Thứ ba 13/01/2026 14:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc liên quan đến nhập khẩu hàng hóa trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng

Tháng 12/2015, Báo Hải quan và các báo điện tử khác đưa thông tin vụ việc Công ty TNHH MTV Nông cụ kim khí Anh Quốc, tại Cần Thơ đã bị lực lượng công an quận Ninh Kiều kiểm tra và tạm giữ trên 2.000 cây “nông cụ” có nguồn gốc nhập khẩu từ Thái Lan có hình dạng như mã tấu.

Theo đó, số hàng này được nhập khẩu qua cảng Cát Lái từ ngày 11/8/2015. Theo khai báo hải quan thì hoá hoá nhập khẩu là 2.000 chiếc dao dùng trong lâm nghiệp, tổng giá trị trên 8.000 USD. Tờ khai được hệ thống phân luồng Vàng - Kiểm tra hồ sơ.

Theo thông tin từ Báo Công an nhân dân[1] thì ngày 4/12/2015, đại tá Đinh Mạnh Toàn - Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát Kinh tế (C46) ký văn bản trả lời Công văn số 440/CAQ-QLHC ngày 01/12/2015 của Công an quận Ninh Kiều (Tp. Cần Thơ) trong công tác quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Theo nội dung văn bản trả lời, thì dù khai là nông cụ nhưng những nông cụ có hình dạng như mã tấu với cán gỗ, lưỡi bằng kim loại sắc, nếu được bán ra thị trường thì rất khó lường hết những nguy hiểm. Theo đó, cơ quan công an xác định số nông cụ trên là vũ khí thô sơ được quy định tại khoản 4 Điều 3 Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

Thực tế hiện nay, Việt Nam nhập khẩu nhiều các loại dụng cụ có đầu nhọn, sắc bằng chất liệu thép tốt làm dụng cụ gia dụng gia đình hoặc sử dụng trong các lĩnh vực lao động sản xuất khác nhau. Ngay trong việc sản xuất các dụng cụ làm vườn, đi rừng ở Việt Nam cũng có rất nhiều các dung cụ như rìu, dao cắt cỏ, câu liêm, dao, kéo… có hình dạng và tính năng tương tự như vũ khí thô sơ. Do đó, việc xác định mặt hàng đó có phải là vũ khí thô sơ hay không, có thuộc danh mục cấm nhập khẩu hay không, là vấn đề còn gây nhiều khó khăn, vướng mắc. Việc giải quyết vấn đề này trước hết từ khâu chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật đang điều chỉnh, tránh để đối tượng lợi dụng nhập khẩu các mặt hàng có khả năng làm vũ khí, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, đảm bảo cho cán bộ hải quan thực hiện đúng các quy định pháp luật.

Việc xác định một mặt hàng là hàng hoá thông thường hay vũ khí, vũ khí thô sơ hay không, phải căn cứ vào Pháp lệnh quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013). Theo quy định tại khoản 1, Điều 3 Pháp lệnh quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013) thì “Vũ khí gồm vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và các loại vũ khí khác có tính năng tương tự”. Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Pháp lệnh quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011(được sửa đổi, bổ sung năm 2013) thì vũ khí thô sơ “gồm các loại dao găm, kiếm, giáo, mác, lưỡi lê, đao, mã tấu, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ”. Như vậy, Pháp lệnh quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013) đã giải thích một số thuật ngữ về vũ khí, vũ khí thô sơ. Tuy nhiên, đối với vũ khí thô sơ thì pháp lệnh giải thích dưới dạng liệt kê một số loại vũ khí thô sơ và hiện nay cũng chưa có các giải thích hướng dẫn cụ thể thế nào là đao, thế nào là mã tấu và cũng không quy định đối với loại có tính năng, tác dụng tương tự … Vậy đối với mặt hàng có “tính năng và hình dáng tương tự” như các loại trên có phải là vũ khí thô sơ hay không? Khoản 1, Điều 3 Pháp lệnh này khi quy định chung về vũ khí lại quy định “các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự”. Như vậy, có thể hiểu rằng những loại khác khi xác định được tính năng, tác dụng tương tự thì được coi là vũ khí, vũ khí thô sơ. Mặt khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghi định số 25/2012/NĐ-CP ngày 5/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ giải thích: Vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh là loại vũ khí khi sử dụng có khả năng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ đối với con người, thiệt hại về tài sản, ảnh hưởng đến môi trường tương tự như vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 3 Pháp lệnh”. Việc giải thích như vậy dẫn đến trên thực tế có rất nhiều hàng hoá có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí, vũ khí thô sơ: Các mặt hàng dùng trong nông nghiệp, lâm nghiệp (dao đi rừng, liềm, kéo…), dùng trong nhà bếp (dao, kéo…), dùng cho du lịch (dao, đinh…). Những loại vật dụng này đều có khả năng gây hại đến tính mạng, sức khoẻ của con người. Do đó, việc xác định theo nội hàm tính năng, tác dụng tương tự là rất rộng. Điều này dẫn đến một thực tế khi các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu mặt hàng có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí thì cơ quan, cán bộ hải quan phải làm như thế nào để vừa đảm bảo không gây cản trở cho doanh nghiệp, vừa thực hiện đúng quy định pháp luật.

Căn cứ mục II, Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 187/2013/NĐ-CP ngày 20 /11/ 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài quy định danh mục hàng hoá cấm nhập khẩu trong đó quy định vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ (trừ vật liệu nổ công nghiệp), trang thiết bị kỹ thuật quân sự thuộc danh mục này. Chính phủ giao Bộ Quốc phòng công bố danh mục cụ thể và ghi mã số HS đúng trong biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Qua rà soát các văn bản pháp luật được công bố trên trang công báo của Chính phủ và các cổng thông tin điện tử về cơ sở dữ liệu pháp luật, chúng tôi chưa tìm thấy văn bản hướng dẫn cụ thể của Bộ Quốc phòng công cố danh mục cụ thể về các loại vũ khí cấm nhập khẩu.

Căn cứ Phụ lục I quy định danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư 103/2015/TT-BTC ngày 01/7/2015 của Bộ Tài chính trong đó tại Chương 93 quy định một số mặt hàng liên quan đến lĩnh vực an ninh, quốc phòng cụ thể:

Nhóm hàng hàng 9307 gồm: “Kiếm, đoản kiếm, lưỡi lê, giáo và các loại vũ khí tương tự và bộ phận của chúng, kể cả vỏ và bao cho chúng”. Tuy nhiên, tại Phụ lục II, Ban hành kèm theo Thông tư số 04/2014/TT-BCT ngày 27/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Công Thương khi ban hành danh mục hàng hoá có ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng quy định đối với chương 93, nhóm 9304 gồm: Vũ khí khác (súng và súng lục sử dụng lò xo, hơi hoặc khí ga, dùi cui và loại trừ nhóm hàng 9307). Ngoài ra, tại Chương 82, quy định nhóm hàng 8201: “Dụng cụ cầm tay gồm mai, xẻng, cuốc chim, cuốc, dụng cụ xới và làm tơi đất, chĩa và cào; rìu, câu liêm và các dụng cụ tương tự dùng để cắt chặt; kéo tỉa cây các loại; hái, liềm, dao cắt cỏ, kéo tỉa xén hàng rào, cái nêm gỗ và các dụng cụ khác dùng trong nông nghiệp, làm vườn hoặc trong lâm nghiệp”.

Nếu dựa trên các quy định trên thì khi mặt hàng không phải là dao găm, kiếm, giáo, mác, lưỡi lê, đao, mã tấu, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ và khai theo các mã HS theo danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu tại Thông tư 103/2015/TT-BTC ngày 1/7/2015 thì mặt hàng đó được nhập khẩu bình thường. Tuy nhiên, nếu xác định mặt hàng có tính năng, tác dụng tương tự” thì mặt hàng đó lại được xác định là vũ khí. Chúng tôi cho rằng, việc quy định nội hàm theo pháp lệnh đối với các hàng hoá có tính năng, tác dụng tương tự sẽ dẫn đến nhiều hàng hoá trước đây chúng ta vẫn xác định là hàng hoá thông thường thì nay có thể được xác định là vũ khí. Việc xác định mặt hàng đó có phải là vũ khí hay không, có ý nghĩa quan trọng để xác định đó là hàng hoá thông thường hay thuộc danh mục nhập khẩu có giấy phép, cấm nhập khẩu. Trường hợp xác địnhh hàng hoá đó là vũ khí thô sơ thì phải làm các thủ tục nhập khẩu theo các quy định của Pháp lệnh quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013) và các văn bản hướng dẫn trong đó có việc xin giấy phép mua vũ khí của Bộ Công an (trừ lực lượng quân đội, dân quân tự vệ)[2]. Như vậy, cách xác định như pháp lệnh là chưa phù hợp bởi đối với các loại khác có phải là vũ khí thô sơ hay không bên cạnh dựa vào tiêu chí đó là tính năng, tác dụng tương tự còn phải căn cứ vào mục đích sử dụng của chúng.

Hiện nay, Bộ Công an đang tiến hành xây dựng Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Theo đó, tại khoản 1 Điều 3 Dự thảo Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ: “Vũ khí là phương tiện biểu hiện ở các dạng khác nhau, được chế tạo có khả năng sát thương, gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe đối với con người, phá hủy kết cấu vật chất. Vũ khí gồm: Vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự và khoản 4 Điều 3 Dự thảo Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ “Vũ khí thô sơ là vũ khí có cấu tạo, nguyên lý hoạt động đơn giản gồm: Các loại dao găm, kiếm, giáo, mác, thương, lưỡi lê, đao, mã tấu, côn, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ, phi tiêu”.

Như vậy, Luật Quản lý,sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ bước đầu nêu được khái niệm của vũ khí thô sơ, nhưng vẫn xác định theo hướng mở đó là dựa trên cấu tạo, nguyên lý, tính năng và tác dụng tương tự. Theo quan điểm của tác giả, trong điều kiện hiện nay đối với các mặt hàng liên quan trực tiếp đến các loại vũ khí thì việc xác định hàng hoá đó có phải là vũ khí, vũ khí thô sơ hay không phải dựa trên cơ sở kết luận giám định của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an. Kết luận của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an là kết luận cuối cùng để xác định “loại khác đó” có phải là vũ khí hay không. Do đó, trong điều kiện hiện nay khi chưa có các giải thích, hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, đối với cán bộ hải quan khi thực hiện các thủ tục nhập khẩu đối với một số mặt hàng có liên quan đến vấn đề này cần chú ý một số nội dung sau:

Thứ nhất, tìm hiểu các thông tin về ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp nhập khẩu đối với mặt hàng đang nhập khẩu.

Thứ hai, đối với các tờ khai chỉ kiểm tra hồ sơ cần chú ý đến các thông tin liên quan đến hàng hoá về tính năng, tác dụng của hàng hoá trong catalogue, hướng dẫn của hàng hoá. Trường hợp kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hoá phát hiện hàng hoá có tính năng, tác dụng như vũ khí cần báo cáo cấp trên xin ý kiến về phối hợp với cơ quan chức năng (công an, quân đội) để trưng cầu giám định đối với hàng hoá đó.

Thứ ba, áp dụng việc kiểm tra sau thông quan đối với doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá, xem xét việc phân phối hàng hoá để xem xét mục đích sử dụng của hàng hoá để có phương án xử lý, phòng ngừa.

Tuy nhiên, để vừa đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp vừa đáp ứng được yêu cầu về quản lý đảm bảo an toàn, trật tự xã hội thì Bộ Quốc Phòng và Bộ Công an cần có hướng dẫn, chú giải cụ thể về danh mục các loại vũ khí, vũ khí thô sơ trong danh mục hàng hoá cấm nhập khẩu theo sự phân công của Chính phủ. Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn về hình ảnh, tính năng, tác dụng của các loại vũ khí, vũ khí thô sơ để cơ quan hải quan căn cứ phân loại hàng hoá.

ThS. Phạm Văn Bằng - ThS. Nguyễn Ngọc Linh

Cục Điều tra chống buôn lậu


[1] http://cand.com.vn/ANTT/2-000-nong-cu-duoc-xac-dinh-la-vu-khi-tho-so-375190/

[2] Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 16 Nghi định số 25/2012/NĐ-CP ngày 5/4/2012 của Chính phủ hướng dẫn pháp lệnh quản lý vật liệu nổ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: