuy nhiên, sự thay đổi này chưa thể giải quyết được khó khăn của Tòa án. Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hiện nay cũng như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 trước đây chưa từng đề cập đến trường hợp “bị tuyên bố mất tích”, “bị tuyên bố chết”, nghĩa là những trường hợp liên quan đến “tuyên bố mất tích, tuyên bố chết” vẫn là một khoảng trống trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành. Trong văn bản về hộ tịch, những thay đổi của Luật Hộ tịch năm 2014 đã góp phần giải quyết được vướng mắc nói trên. Tuy nhiên, kết luận “quyết định tuyên bố chết của Tòa án không ảnh hưởng đến hoạt động truy nã của cơ quan điều tra” chỉ được rút ra trên cơ sở kết hợp các quy định trong Luật Hộ tịch với các quy định khác có liên quan trong pháp luật về dân sự, pháp luật về tố tụng dân sự, pháp luật về hộ tịch và pháp luật về tố tụng hình sự. Do đó, cho tới nay vẫn chưa có quy định nào trực tiếp khẳng định mối liên hệ giữa quyết định tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã với hoạt động truy nã.

Thông thường, cán bộ điều tra chỉ tập trung vào các văn bản pháp luật về tố tụng hình sự, thành viên hội đồng xét xử vụ việc dân sự cũng tập trung vào các văn bản pháp luật về dân sự và tố tụng dân sự, trong khi đó, để giải quyết vấn đề đang được đề cập cần sự kết hợp quy định trong những văn bản thuộc các lĩnh vực pháp lý trên và cả văn bản pháp luật về hộ tịch. Do đó, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, Tòa án vẫn từ chối thụ lý và trả lại đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, tuyên bố chết khi biết người bị yêu cầu là đối tượng đang bị truy nã.

Ngoài sự lo ngại về việc quyết định tuyên bố chết, tuyên bố mất tích đối với người đang bị truy nã có thể ảnh hưởng đến hoạt động truy nã, còn có ý kiến lo ngại rằng quyết định tuyên bố chết của Tòa án có thể bị các đối tượng lợi dụng để tẩu tán tài sản phạm tội mà có, gây khó khăn cho việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự: Khi có quyết định tuyên bố chết thì việc chia thừa kế sẽ được diễn ra, quyền sở hữu tài sản từ người phạm tội được chuyển cho những người thừa kế và theo nguyên tắc cá thể hóa trong pháp luật hình sự, những biện pháp có thể áp dụng với người phạm tội không thể áp dụng đối với những người thân thích của người bị phạm tội.

Theo khoản 3 Điều 73 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi quyết định tuyên bố chết bị hủy bỏ (sau khi cơ quan điều tra đã bắt được đối tượng và ra quyết định đình nã) người phạm tội có “quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn”. Điểm c khoản 2 Điều 167 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định người bị tố cáo có nghĩa vụ “khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây ra”. Kết hợp hai quy định này có thể thấy, người phạm tội không chỉ có quyền mà còn có nghĩa vụ yêu cầu người thừa kế phải trả lại tài sản và những tài sản này (sau khi thuộc quyền sở hữu của người phạm tội) sẽ chịu sự chi phối của Luật Thi hành án hình sự và bị sung vào công quỹ. Như vậy, quyết định tuyên bố chết khó có thể bị lợi dụng để tẩu tán tài sản phạm tội như lo ngại vừa nêu.

Với những lý do trên, thiết nghĩ, để cho việc áp dụng quy định pháp luật đối với trường hợp được đề cập trong bài viết được thống nhất và rõ ràng, bên cạnh những quy định liên quan đã có trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Luật Thi hành án hình sự năm 2010, vấn đề này cần được quy định cụ thể trong một thông tư liên tịch giữa Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Công an với nội dung khẳng định: Quyết định của Tòa án tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã không ảnh hưởng đến hoạt động truy nã của cơ quan điều tra.

Vũ Hùng Đức

Đại học An ninh nhân dân


[1] Các chế định này được quy định tập trung từ Điều 74 tới Điều 83, Mục 5, Chương III, Bộ luật Dân sự năm 2005; từ Điều 64 tới Điều 73, Mục 5, Chương III, Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Hoàng Yến, Thực tiễn tuyên bố một cá nhân mất tích: Bị truy nã nên không thể xác định mất tích, http://netluat.plo.vn/phap-luat/bi-truy-na-nen-khong-the-xac-dinh-mat-tich-227788.html, truy cập lúc 21h32’ ngày 24/4/2017.

[3] Vũ Thị Trang Nhung, Có được tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã, http://vienkiemsathaiphong.gov.vn/kiem-sat-vien-viet-l15/co-duoc-tuyen-bo-mat-tich-tuyen-bo-chet-doi-voi-nguoi-dang-bi-truy-na-khong-n1237.htm, truy cập ngày 18/02/2017.

[4] Như thẩm phán trong vụ việc của bà M và anh Đ đã nêu.

[5] Theo thẩm phán Trương Công Huấn, Tòa án nhân dân quận 11, thành phố Hồ Chí Minh, Điều 78 Bộ luật Dân sự năm 2005 về tuyên bố một người là mất tích không hề phân biệt người bị tuyên bố mất tích đã biệt tích vì lý do gì nên không loại trừ trường hợp biệt tích do trốn lệnh truy nã, do đó Tòa án không được từ chối giải quyết yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan (xem http://netluat.plo.vn/phap-luat/bi-truy-na-nen-khong-the-xac-dinh-mat-tich-227788.html, truy cập lúc 21h34 ngày 24/4/2017).

[6] Tương ứng với Điều 332, Điều 337 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 là Điều 389, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[7] Khoản 3 Điều 49 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, điểm a khoản 3 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Điểm b khoản 2 Điều 169 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, điểm b khoản 1 Điều 247 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[8] Khoản 3 Điều 50 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, điểm a khoản 3 Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Khoản 1 Điều 187 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, khoản 1 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[9] Khoản 4 Điều 256 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, khoản 3 Điều 364 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[10] Khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09/10/2012 Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật thi hành án hình sự về truy nã.

[11] Điểm a khoản 2 Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, điểm a khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[12] Điều 3. Nội dung đăng ký hộ tịch

(1) Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch:

...

e) Khai tử.

[13] Điều 3. Nội dung đăng ký hộ tịch

(2) Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền:

...

g) Tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.

[14] Đã phân tích ở phần trên.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: