Thứ bảy 16/05/2026 06:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về xã hội hóa thi hành án dân sự

Vấn đề xã hội hóa được Đảng ta đề cập lần đầu tiên tại Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VIII. Nghị quyết Hội nghị chủ trương: “Thí điểm việc xã hội hóa một số lĩnh vực dịch vụ, y tế, giáo dục, khoa học và hoạt động văn hóa, thể thao… trước hết là ở các thành phố, các khu công nghiệp...”[1].

Qua các Đại hội IX, X, XI, chủ trương ấy vẫn được Đảng khẳng định. Văn kiện Đại hội XI nhấn mạnh: “Đẩy mạnh xã hội hóa các loại dịch vụ công phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”[2]. Chủ trương xã hội hóa của Đảng với loại dịch vụ công, gắn với cải cách nền hành chính nhà nước, cải cách tư pháp.


Xã hội hóa thi hành án dân sự (THADS) cũng là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình cải cách tư pháp, huy động sự tham gia của cộng đồng xã hội vào công tác THADS, chia sẻ, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc tổ chức thi hành án. Tuy nhiên, việc xã hội hóa trong lĩnh vực THADS vẫn còn là vấn đề tương đối mới mẻ, về mặt lý luận, hầu như các nhà nghiên cứu chỉ tập trung phân tích, mổ xẻ mô hình Thừa phát lại (một nội dung của xã hội hóa THADS) chứ hầu như không nghiên cứu sâu về lý luận xã hội hóa THADS. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ đưa ra một vài vấn đề lý luận cơ bản về xã hội hóa và xã hội hóa THADS.

1. Xã hội hóa và xã hội hóa thi hành án dân sự

1.1. Xã hội hóa

- Xét dưới góc độ xã hội học: Xã hội hóa là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội (tập thể), trong đó cá nhân học hỏi và thực hành những tri thức, những kỹ năng và những phương thức cần thiết để hội nhập với xã hội[3]. Ở góc độ quản lý nhà nước, xã hội hóa lại được nhìn nhận gắn với việc xác định vai trò của Nhà nước trong mỗi chế độ xã hội và cách thức Nhà nước thực hiện vai trò đó[4]. Bên cạnh đó, một số người cho rằng, xã hội hóa là quá trình chuyển giao để khu vực ngoài nhà nước thực hiện những công việc trước đây do Nhà nước làm hoặc quan niệm rằng đúng ra Nhà nước phải làm hoặc chỉ là biện pháp huy động nguồn lực tài chính của khu vực ngoài nhà nước. Theo đó, xã hội hóa là sự chuyển giao đơn thuần về chủ thể thực hiện hoặc chỉ là một biện pháp huy động tài chính ngoài ngân sách để tăng cường đầu tư cho một số lĩnh vực cụ thể. Người ta dẫn chứng việc thực hiện chủ trương đó như là “khuyến khích thành lập bệnh viện tư, cơ sở giáo dục tư, tổ chức nghiên cứu khoa học tư”[5].

Như vậy, xã hội hóa là việc huy động, tạo điều kiện và tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của nhân dân, của toàn xã hội cùng với Nhà nước chia sẻ trách nhiệm, đầu tư, phát triển các hoạt động trong một số lĩnh vực cụ thể; là quá trình chuyển giao cho các cá nhân, tổ chức tư nhân (khu vực ngoài nhà nước) “gánh đỡ” các công việc trước đây do Nhà nước làm.

1.2. Xã hội hóa thi hành án dân sự

Với quan điểm cho rằng thi hành án là một thủ tục hành chính - tư pháp[6], trong đó xét xử là khâu trọng yếu của hoạt động tư pháp. Mặc dù vậy, nếu phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà không được thi hành, thì hiệu lực của nó chỉ thể hiện trên giấy mà thôi. Chính vì lẽ đó, thi hành án là vấn đề gắn liền với công tác xét xử, hoạt động xét xử sẽ không có ý nghĩa, nếu công tác thi hành án không được chú trọng.

THADS là việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự đã được ghi nhận trong bản án, quyết định; là hoạt động bảo vệ tư quyền, do vậy, về nguyên tắc có thể thực hiện xã hội hóa hoạt động này hay nói cách khác, cần huy động nguồn lực, nêu cao trách nhiệm của người dân cũng như có thể chuyển giao cho cá nhân, tổ chức phi nhà nước thực hiện toàn bộ hay một phần hoạt động THADS. Xã hội hóa THADS là làm cho việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án trở thành công việc chung của xã hội. Nếu THADS được hiểu theo nghĩa rộng là sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ của các bên theo phán quyết của Tòa án, thì xã hội hóa THADS là việc vận động, tổ chức và nâng cao trách nhiệm của các bên có quyền, nghĩa vụ, của cộng đồng và của toàn xã hội trong việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án.

Như vậy, xã hội hóa THADS là việc chuyển giao cho các cá nhân, tổ chức thi hành án tư nhân thực hiện các công việc về THADS nhằm thi hành kịp thời, đúng đắn các bản án, quyết định dân sự của Tòa án theo quy định của pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, lợi ích của Nhà nước và của toàn xã hội.

2. Một số đặc điểm của xã hội hóa thi hành án dân sự

Một là, có sự tham gia của tổ chức, cá nhân vào việc tổ chức thi hành án dân sự

Sự tham gia của các tổ chức, cá nhân vào việc tổ chức thi hành án ngoài việc bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án, người phải thi hành án mà còn giúp cho công lý được thực thi, giúp bảo đảm nền pháp chế xã hội chủ nghĩa. Là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, việc tổ chức THADS bao gồm nhiều hoạt động của nhiều chủ thể khác nhau, nên đòi hỏi sự huy động lực lượng không chỉ của các cơ quan hành chính nhà nước mà cả các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp, sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động này là sự phối hợp giữa quyền hành pháp, tư pháp... thông qua hoạt động THADS, những phán quyết của Tòa án nhân danh Nhà nước, thể hiện ý chí của Nhà nước được trở thành hiện thực, công lý được thực hiện. Quá trình giải quyết một vụ án chỉ kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án được thi hành kịp thời và đầy đủ. Nếu công tác THADS không được quan tâm và không có hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực, tác động đến toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực nhà nước bị xem thường, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm.

Hai là, tổ chức, cá nhân được chủ động thực hiện các công việc về thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật

Theo đó, các tổ chức, cá nhân thi hành án tư nhân khi được yêu cầu thi hành án, có quyền tổ chức, thực hiện công việc thi hành án trong phạm vi quyền hạn của mình, đồng thời có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan phối hợp theo quy định của pháp luật. Người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền lựa chọn tổ chức thi hành án cho mình: Cá nhân, tổ chức thi hành án tư nhân (Thừa phát lại) hoặc cơ quan THADS.

Ba là, xã hội hóa thi hành án dân sự phải gắn liền với trách nhiệm quản lý của Nhà nước

Nhà nước tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, phát huy vai trò của các đoàn thể, tổ chức quần chúng trong việc giám sát hoạt động của các tổ chức thi hành án tư nhân. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, quản lý thông qua các quy định của pháp luật và kiểm tra thực hiện. Đó là Nhà nước không can thiệp sâu vào các hoạt động THADS mà chỉ kiểm soát các hoạt động này thông qua các công cụ chính sách, pháp luật có tính chất định hướng, đồng thời, đề cao chế độ trách nhiệm của những cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động THADS.

Bốn là, xã hội hóa thi hành án dân sự phải bảo đảm sự công bằng trong tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ giữa mọi công dân

Một trong những chủ trương của việc xã hội hóa là có thể thu hút tối đa mọi nguồn lực của xã hội. Vì vậy, mọi cá nhân, tổ chức khi hội tụ đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật đều có quyền tham gia cung cấp dịch vụ; tương tự, người dân khi có nhu cầu sử dụng dịch vụ đều có quyền yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ một cách bình đẳng như nhau. Tuy nhiên, cũng lưu ý ở đây là công bằng chứ không phải là cào bằng: Những người thụ hưởng cũng có thể bị hạn chế nhu cầu với một hoặc một số dịch vụ nếu như yêu cầu đó ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, xã hội hoặc pháp luật không cho phép.



3. Nguyên tắc xã hội hóa thi hành án dân sự

Có thể thấy, xã hội hóa THADS là một vấn đề không còn mới đối với các nhà nghiên cứu, đã có một số công trình nghiên cứu về xã hội hóa THADS nhưng chỉ nghiên cứu về chủ trương, chính sách, mô hình xã hội hóa, từ đó đưa ra định hướng triển khai thực hiện, chứ hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về bản chất, đặc điểm cũng như nguyên tắc xã hội hóa.

Theo chúng tôi, xã hội hóa THADS cũng cần tuân thủ các nguyên tắc cần nhất định, đó là: (i) Xã hội hóa THADS phải bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án; (ii) Xã hội hóa THADS phải bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan THADS, chấp hành viên, Thừa phát lại; (iii) Xã hội hóa THADS phải bảo đảm đủ cơ sở pháp lý để các tổ chức tư nhân thực hiện hiệu quả việc THADS.

4. Ý nghĩa của xã hội hóa thi hành án dân sự

- Xã hội hóa THADS góp phần hỗ trợ Tòa án, cơ quan THADS và cơ quan nhà nước khác nâng cao hiệu quả công việc.

- Xã hội hóa THADS góp phần nâng cao vị thế, vai trò của các cơ quan tư pháp, góp phần thúc đẩy và bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của tố tụng tư pháp.

- Xã hội hóa THADS góp phần bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, góp phần ổn định các quan hệ xã hội.

- Xã hội hóa THADS sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các tổ chức tư nhân với nhà nước, tạo cơ hội cho người dân sử dụng và lựa chọn những dịch vụ tốt nhất.

- Xã hội hóa THADS tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức tham gia tích cực vào hoạt động thi hành án, phát huy khả năng cũng như năng lực tiềm tàng trong xã hội, khơi dậy tính sáng tạo và chủ động tích cực của người dân.

Hiện nay, qua 06 năm thí điểm và tổ chức thực hiện mô hình xã hội hóa THADS thông qua chế định Thừa phát lại đã đạt được một số kết quả nhất định, qua đó khẳng định chủ trương của Đảng trong việc xã hội hóa hoạt động của các cơ quan Nhà nước là đúng đắn. Bên cạnh đó, vẫn còn điểm hạn chế là chúng ta chưa xây dựng được Luật về xã hội hóa, chưa có nền tảng lý luận vững chắc cho việc triển khai xã hội hóa trên thực tế. Chính vì vậy, qua bài viết này, tác giả muốn đưa ra một số điểm gợi mở cho các công trình nghiên cứu sau này.

ThS. Nguyễn Thị Tuyền

Đại học Tây Nguyên

Tài liệu tham khảo:

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương (khóa VIII), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 41.

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 250.

[3]. Từ điển xã hội học do Nguyễn Khắc Viện (chủ biên), Nxb Thế giới, Hà Nội, 1994.

[4]. Trần Thị Quang Hồng (2000), “Xã hội hóa các hoạt động bổ trợ tư pháp”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Hà Nội, tr. 4.

[5]. Trần Thị Trang (2012), Hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa đối với các hoạt động y tế ở nước ta hiện nay, Luận văn Thạc sĩ luật học, Hà Nội, tr. 14.

[6]. Lê Minh Tâm, Thử bàn mấy vấn đề lý luận về thi hành án, Tạp chí Luật học, số 2/2001, tr. 22.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: