Thứ hai 19/01/2026 19:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề về xã hội hóa thi hành án dân sự

Vấn đề xã hội hóa được Đảng ta đề cập lần đầu tiên tại Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VIII. Nghị quyết Hội nghị chủ trương: “Thí điểm việc xã hội hóa một số lĩnh vực dịch vụ, y tế, giáo dục, khoa học và hoạt động văn hóa, thể thao… trước hết là ở các thành phố, các khu công nghiệp...”[1].

Qua các Đại hội IX, X, XI, chủ trương ấy vẫn được Đảng khẳng định. Văn kiện Đại hội XI nhấn mạnh: “Đẩy mạnh xã hội hóa các loại dịch vụ công phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”[2]. Chủ trương xã hội hóa của Đảng với loại dịch vụ công, gắn với cải cách nền hành chính nhà nước, cải cách tư pháp.


Xã hội hóa thi hành án dân sự (THADS) cũng là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình cải cách tư pháp, huy động sự tham gia của cộng đồng xã hội vào công tác THADS, chia sẻ, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc tổ chức thi hành án. Tuy nhiên, việc xã hội hóa trong lĩnh vực THADS vẫn còn là vấn đề tương đối mới mẻ, về mặt lý luận, hầu như các nhà nghiên cứu chỉ tập trung phân tích, mổ xẻ mô hình Thừa phát lại (một nội dung của xã hội hóa THADS) chứ hầu như không nghiên cứu sâu về lý luận xã hội hóa THADS. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ đưa ra một vài vấn đề lý luận cơ bản về xã hội hóa và xã hội hóa THADS.

1. Xã hội hóa và xã hội hóa thi hành án dân sự

1.1. Xã hội hóa

- Xét dưới góc độ xã hội học: Xã hội hóa là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội (tập thể), trong đó cá nhân học hỏi và thực hành những tri thức, những kỹ năng và những phương thức cần thiết để hội nhập với xã hội[3]. Ở góc độ quản lý nhà nước, xã hội hóa lại được nhìn nhận gắn với việc xác định vai trò của Nhà nước trong mỗi chế độ xã hội và cách thức Nhà nước thực hiện vai trò đó[4]. Bên cạnh đó, một số người cho rằng, xã hội hóa là quá trình chuyển giao để khu vực ngoài nhà nước thực hiện những công việc trước đây do Nhà nước làm hoặc quan niệm rằng đúng ra Nhà nước phải làm hoặc chỉ là biện pháp huy động nguồn lực tài chính của khu vực ngoài nhà nước. Theo đó, xã hội hóa là sự chuyển giao đơn thuần về chủ thể thực hiện hoặc chỉ là một biện pháp huy động tài chính ngoài ngân sách để tăng cường đầu tư cho một số lĩnh vực cụ thể. Người ta dẫn chứng việc thực hiện chủ trương đó như là “khuyến khích thành lập bệnh viện tư, cơ sở giáo dục tư, tổ chức nghiên cứu khoa học tư”[5].

Như vậy, xã hội hóa là việc huy động, tạo điều kiện và tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của nhân dân, của toàn xã hội cùng với Nhà nước chia sẻ trách nhiệm, đầu tư, phát triển các hoạt động trong một số lĩnh vực cụ thể; là quá trình chuyển giao cho các cá nhân, tổ chức tư nhân (khu vực ngoài nhà nước) “gánh đỡ” các công việc trước đây do Nhà nước làm.

1.2. Xã hội hóa thi hành án dân sự

Với quan điểm cho rằng thi hành án là một thủ tục hành chính - tư pháp[6], trong đó xét xử là khâu trọng yếu của hoạt động tư pháp. Mặc dù vậy, nếu phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà không được thi hành, thì hiệu lực của nó chỉ thể hiện trên giấy mà thôi. Chính vì lẽ đó, thi hành án là vấn đề gắn liền với công tác xét xử, hoạt động xét xử sẽ không có ý nghĩa, nếu công tác thi hành án không được chú trọng.

THADS là việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự đã được ghi nhận trong bản án, quyết định; là hoạt động bảo vệ tư quyền, do vậy, về nguyên tắc có thể thực hiện xã hội hóa hoạt động này hay nói cách khác, cần huy động nguồn lực, nêu cao trách nhiệm của người dân cũng như có thể chuyển giao cho cá nhân, tổ chức phi nhà nước thực hiện toàn bộ hay một phần hoạt động THADS. Xã hội hóa THADS là làm cho việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án trở thành công việc chung của xã hội. Nếu THADS được hiểu theo nghĩa rộng là sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ của các bên theo phán quyết của Tòa án, thì xã hội hóa THADS là việc vận động, tổ chức và nâng cao trách nhiệm của các bên có quyền, nghĩa vụ, của cộng đồng và của toàn xã hội trong việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án.

Như vậy, xã hội hóa THADS là việc chuyển giao cho các cá nhân, tổ chức thi hành án tư nhân thực hiện các công việc về THADS nhằm thi hành kịp thời, đúng đắn các bản án, quyết định dân sự của Tòa án theo quy định của pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, lợi ích của Nhà nước và của toàn xã hội.

2. Một số đặc điểm của xã hội hóa thi hành án dân sự

Một là, có sự tham gia của tổ chức, cá nhân vào việc tổ chức thi hành án dân sự

Sự tham gia của các tổ chức, cá nhân vào việc tổ chức thi hành án ngoài việc bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án, người phải thi hành án mà còn giúp cho công lý được thực thi, giúp bảo đảm nền pháp chế xã hội chủ nghĩa. Là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, việc tổ chức THADS bao gồm nhiều hoạt động của nhiều chủ thể khác nhau, nên đòi hỏi sự huy động lực lượng không chỉ của các cơ quan hành chính nhà nước mà cả các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp, sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động này là sự phối hợp giữa quyền hành pháp, tư pháp... thông qua hoạt động THADS, những phán quyết của Tòa án nhân danh Nhà nước, thể hiện ý chí của Nhà nước được trở thành hiện thực, công lý được thực hiện. Quá trình giải quyết một vụ án chỉ kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án được thi hành kịp thời và đầy đủ. Nếu công tác THADS không được quan tâm và không có hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực, tác động đến toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực nhà nước bị xem thường, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm.

Hai là, tổ chức, cá nhân được chủ động thực hiện các công việc về thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật

Theo đó, các tổ chức, cá nhân thi hành án tư nhân khi được yêu cầu thi hành án, có quyền tổ chức, thực hiện công việc thi hành án trong phạm vi quyền hạn của mình, đồng thời có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan phối hợp theo quy định của pháp luật. Người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền lựa chọn tổ chức thi hành án cho mình: Cá nhân, tổ chức thi hành án tư nhân (Thừa phát lại) hoặc cơ quan THADS.

Ba là, xã hội hóa thi hành án dân sự phải gắn liền với trách nhiệm quản lý của Nhà nước

Nhà nước tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, phát huy vai trò của các đoàn thể, tổ chức quần chúng trong việc giám sát hoạt động của các tổ chức thi hành án tư nhân. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, quản lý thông qua các quy định của pháp luật và kiểm tra thực hiện. Đó là Nhà nước không can thiệp sâu vào các hoạt động THADS mà chỉ kiểm soát các hoạt động này thông qua các công cụ chính sách, pháp luật có tính chất định hướng, đồng thời, đề cao chế độ trách nhiệm của những cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động THADS.

Bốn là, xã hội hóa thi hành án dân sự phải bảo đảm sự công bằng trong tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ giữa mọi công dân

Một trong những chủ trương của việc xã hội hóa là có thể thu hút tối đa mọi nguồn lực của xã hội. Vì vậy, mọi cá nhân, tổ chức khi hội tụ đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật đều có quyền tham gia cung cấp dịch vụ; tương tự, người dân khi có nhu cầu sử dụng dịch vụ đều có quyền yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ một cách bình đẳng như nhau. Tuy nhiên, cũng lưu ý ở đây là công bằng chứ không phải là cào bằng: Những người thụ hưởng cũng có thể bị hạn chế nhu cầu với một hoặc một số dịch vụ nếu như yêu cầu đó ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, xã hội hoặc pháp luật không cho phép.



3. Nguyên tắc xã hội hóa thi hành án dân sự

Có thể thấy, xã hội hóa THADS là một vấn đề không còn mới đối với các nhà nghiên cứu, đã có một số công trình nghiên cứu về xã hội hóa THADS nhưng chỉ nghiên cứu về chủ trương, chính sách, mô hình xã hội hóa, từ đó đưa ra định hướng triển khai thực hiện, chứ hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về bản chất, đặc điểm cũng như nguyên tắc xã hội hóa.

Theo chúng tôi, xã hội hóa THADS cũng cần tuân thủ các nguyên tắc cần nhất định, đó là: (i) Xã hội hóa THADS phải bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án; (ii) Xã hội hóa THADS phải bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan THADS, chấp hành viên, Thừa phát lại; (iii) Xã hội hóa THADS phải bảo đảm đủ cơ sở pháp lý để các tổ chức tư nhân thực hiện hiệu quả việc THADS.

4. Ý nghĩa của xã hội hóa thi hành án dân sự

- Xã hội hóa THADS góp phần hỗ trợ Tòa án, cơ quan THADS và cơ quan nhà nước khác nâng cao hiệu quả công việc.

- Xã hội hóa THADS góp phần nâng cao vị thế, vai trò của các cơ quan tư pháp, góp phần thúc đẩy và bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của tố tụng tư pháp.

- Xã hội hóa THADS góp phần bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, góp phần ổn định các quan hệ xã hội.

- Xã hội hóa THADS sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các tổ chức tư nhân với nhà nước, tạo cơ hội cho người dân sử dụng và lựa chọn những dịch vụ tốt nhất.

- Xã hội hóa THADS tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức tham gia tích cực vào hoạt động thi hành án, phát huy khả năng cũng như năng lực tiềm tàng trong xã hội, khơi dậy tính sáng tạo và chủ động tích cực của người dân.

Hiện nay, qua 06 năm thí điểm và tổ chức thực hiện mô hình xã hội hóa THADS thông qua chế định Thừa phát lại đã đạt được một số kết quả nhất định, qua đó khẳng định chủ trương của Đảng trong việc xã hội hóa hoạt động của các cơ quan Nhà nước là đúng đắn. Bên cạnh đó, vẫn còn điểm hạn chế là chúng ta chưa xây dựng được Luật về xã hội hóa, chưa có nền tảng lý luận vững chắc cho việc triển khai xã hội hóa trên thực tế. Chính vì vậy, qua bài viết này, tác giả muốn đưa ra một số điểm gợi mở cho các công trình nghiên cứu sau này.

ThS. Nguyễn Thị Tuyền

Đại học Tây Nguyên

Tài liệu tham khảo:

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương (khóa VIII), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 41.

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 250.

[3]. Từ điển xã hội học do Nguyễn Khắc Viện (chủ biên), Nxb Thế giới, Hà Nội, 1994.

[4]. Trần Thị Quang Hồng (2000), “Xã hội hóa các hoạt động bổ trợ tư pháp”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Hà Nội, tr. 4.

[5]. Trần Thị Trang (2012), Hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa đối với các hoạt động y tế ở nước ta hiện nay, Luận văn Thạc sĩ luật học, Hà Nội, tr. 14.

[6]. Lê Minh Tâm, Thử bàn mấy vấn đề lý luận về thi hành án, Tạp chí Luật học, số 2/2001, tr. 22.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: