Thứ ba 28/07/2026 03:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án

Biện pháp bảo đảm được hiểu là những chế tài theo quy định của pháp luật do chấp hành viên tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.

Đây là một điểm mới được Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định. Trước đây các Pháp lệnh về thi hành án dân sự (Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, 1993,...) không quy định các biện pháp bảo đảm thi hành án. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 giành hẳn Mục 1 Chương IV để quy định về các biện pháp bảo đảm cho thấy tính cấp thiết và quan trọng của các biện pháp này trong công tác thi hành án dân sự. Và thực tế cũng cho thấy, các biện pháp bảo đảm thi hành án đã mang lại những khởi sắc nhất định trong công tác thi hành án dân sự.

Tuy nhiên, biện pháp này vẫn còn những hạn chế, khó khăn nhất định. Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến một số vấn đề đang là tâm điểm khó khăn của chấp hành viên qua thực tiễn tổ chức áp dụng biện pháp này.

Thứ nhất, xét một cách tổng thể thì biện pháp bảo đảm thi hành án không khác nhiều so với biện pháp kê biên ngay (theo Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004). Điều khác biệt cơ bản là có sự phân định rạch ròi về bản chất của các biện pháp này (biện pháp bảo đảm mới ở giai đoạn ngăn chặn, khác với biện pháp kê biên ngay ở giai đoạn cưỡng chế). Tuy nhiên, biện pháp bảo đảm lại quy định các dấu hiệu “...tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án...”(1) như biện pháp kê biên ngay của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004. Những dấu hiệu này trước đây đã từng cản trở chấp hành viên áp dụng biện pháp kê biên ngay vì rất khó xác định dấu hiệu, nhưng lại dễ dàng cho đương sự khiếu nại, và để an toàn, chấp hành viên rất ít khi áp dụng biện pháp kê biên ngay. Cho đến nay, chưa có thống kê trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2008 và từ khi Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực đến nay có bao nhiêu vụ việc được áp dụng biện pháp kê biên ngay và áp dụng biện pháp bảo đảm. Nhưng theo chúng tôi tìm hiểu, qua thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Long An, Đồng Nai, Bình Phước,... rất ít chấp hành viên áp dụng các biện pháp này. Lý do được đưa ra là biện pháp bảo đảm thi hành án còn rườm rà hơn cả biện pháp kê biên ngay vì phải thực thi quá nhiều thủ tục như trong trường hợp thu giữ tài sản trong thời hạn 15 ngày phải xác minh, thông báo, áp dụng biện pháp cưỡng chế, hoặc trả lại tài sản trong trường hợp đương sự chứng minh tài sản không thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án,..

Thứ hai, việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản theo quy định tại Điều 67 Luật Thi hành án dân sự năm 2008: “Việc phong toả tài khoản được thực hiện trong trường hợp cần ngăn chặn việc tẩu tán tiền trong tài khoản của người phải thi hành án...”(2).

Biện pháp này xét trên khía cạnh lý thuyết thì rất ưu điểm, vì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án phải tự nguyện thi hành và để phòng ngừa người phải thi hành án tẩu tán, biện pháp này cho phép chấp hành viên được quyền phong tỏa tài khoản của người phải thi hành án để đảm bảo việc thi hành án sau này. Tuy nhiên, biện pháp này cũng rất ít khi được chấp hành viên áp dụng, bởi lẽ, có các khó khăn sau đây:

Một là, các kho bạc, ngân hàng, tổ chức tín dụng thường từ chối cung cấp số tài khoản, số dư tài khoản cho cơ quan thi hành án dân sự với những lý do rất tế nhị và rất khó để quy trách nhiệm. Và càng khó khăn hơn cho người được thi hành án xác định và cung cấp cho cơ quan thi hành án dân sự số tài khoản, số dư tài khoản của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự làm căn cứ tổ chức thi hành (ra quyết định phong tỏa tài khoản).

Hai là, trong trường hợp chấp hành viên xác định được số tài khoản, số dư tài khoản của người phải thi hành án hoặc người được thi hành án cung cấp được cho cơ quan thi hành án dân sự số tài khoản, số dư tài khoản của người phải thi hành án thì trong khoảng thời gian tự nguyện thi hành án chấp hành viên vẫn có thể vận dụng các quy định khác của pháp luật để thực thi. Trong trường hợp này, chấp hành viên có thể vận dụng quy định tại Điều 11 Luật Thi hành án dân sự năm 2008(3), theo đó chấp hành viên lập biên bản với đại diện kho bạc, ngân hàng, tổ chức tín dụng về việc thi hành án và yêu cầu kho bạc, ngân hàng, tổ chức tín dụng đó tạm giữ đủ số tiền phải thi hành án để đảm bảo việc thi hành án mà không nhất thiết phải ra quyết định phong tỏa – tốn thời gian, công sức và không kịp thời. Bởi vì, ra được quyết định phong tỏa, “tìm” được người đại diện hợp pháp của kho bạc, ngân hàng, tổ chức tín dụng để tống đạt quyết định là cả một vấn đề nan giải.

Ba là, khó khăn về thời gian xử lý quyết định phong tỏa tài khoản. Theo quy định tại khoản 3 Điều 67 thì: “Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phong toả tài khoản, chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế …”(4). Vấn đề đặt ra là trong thời gian này đương sự - người phải thi hành án chưa hết quyền thỏa thuận thi hành án “Đương sự có quyền thoả thuận về việc thi hành án, nếu thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Kết quả thi hành án theo thoả thuận được công nhận….”(5). Hơn thế nữa, đương chưa mất quyền/hết thời gian tự nguyện thi hành án theo quy định tại Điều 8 và Điều 45 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Như vậy, việc chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế là vi phạm nghiêm trọng đến quyền của người phải thi hành án. Bởi vì, quy định tại khoản 2 Điều 45 là cho phép chấp hành viên được áp dụng các biện pháp bảo đảm chứ không phải là biện pháp cưỡng chế. Thủ tục cưỡng chế vẫn phải tuân theo trình tự luật định.

Các nhà làm luật đã đưa ra những quy phạm pháp luật thiếu rõ ràng, và để an toàn nếu có áp dụng biện pháp này, chấp hành viên đều phải vượt rào – vi phạm thời hạn 05 ngày để đảm bảo đúng trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành án.

Theo chúng tôi, với trường hợp trên, biện pháp cưỡng chế - khấu trừ ngay vào tài khoản của người phải thi hành án (như quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004) lại mang tính hiệu quả và tiết kiệm nhất – nếu không có sự phân định quá rạch ròi về biện pháp bảo đảm và biện pháp cưỡng chế như Luật Thi hành án dân sự đã quy định.

Thứ ba, đối với biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự theo quy định tại Điều 68 Luật Thi hành án dân sự thì: “Chấp hành viên đang thực hiện nhiệm vụ thi hành án có quyền tạm giữ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ để tạm giữ tài sản, giấy tờ mà đương sự đang quản lý, sử dụng…”(6).

Những quy định nêu trên tưởng chừng như rất thuận lợi cho chấp hành viên thực thi, nhưng những ai đã thực hiện mới nhận thấy hết những vất vả, khó khăn.

Khó khăn đầu tiên là khi thực hiện biện pháp này phải cần có sự hỗ trợ lực lượng như: Công an, viện kiểm sát, chính quyền địa phương,... nhưng công an và viện kiểm sát đều từ chối với lý do là không có hướng dẫn hỗ trợ, kiểm sát hoạt động này. Thực vậy, đến nay chỉ có văn bản hướng dẫn về hỗ trợ cưỡng chế (Quyết định số 1501/2008/QĐ-BCA (C11), ngày 10/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành quy trình hỗ trợ cưỡng chế thi hành án dân sự của lực lượng bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân) chứ chưa có văn bản nào hướng dẫn hỗ trợ lực lượng cho biện pháp bảo đảm.

Khó khăn thứ hai là chấp hành viên phải xác định được dấu hiệu: Tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án để có căn cứ tạm giữ. Chúng tôi xin nêu một vụ việc là người phải thi hành án đến trụ sở cơ quan thi hành án bằng xe gắn máy, trong khi nghĩa vụ thi hành án tương xứng với chiếc xe trên, chấp hành viên tạm giữ chiếc xe để đảm bảo thi hành án. Đương sự cho rằng không có ý tẩu tán, hủy hoại hay trốn tránh việc thi hành án và chống đối quyết liệt. Trong trường hợp trên chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự phải xử lý như thế nào? đang được luật bỏ ngỏ. Và vấn đề sẽ thực sự phức tạp nếu không được sự kiểm sát của viện kiểm sát, không được sự hỗ trợ của lực lượng công an thì uy tín và tính nghiêm minh của pháp luật sẽ bị xâm phạm. Theo chúng tôi, để đảm bảo việc áp dụng khả thi điều luật này, nên chăng cũng cần phải có quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ hỗ trợ của viện kiểm sát và công an.

Khó khăn thứ ba là theo quy định thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tạm giữ tài sản, giấy tờ, chấp hành viên ra một trong các quyết định hoặc là áp dụng biện pháp cưỡng chế nếu xác định được tài sản, giấy tờ tạm giữ thuộc sở hữu của người phải thi hành án; hoặc trả lại tài sản tạm giữ cho đương sự trong trường hợp đương sự chứng minh tài sản, giấy tờ tạm giữ không thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án.

Tuy nhiên, tại Điều 89 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 cũng có quy định: “Trước khi kê biên... tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký”(7). Và theo quy định này, thì thời hạn xác minh, cung cấp thông tin không phải hoàn toàn dựa vào chấp hành viên mà phần lớn phụ thuộc vào các cơ quan có liên quan trong việc cung cấp thông tin. Thực tiễn cho thấy, việc trả lời xác minh, cung cấp thông tin cho cơ quan thi hành án dân sự của các cơ quan có liên quan không phải bao giờ cũng nhanh chóng mà đa phần là chậm trễ, và nhanh nhất cũng 20 đến 30 ngày, còn chậm thì chưa biết đến bao giờ.

Theo chúng tôi để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của chế định bảo đảm thi hành án, rất cần một sự tổng kết thực tiễn áp dụng biện pháp bảo đảm trên phạm vi cả nước để có những hướng dẫn, bổ sung phù hợp với thực tiễn và tháo gỡ những khó khăn cho người áp dụng.

ThS. Đinh Duy Bằng

Tài liệu tham khảo:

(1). Khoản 1 Điều 66 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

(2). Điều 67 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

(3). Điều 11 Luật Thi hành án dân sự quy định: “1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc thi hành án.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên theo quy định của Luật này.

Mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên đều bị xử lý theo quy định của pháp luật”.

(4). Khoản 3 Điều 67 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

(5). Khoản 1 Điều 6 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

(6). Điều 68 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

(7). Khoản 1 Điều 89 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: