Thứ ba 26/05/2026 18:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc liên quan đến nhập khẩu hàng hóa trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng

Tháng 12/2015, Báo Hải quan và các báo điện tử khác đưa thông tin vụ việc Công ty TNHH MTV Nông cụ kim khí Anh Quốc, tại Cần Thơ đã bị lực lượng công an quận Ninh Kiều kiểm tra và tạm giữ trên 2.000 cây “nông cụ” có nguồn gốc nhập khẩu từ Thái Lan có hình dạng như mã tấu.

Theo đó, số hàng này được nhập khẩu qua cảng Cát Lái từ ngày 11/8/2015. Theo khai báo hải quan thì hoá hoá nhập khẩu là 2.000 chiếc dao dùng trong lâm nghiệp, tổng giá trị trên 8.000 USD. Tờ khai được hệ thống phân luồng Vàng - Kiểm tra hồ sơ.

Theo thông tin từ Báo Công an nhân dân[1] thì ngày 4/12/2015, đại tá Đinh Mạnh Toàn - Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát Kinh tế (C46) ký văn bản trả lời Công văn số 440/CAQ-QLHC ngày 01/12/2015 của Công an quận Ninh Kiều (Tp. Cần Thơ) trong công tác quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Theo nội dung văn bản trả lời, thì dù khai là nông cụ nhưng những nông cụ có hình dạng như mã tấu với cán gỗ, lưỡi bằng kim loại sắc, nếu được bán ra thị trường thì rất khó lường hết những nguy hiểm. Theo đó, cơ quan công an xác định số nông cụ trên là vũ khí thô sơ được quy định tại khoản 4 Điều 3 Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

Thực tế hiện nay, Việt Nam nhập khẩu nhiều các loại dụng cụ có đầu nhọn, sắc bằng chất liệu thép tốt làm dụng cụ gia dụng gia đình hoặc sử dụng trong các lĩnh vực lao động sản xuất khác nhau. Ngay trong việc sản xuất các dụng cụ làm vườn, đi rừng ở Việt Nam cũng có rất nhiều các dung cụ như rìu, dao cắt cỏ, câu liêm, dao, kéo… có hình dạng và tính năng tương tự như vũ khí thô sơ. Do đó, việc xác định mặt hàng đó có phải là vũ khí thô sơ hay không, có thuộc danh mục cấm nhập khẩu hay không, là vấn đề còn gây nhiều khó khăn, vướng mắc. Việc giải quyết vấn đề này trước hết từ khâu chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật đang điều chỉnh, tránh để đối tượng lợi dụng nhập khẩu các mặt hàng có khả năng làm vũ khí, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, đảm bảo cho cán bộ hải quan thực hiện đúng các quy định pháp luật.

Việc xác định một mặt hàng là hàng hoá thông thường hay vũ khí, vũ khí thô sơ hay không, phải căn cứ vào Pháp lệnh quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013). Theo quy định tại khoản 1, Điều 3 Pháp lệnh quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013) thì “Vũ khí gồm vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và các loại vũ khí khác có tính năng tương tự”. Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Pháp lệnh quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011(được sửa đổi, bổ sung năm 2013) thì vũ khí thô sơ “gồm các loại dao găm, kiếm, giáo, mác, lưỡi lê, đao, mã tấu, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ”. Như vậy, Pháp lệnh quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013) đã giải thích một số thuật ngữ về vũ khí, vũ khí thô sơ. Tuy nhiên, đối với vũ khí thô sơ thì pháp lệnh giải thích dưới dạng liệt kê một số loại vũ khí thô sơ và hiện nay cũng chưa có các giải thích hướng dẫn cụ thể thế nào là đao, thế nào là mã tấu và cũng không quy định đối với loại có tính năng, tác dụng tương tự … Vậy đối với mặt hàng có “tính năng và hình dáng tương tự” như các loại trên có phải là vũ khí thô sơ hay không? Khoản 1, Điều 3 Pháp lệnh này khi quy định chung về vũ khí lại quy định “các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự”. Như vậy, có thể hiểu rằng những loại khác khi xác định được tính năng, tác dụng tương tự thì được coi là vũ khí, vũ khí thô sơ. Mặt khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghi định số 25/2012/NĐ-CP ngày 5/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ giải thích: Vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh là loại vũ khí khi sử dụng có khả năng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ đối với con người, thiệt hại về tài sản, ảnh hưởng đến môi trường tương tự như vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 3 Pháp lệnh”. Việc giải thích như vậy dẫn đến trên thực tế có rất nhiều hàng hoá có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí, vũ khí thô sơ: Các mặt hàng dùng trong nông nghiệp, lâm nghiệp (dao đi rừng, liềm, kéo…), dùng trong nhà bếp (dao, kéo…), dùng cho du lịch (dao, đinh…). Những loại vật dụng này đều có khả năng gây hại đến tính mạng, sức khoẻ của con người. Do đó, việc xác định theo nội hàm tính năng, tác dụng tương tự là rất rộng. Điều này dẫn đến một thực tế khi các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu mặt hàng có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí thì cơ quan, cán bộ hải quan phải làm như thế nào để vừa đảm bảo không gây cản trở cho doanh nghiệp, vừa thực hiện đúng quy định pháp luật.

Căn cứ mục II, Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 187/2013/NĐ-CP ngày 20 /11/ 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài quy định danh mục hàng hoá cấm nhập khẩu trong đó quy định vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ (trừ vật liệu nổ công nghiệp), trang thiết bị kỹ thuật quân sự thuộc danh mục này. Chính phủ giao Bộ Quốc phòng công bố danh mục cụ thể và ghi mã số HS đúng trong biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Qua rà soát các văn bản pháp luật được công bố trên trang công báo của Chính phủ và các cổng thông tin điện tử về cơ sở dữ liệu pháp luật, chúng tôi chưa tìm thấy văn bản hướng dẫn cụ thể của Bộ Quốc phòng công cố danh mục cụ thể về các loại vũ khí cấm nhập khẩu.

Căn cứ Phụ lục I quy định danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư 103/2015/TT-BTC ngày 01/7/2015 của Bộ Tài chính trong đó tại Chương 93 quy định một số mặt hàng liên quan đến lĩnh vực an ninh, quốc phòng cụ thể:

Nhóm hàng hàng 9307 gồm: “Kiếm, đoản kiếm, lưỡi lê, giáo và các loại vũ khí tương tự và bộ phận của chúng, kể cả vỏ và bao cho chúng”. Tuy nhiên, tại Phụ lục II, Ban hành kèm theo Thông tư số 04/2014/TT-BCT ngày 27/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Công Thương khi ban hành danh mục hàng hoá có ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng quy định đối với chương 93, nhóm 9304 gồm: Vũ khí khác (súng và súng lục sử dụng lò xo, hơi hoặc khí ga, dùi cui và loại trừ nhóm hàng 9307). Ngoài ra, tại Chương 82, quy định nhóm hàng 8201: “Dụng cụ cầm tay gồm mai, xẻng, cuốc chim, cuốc, dụng cụ xới và làm tơi đất, chĩa và cào; rìu, câu liêm và các dụng cụ tương tự dùng để cắt chặt; kéo tỉa cây các loại; hái, liềm, dao cắt cỏ, kéo tỉa xén hàng rào, cái nêm gỗ và các dụng cụ khác dùng trong nông nghiệp, làm vườn hoặc trong lâm nghiệp”.

Nếu dựa trên các quy định trên thì khi mặt hàng không phải là dao găm, kiếm, giáo, mác, lưỡi lê, đao, mã tấu, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ và khai theo các mã HS theo danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu tại Thông tư 103/2015/TT-BTC ngày 1/7/2015 thì mặt hàng đó được nhập khẩu bình thường. Tuy nhiên, nếu xác định mặt hàng có tính năng, tác dụng tương tự” thì mặt hàng đó lại được xác định là vũ khí. Chúng tôi cho rằng, việc quy định nội hàm theo pháp lệnh đối với các hàng hoá có tính năng, tác dụng tương tự sẽ dẫn đến nhiều hàng hoá trước đây chúng ta vẫn xác định là hàng hoá thông thường thì nay có thể được xác định là vũ khí. Việc xác định mặt hàng đó có phải là vũ khí hay không, có ý nghĩa quan trọng để xác định đó là hàng hoá thông thường hay thuộc danh mục nhập khẩu có giấy phép, cấm nhập khẩu. Trường hợp xác địnhh hàng hoá đó là vũ khí thô sơ thì phải làm các thủ tục nhập khẩu theo các quy định của Pháp lệnh quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013) và các văn bản hướng dẫn trong đó có việc xin giấy phép mua vũ khí của Bộ Công an (trừ lực lượng quân đội, dân quân tự vệ)[2]. Như vậy, cách xác định như pháp lệnh là chưa phù hợp bởi đối với các loại khác có phải là vũ khí thô sơ hay không bên cạnh dựa vào tiêu chí đó là tính năng, tác dụng tương tự còn phải căn cứ vào mục đích sử dụng của chúng.

Hiện nay, Bộ Công an đang tiến hành xây dựng Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Theo đó, tại khoản 1 Điều 3 Dự thảo Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ: “Vũ khí là phương tiện biểu hiện ở các dạng khác nhau, được chế tạo có khả năng sát thương, gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe đối với con người, phá hủy kết cấu vật chất. Vũ khí gồm: Vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự và khoản 4 Điều 3 Dự thảo Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ “Vũ khí thô sơ là vũ khí có cấu tạo, nguyên lý hoạt động đơn giản gồm: Các loại dao găm, kiếm, giáo, mác, thương, lưỡi lê, đao, mã tấu, côn, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ, phi tiêu”.

Như vậy, Luật Quản lý,sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ bước đầu nêu được khái niệm của vũ khí thô sơ, nhưng vẫn xác định theo hướng mở đó là dựa trên cấu tạo, nguyên lý, tính năng và tác dụng tương tự. Theo quan điểm của tác giả, trong điều kiện hiện nay đối với các mặt hàng liên quan trực tiếp đến các loại vũ khí thì việc xác định hàng hoá đó có phải là vũ khí, vũ khí thô sơ hay không phải dựa trên cơ sở kết luận giám định của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an. Kết luận của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an là kết luận cuối cùng để xác định “loại khác đó” có phải là vũ khí hay không. Do đó, trong điều kiện hiện nay khi chưa có các giải thích, hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, đối với cán bộ hải quan khi thực hiện các thủ tục nhập khẩu đối với một số mặt hàng có liên quan đến vấn đề này cần chú ý một số nội dung sau:

Thứ nhất, tìm hiểu các thông tin về ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp nhập khẩu đối với mặt hàng đang nhập khẩu.

Thứ hai, đối với các tờ khai chỉ kiểm tra hồ sơ cần chú ý đến các thông tin liên quan đến hàng hoá về tính năng, tác dụng của hàng hoá trong catalogue, hướng dẫn của hàng hoá. Trường hợp kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hoá phát hiện hàng hoá có tính năng, tác dụng như vũ khí cần báo cáo cấp trên xin ý kiến về phối hợp với cơ quan chức năng (công an, quân đội) để trưng cầu giám định đối với hàng hoá đó.

Thứ ba, áp dụng việc kiểm tra sau thông quan đối với doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá, xem xét việc phân phối hàng hoá để xem xét mục đích sử dụng của hàng hoá để có phương án xử lý, phòng ngừa.

Tuy nhiên, để vừa đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp vừa đáp ứng được yêu cầu về quản lý đảm bảo an toàn, trật tự xã hội thì Bộ Quốc Phòng và Bộ Công an cần có hướng dẫn, chú giải cụ thể về danh mục các loại vũ khí, vũ khí thô sơ trong danh mục hàng hoá cấm nhập khẩu theo sự phân công của Chính phủ. Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn về hình ảnh, tính năng, tác dụng của các loại vũ khí, vũ khí thô sơ để cơ quan hải quan căn cứ phân loại hàng hoá.

ThS. Phạm Văn Bằng - ThS. Nguyễn Ngọc Linh

Cục Điều tra chống buôn lậu


[1] http://cand.com.vn/ANTT/2-000-nong-cu-duoc-xac-dinh-la-vu-khi-tho-so-375190/

[2] Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 16 Nghi định số 25/2012/NĐ-CP ngày 5/4/2012 của Chính phủ hướng dẫn pháp lệnh quản lý vật liệu nổ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: