Thứ ba 02/06/2026 23:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã

Tóm tắt: Trong thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án gặp khó khăn trong giải quyết yêu cầu tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã. Trong bài viết này, tác giả phân tích những quy định có liên quan, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất hướng giải quyết vướng mắc nói trên cho Tòa án.

Abstract: In reality of resolving civil cases, the courts get difficulties in resolving the requestto declare missing person,to declare death to wanted person. In this essay, the author analyzesthe involving provisions, points out the reasons and suggests the way to resolve above obstaclesfor the courts.


Trong thực tế, không phải lúc nào chúng ta cũng xác định được một người còn sống hay đã chết, như trường hợp họ bỏ nhà đi biệt tích; chiến tranh, thiên tai đã kết thúc một thời gian khá lâu nhưng không tìm thấy thi thể, cũng không thấy họ trở về… Lúc này, sự vắng mặt lâu ngày của người đó làm gián đoạn các quan hệ mà họ đang tham gia, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của những người có liên quan, và tới quyền lợi của chính họ. Để giải quyết tình trạng trên, pháp luật dân sự đặt ra các chế định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố mất tích, tuyên bố chết[1]. Dù đã có những quy định như vậy nhưng khi người bị yêu cầu là đối tượng đang bị truy nã, Tòa án đã lúng túng trong việc áp dụng pháp luật vì đây là trường hợp có liên quan đến hoạt động truy nã của cơ quan điều tra.

1. Thực tiễn giải quyết đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã của Tòa án

Trong thực tiễn giải quyết đơn yêu cầu, Tòa án đã ra nhiều quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết. Tuy nhiên, khi nhận được đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã thì Tòa án lại có sự lúng túng và cuối cùng là trả lại yêu cầu, từ chối thụ lý.

Trường hợp bà M là một ví dụ. Theo bà M, trước đây chồng bà cùng một số người khác thực hiện nhiều vụ cướp giật tài sản, bị công an truy bắt. Sợ phải vào tù, chồng bà đã gom sạch tài sản quý giá trong nhà rồi bỏ đi biệt tăm. Không muốn kéo dài thêm cảnh chờ đợi, bà M muốn ly hôn với người chồng này. Tuy nhiên, sau khi nhận và nghiên cứu đơn yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chồng của bà M, Tòa án nhân dân quận X, thành phố Y đã trả lại đơn, từ chối thụ lý với lý do chồng bà thuộc trường hợp trốn hoạt động truy bắt của công an chứ không phải là mất tích thông thường.

Một trường hợp khác vào năm 2008, trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố mất tích đối với vợ anh Đ, ngay trước ngày mở phiên họp, Tòa án nhận được quyết định truy nã vợ anh Đ (có từ hai năm trước) của công an tỉnh. Do đó, Tòa án đã đình chỉ giải quyết yêu cầu của anh Đ[2].

Trong cả hai vụ việc trên, lý do Tòa án trả lại đơn đều liên quan tới việc người bị yêu cầu đang là đối tượng bị truy nã và trường hợp này không được coi là mất tích thông thường. Thực tiễn này gợi lên hai vấn đề: Một là, quyết định tuyên bố người đang bị truy nã mất tích hoặc tuyên bố người đó là đã chết của Tòa án có ảnh hưởng tới hoạt động truy nã của cơ quan điều tra không? Hai là, nếu có ảnh hưởng thì sự ảnh hưởng này có được coi là căn cứ để Tòa án từ chối thụ lý đơn hay không?

Xoay quanh hai câu hỏi này có ba hướng trả lời khác nhau: Hướng thứ nhất, xuất phát từ quan điểm quyết định tuyên bố mất tích (hoặc tuyên bố chết) không ảnh hưởng đến hoạt động truy nã, cho rằng: Tòa án không được quyền từ chối yêu cầu tuyên bố mất tích (hoặc tuyên bố chết) đối với người đang bị truy nã[3]. Hướng thứ hai, xuất phát từ quan điểm quyết định tuyên bố mất tích (hoặc tuyên bố chết) sẽ làm dừng hoạt động truy nã, cho rằng: Tòa án phải từ chối yêu cầu tuyên bố mất tích (hoặc tuyên bố chết) đối với người đang bị truy nã[4]. Hướng thứ ba, cũng xuất phát từ quan điểm quyết định tuyên bố mất tích (hoặc tuyên bố chết) sẽ làm dừng hoạt động truy nã, nhưng cho rằng: Tòa án không được quyền từ chối yêu cầu tuyên bố mất tích (hoặc tuyên bố chết) đối với người đang bị truy nã[5].

2. Quy định pháp luật liên quan giải quyết yêu cầu tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã

2.1. Căn cứ từ chối đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, đơn yêu cầu tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã trong pháp luật về tố tụng dân sự

Trước đây, trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 (sau đây gọi là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011) quy định về việc từ chối đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, đơn yêu cầu tuyên bố chết trong pháp luật tố tụng dân sự được thể hiện rõ tại khoản 2 Điều 332 và khoản 1 Điều 337 (Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, đơn yêu cầu tuyên bố chết). Hiện nay, dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không còn giữ lại quy định này[6], nhưng về mặt nguyên tắc, đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, đơn yêu cầu tuyên bố chết cũng có thể bị từ chối như các đơn yêu cầu khác và khi Tòa án không chấp nhận đơn, đơn sẽ được trả lại cho đương sự.

Theo Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, những quy định liên quan tới trả lại đơn khởi kiện tại Điều 192 và Điều 193 BLTTDS 2015 cũng có thể là căn cứ áp dụng cho việc trả lại đơn yêu cầu. Trong các căn cứ được liệt kê ở những điều luật này, không có căn cứ nào đề cập tới trường hợp người bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết là đối tượng đang bị truy nã và cũng không tìm thấy căn cứ nào có thể áp dụng đối với trường hợp này.

Như vậy, có thể khẳng định, theo pháp luật tố tụng dân sự hiện hành (cụ thể là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) không có căn cứ cụ thể để từ chối yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã.

2.2. Quy định về căn cứ đình nã đối với người đã bị tuyên bố mất tích, tuyên bố chết trong pháp luật về tố tụng hình sự

Khi một người bỏ đi hoặc vì một lý do nào đó mà không ai rõ người đó đang ở đâu thì người có quyền, lợi ích liên quan được quyền yêu cầu Tòa án tiến hành thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú.

Trong trường hợp người này là bị can[7], bị cáo[8], người bị kết án phạt tù đang tại ngoại mà bỏ trốn[9], cơ quan điều tra có trách nhiệm ra quyết định truy nã để tiến hành việc tìm kiếm đối tượng. Khi nào hoạt động tìm kiếm này sẽ chấm dứt? Hay nói cách khác, trong những trường hợp nào cơ quan điều tra phải ra quyết định đình nã?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 83 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, khoản 2 Điều 114 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, “sau khi nhận người bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải ra ngay quyết định đình nã”. Căn cứ này cũng được ghi nhận tại khoản 2 Điều 12 Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09/10/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự về truy nã và thể hiện trong Mẫu số 31aQĐ sửa đổi theo Thông tư số 22/2014/TT-BCA ngày 03/6/2014 sửa đổi, bổ sung biểu mẫu về truy nã, đình nã ban hành kèm theo Quyết định số 789/2007/QĐ-BCA(C11) ngày 12/7/2007 của Bộ trưởng Bộ Công an để sử dụng trong hoạt động tố tụng hình sự và thi hành án hình sự của lực lượng công an nhân dân.

Trường hợp người đang bị truy nã trong quá trình bỏ trốn phạm tội mới và bị bắt giữ thì cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã sẽ ra quyết định đình nã và phối hợp điều tra với cơ quan điều tra thụ lý vụ án mới[10].

Ngoài các căn cứ trên, đối tượng bị truy nã chết cũng là một căn cứ làm chấm dứt hoạt động truy nã, thông qua thủ tục đình chỉ điều tra. Theo khoản 7 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, khoản 7 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khi người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết thì không được khởi tố vụ án hình sự trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác. Đây cũng là căn cứ để cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra[11], và đương nhiên hoạt động truy nã sẽ chấm dứt khi quyết định này có hiệu lực.

Khi một người biệt tích, việc tìm kiếm người đó có thể được thực hiện bởi người có quyền lợi liên quan theo thủ tục tố tụng dân sự, có thể bởi cơ quan điều tra theo thủ tục tố tụng hình sự hoặc có thể bởi đồng thời cả hai chủ thể này. Vấn đề là, khi việc tìm kiếm theo thủ tục tố tụng dân sự chấm dứt (khi Tòa án ra quyết định tuyên bố mất tích, tuyên bố chết) thì hoạt động tìm kiếm của cơ quan điều tra (truy nã) có chấm dứt theo hay không?

Trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự về truy nã nêu ở trên, chúng ta không thấy đề cập đến những trường hợp “tuyên bố mất tích”, “tuyên bố chết”. Do đó, nếu chỉ căn cứ vào pháp luật về tố tụng hình sự, có thể khẳng định: Quyết định tuyên bố người bị truy nã mất tích (hoặc là đã chết) của Tòa án không phải là căn cứ để cơ quan điều tra ra quyết định đình nã. Quyết định của một cơ quan tố tụng dân sự không ảnh hưởng gì đến hoạt động của một cơ quan tố tụng hình sự. Vì vậy, Tòa án vẫn ra quyết định theo yêu cầu của đương sự và cơ quan điều tra vẫn tiếp tục tiến hành hoạt động truy nã. Đây cũng là ý kiến của hầu hết điều tra viên và giáo viên giảng dạy môn luật tố tụng hình sự.

2.3. Biến động về hộ tịch khi có quyết định tuyên bố mất tích, quyết định tuyên bố chết

Khi có đơn yêu cầu và đơn yêu cầu thỏa mãn các điều kiện Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, Tòa án sẽ phải ra quyết định tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố chết đối với người bị yêu cầu. Quyết định này sẽ tạo ra những hệ quả pháp lý tác động đến các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị tuyên bố. Những thay đổi này là khác nhau giữa trường hợp tuyên bố mất tích (Điều 69 Bộ luật Dân sự năm 2015) với trường hợp tuyên bố chết (Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015). Ngoài những hệ quả pháp lý khác nhau trong lĩnh vực dân sự, quyết định tuyên bố mất tích và quyết định tuyên bố chết cũng tạo ra những hệ quả pháp lý khác nhau về hộ tịch của người bị tuyên bố.

Trước đây, quyết định tuyên bố chết của Tòa án có giá trị thay thế cho giấy báo tử và là cơ sở để Ủy ban nhân dân cấp xã cấp giấy chứng tử đối với người đó theo quy định tại các Điều 24, 21 và 22 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch. Như vậy, quyết định tuyên bố chết sẽ tạo ra những thay đổi trong hộ tịch của người bị tuyên bố tương tự như trường hợp người đó chết. Kết hợp với những quy định liên quan đến vấn đề này trong pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật tố tụng hình sự có thể khẳng định quyết định tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã của Tòa án có thể dẫn tới việc cơ quan điều tra phải ra quyết định đình nã.

Đối với trường hợp bị tuyên bố mất tích, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP không đề cập do đó chúng ta không rõ đơn yêu cầu tuyên bố mất tích đối với người đang bị truy nã nên được giải quyết theo hướng nào mới đúng quy định pháp luật.

Hiện nay, Luật Hộ tịch năm 2014 đã thay thế Nghị định số 158/2005/NĐ-CP và có những thay đổi nhất định góp phần giải quyết những vướng mắc trên. Theo Luật Hộ tịch năm 2014, trường hợp khai tử được đưa vào nhóm 1[12], trong khi trường hợp bị tuyên bố mất tích, bị tuyên bố là đã chết được đưa vào nhóm 2[13]. Theo quy định này, chúng ta sẽ không tiến hành thủ tục khai tử đối với trường hợp bị tuyên bố chết như trước đây mà chỉ ghi nhận biến động về hộ tịch và trường hợp tuyên bố mất tích cũng đã được quy định chứ không bị “lờ đi” như trước. Vì vậy, quyết định tuyên bố chết cũng như quyết định tuyên bố mất tích đối với người đang bị truy nã của Tòa án tạo nên những biến động về hộ tịch nhưng không ảnh hưởng tới hoạt động truy nã của cơ quan điều tra.

3. Khó khăn của Tòa án và hướng khắc phục

Trong thời gian áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011, có thể khẳng định: Quyết định tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã thông qua giấy chứng tử và quyết định đình chỉ điều tra sẽ làm phát sinh căn cứ đình nã đối với người này. Điều này dẫn tới một hệ quả nguy hiểm là người thân của đối tượng đang bị truy nã có thể lợi dụng quy định về tuyên bố chết để ngăn cản hoạt động truy nã của cơ quan điều tra. Chúng ta có thể phần nào thấy được khó khăn của Tòa án khi nhận được thông báo của cơ quan công an về việc người bị yêu cầu tuyên bố chết là đối tượng đang bị truy nã, bởi quyết định của Tòa án có thể gây ra khó khăn cho hoạt động điều tra. Khi gặp phải tình huống này, các Tòa án đều chọn giải pháp từ chối thụ lý đơn yêu cầu dù có thể họ biết việc từ chối là không có căn cứ pháp lý rõ ràng. Đối với trường hợp tuyên bố mất tích, hệ quả tương tự không xảy ra vì quyết định tuyên bố mất tích không thể tạo ra biến động về hộ tịch, cũng không tạo ra căn cứ tạm đình chỉ hay đình chỉ điều tra như quyết định tuyên bố chết. Do đó, khi Tòa án ra quyết định tuyên bố mất tích đối với người đang bị truy nã, cơ quan điều tra vẫn được tiếp tục tiến hành hoạt động truy nã đối tượng. Tuy nhiên, vì sự không rõ ràng của pháp luật và với tâm lý “nhầm còn hơn bỏ sót” để tránh ảnh hưởng đến hoạt động truy nã nên trong thực tiễn, Tòa án từ chối cả yêu cầu tuyên bố mất tích đối với người đang bị truy nã. Việc Tòa án từ chối đơn yêu cầu sẽ không làm gián đoạn hoạt động truy nã của cơ quan điều tra, đảm bảo nguyên tắc “hình hoãn hộ”, tức là khi có sự giao thoa giữa quan hệ pháp luật hình sự với quan hệ pháp luật dân sự thì việc giải quyết vấn đề phát sinh trong quan hệ pháp luật dân sự sẽ phải hoãn lại để ưu tiên cho việc giải quyết vấn đề phát sinh từ quan hệ pháp luật hình sự. Tuy nhiên, việc từ chối đơn yêu cầu mà không có căn cứ rõ ràng như vậy[14] không phải là một giải pháp được khuyến khích vì nó không đảm bảo được quyền lợi của người yêu cầu, trái với nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền dân sự, đi ngược với nguyên tắc cơ quan nhà nước khi từ chối yêu cầu của người dân phải có căn cứ rõ ràng do pháp luật quy định, chứ không thể là một căn cứ mang tính chủ quan. Khó khăn trên xuất phát từ sự không tách bạch trường hợp “chết pháp lý” với trường hợp “chết tự nhiên” trong các văn bản pháp luật có liên quan và hạn chế này đã đặt Tòa án vào tình huống phải lựa chọn khi nhận được đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã mà lựa chọn theo hướng nào cũng không thể đồng thời thỏa mãn hai nguyên tắc vừa nêu.

So với Bộ luật Dân sự năm 2005, chế định tuyên bố mất tích, tuyên bố chết trong Bộ luật Dân sự năm 2015 không có nhiều thay đổi. Thay đổi đáng chú ý liên quan đến phạm vi bài viết này là Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bổ sung thêm quy định tại khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 70, khoản 3 Điều 71 và khoản 5 Điều 73 với nội dung: Quyết định tuyên bố mất tích, tuyên bố chết hay quyết định hủy bỏ các quyết định trên của Tòa án phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Tuy nhiên, sự thay đổi này chưa thể giải quyết được khó khăn của Tòa án. Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hiện nay cũng như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 trước đây chưa từng đề cập đến trường hợp “bị tuyên bố mất tích”, “bị tuyên bố chết”, nghĩa là những trường hợp liên quan đến “tuyên bố mất tích, tuyên bố chết” vẫn là một khoảng trống trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành. Trong văn bản về hộ tịch, những thay đổi của Luật Hộ tịch năm 2014 đã góp phần giải quyết được vướng mắc nói trên. Tuy nhiên, kết luận “quyết định tuyên bố chết của Tòa án không ảnh hưởng đến hoạt động truy nã của cơ quan điều tra” chỉ được rút ra trên cơ sở kết hợp các quy định trong Luật Hộ tịch với các quy định khác có liên quan trong pháp luật về dân sự, pháp luật về tố tụng dân sự, pháp luật về hộ tịch và pháp luật về tố tụng hình sự. Do đó, cho tới nay vẫn chưa có quy định nào trực tiếp khẳng định mối liên hệ giữa quyết định tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã với hoạt động truy nã.

Thông thường, cán bộ điều tra chỉ tập trung vào các văn bản pháp luật về tố tụng hình sự, thành viên hội đồng xét xử vụ việc dân sự cũng tập trung vào các văn bản pháp luật về dân sự và tố tụng dân sự, trong khi đó, để giải quyết vấn đề đang được đề cập cần sự kết hợp quy định trong những văn bản thuộc các lĩnh vực pháp lý trên và cả văn bản pháp luật về hộ tịch. Do đó, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, Tòa án vẫn từ chối thụ lý và trả lại đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, tuyên bố chết khi biết người bị yêu cầu là đối tượng đang bị truy nã.

Ngoài sự lo ngại về việc quyết định tuyên bố chết, tuyên bố mất tích đối với người đang bị truy nã có thể ảnh hưởng đến hoạt động truy nã, còn có ý kiến lo ngại rằng quyết định tuyên bố chết của Tòa án có thể bị các đối tượng lợi dụng để tẩu tán tài sản phạm tội mà có, gây khó khăn cho việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự: Khi có quyết định tuyên bố chết thì việc chia thừa kế sẽ được diễn ra, quyền sở hữu tài sản từ người phạm tội được chuyển cho những người thừa kế và theo nguyên tắc cá thể hóa trong pháp luật hình sự, những biện pháp có thể áp dụng với người phạm tội không thể áp dụng đối với những người thân thích của người bị phạm tội.

Theo khoản 3 Điều 73 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi quyết định tuyên bố chết bị hủy bỏ (sau khi cơ quan điều tra đã bắt được đối tượng và ra quyết định đình nã) người phạm tội có “quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn”. Điểm c khoản 2 Điều 167 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định người bị tố cáo có nghĩa vụ “khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây ra”. Kết hợp hai quy định này có thể thấy, người phạm tội không chỉ có quyền mà còn có nghĩa vụ yêu cầu người thừa kế phải trả lại tài sản và những tài sản này (sau khi thuộc quyền sở hữu của người phạm tội) sẽ chịu sự chi phối của Luật Thi hành án hình sự và bị sung vào công quỹ. Như vậy, quyết định tuyên bố chết khó có thể bị lợi dụng để tẩu tán tài sản phạm tội như lo ngại vừa nêu.

Với những lý do trên, thiết nghĩ, để cho việc áp dụng quy định pháp luật đối với trường hợp được đề cập trong bài viết được thống nhất và rõ ràng, bên cạnh những quy định liên quan đã có trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Luật Thi hành án hình sự năm 2010, vấn đề này cần được quy định cụ thể trong một thông tư liên tịch giữa Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Công an với nội dung khẳng định: Quyết định của Tòa án tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã không ảnh hưởng đến hoạt động truy nã của cơ quan điều tra.

Vũ Hùng Đức

Đại học An ninh nhân dân


[1] Các chế định này được quy định tập trung từ Điều 74 tới Điều 83, Mục 5, Chương III, Bộ luật Dân sự năm 2005; từ Điều 64 tới Điều 73, Mục 5, Chương III, Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Hoàng Yến, Thực tiễn tuyên bố một cá nhân mất tích: Bị truy nã nên không thể xác định mất tích, http://netluat.plo.vn/phap-luat/bi-truy-na-nen-khong-the-xac-dinh-mat-tich-227788.html, truy cập lúc 21h32’ ngày 24/4/2017.

[3] Vũ Thị Trang Nhung, Có được tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với người đang bị truy nã, http://vienkiemsathaiphong.gov.vn/kiem-sat-vien-viet-l15/co-duoc-tuyen-bo-mat-tich-tuyen-bo-chet-doi-voi-nguoi-dang-bi-truy-na-khong-n1237.htm, truy cập ngày 18/02/2017.

[4] Như thẩm phán trong vụ việc của bà M và anh Đ đã nêu.

[5] Theo thẩm phán Trương Công Huấn, Tòa án nhân dân quận 11, thành phố Hồ Chí Minh, Điều 78 Bộ luật Dân sự năm 2005 về tuyên bố một người là mất tích không hề phân biệt người bị tuyên bố mất tích đã biệt tích vì lý do gì nên không loại trừ trường hợp biệt tích do trốn lệnh truy nã, do đó Tòa án không được từ chối giải quyết yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan (xem http://netluat.plo.vn/phap-luat/bi-truy-na-nen-khong-the-xac-dinh-mat-tich-227788.html, truy cập lúc 21h34 ngày 24/4/2017).

[6] Tương ứng với Điều 332, Điều 337 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 là Điều 389, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[7] Khoản 3 Điều 49 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, điểm a khoản 3 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Điểm b khoản 2 Điều 169 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, điểm b khoản 1 Điều 247 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[8] Khoản 3 Điều 50 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, điểm a khoản 3 Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Khoản 1 Điều 187 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, khoản 1 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[9] Khoản 4 Điều 256 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, khoản 3 Điều 364 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[10] Khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09/10/2012 Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật thi hành án hình sự về truy nã.

[11] Điểm a khoản 2 Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, điểm a khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[12] Điều 3. Nội dung đăng ký hộ tịch

(1) Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch:

...

e) Khai tử.

[13] Điều 3. Nội dung đăng ký hộ tịch

(2) Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền:

...

g) Tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.

[14] Đã phân tích ở phần trên.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: