Thứ sáu 23/10/2026 15:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc liên quan đến nhập khẩu hàng hóa trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng

Tháng 12/2015, Báo Hải quan và các báo điện tử khác đưa thông tin vụ việc Công ty TNHH MTV Nông cụ kim khí Anh Quốc, tại Cần Thơ đã bị lực lượng công an quận Ninh Kiều kiểm tra và tạm giữ trên 2.000 cây “nông cụ” có nguồn gốc nhập khẩu từ Thái Lan có hình dạng như mã tấu.

Theo đó, số hàng này được nhập khẩu qua cảng Cát Lái từ ngày 11/8/2015. Theo khai báo hải quan thì hoá hoá nhập khẩu là 2.000 chiếc dao dùng trong lâm nghiệp, tổng giá trị trên 8.000 USD. Tờ khai được hệ thống phân luồng Vàng - Kiểm tra hồ sơ.

Theo thông tin từ Báo Công an nhân dân[1] thì ngày 4/12/2015, đại tá Đinh Mạnh Toàn - Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát Kinh tế (C46) ký văn bản trả lời Công văn số 440/CAQ-QLHC ngày 01/12/2015 của Công an quận Ninh Kiều (Tp. Cần Thơ) trong công tác quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Theo nội dung văn bản trả lời, thì dù khai là nông cụ nhưng những nông cụ có hình dạng như mã tấu với cán gỗ, lưỡi bằng kim loại sắc, nếu được bán ra thị trường thì rất khó lường hết những nguy hiểm. Theo đó, cơ quan công an xác định số nông cụ trên là vũ khí thô sơ được quy định tại khoản 4 Điều 3 Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

Thực tế hiện nay, Việt Nam nhập khẩu nhiều các loại dụng cụ có đầu nhọn, sắc bằng chất liệu thép tốt làm dụng cụ gia dụng gia đình hoặc sử dụng trong các lĩnh vực lao động sản xuất khác nhau. Ngay trong việc sản xuất các dụng cụ làm vườn, đi rừng ở Việt Nam cũng có rất nhiều các dung cụ như rìu, dao cắt cỏ, câu liêm, dao, kéo… có hình dạng và tính năng tương tự như vũ khí thô sơ. Do đó, việc xác định mặt hàng đó có phải là vũ khí thô sơ hay không, có thuộc danh mục cấm nhập khẩu hay không, là vấn đề còn gây nhiều khó khăn, vướng mắc. Việc giải quyết vấn đề này trước hết từ khâu chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật đang điều chỉnh, tránh để đối tượng lợi dụng nhập khẩu các mặt hàng có khả năng làm vũ khí, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, đảm bảo cho cán bộ hải quan thực hiện đúng các quy định pháp luật.

Việc xác định một mặt hàng là hàng hoá thông thường hay vũ khí, vũ khí thô sơ hay không, phải căn cứ vào Pháp lệnh quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013). Theo quy định tại khoản 1, Điều 3 Pháp lệnh quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013) thì “Vũ khí gồm vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và các loại vũ khí khác có tính năng tương tự”. Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Pháp lệnh quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011(được sửa đổi, bổ sung năm 2013) thì vũ khí thô sơ “gồm các loại dao găm, kiếm, giáo, mác, lưỡi lê, đao, mã tấu, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ”. Như vậy, Pháp lệnh quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013) đã giải thích một số thuật ngữ về vũ khí, vũ khí thô sơ. Tuy nhiên, đối với vũ khí thô sơ thì pháp lệnh giải thích dưới dạng liệt kê một số loại vũ khí thô sơ và hiện nay cũng chưa có các giải thích hướng dẫn cụ thể thế nào là đao, thế nào là mã tấu và cũng không quy định đối với loại có tính năng, tác dụng tương tự … Vậy đối với mặt hàng có “tính năng và hình dáng tương tự” như các loại trên có phải là vũ khí thô sơ hay không? Khoản 1, Điều 3 Pháp lệnh này khi quy định chung về vũ khí lại quy định “các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự”. Như vậy, có thể hiểu rằng những loại khác khi xác định được tính năng, tác dụng tương tự thì được coi là vũ khí, vũ khí thô sơ. Mặt khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghi định số 25/2012/NĐ-CP ngày 5/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ giải thích: “Vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh là loại vũ khí khi sử dụng có khả năng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ đối với con người, thiệt hại về tài sản, ảnh hưởng đến môi trường tương tự như vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 3 Pháp lệnh”. Việc giải thích như vậy dẫn đến trên thực tế có rất nhiều hàng hoá có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí, vũ khí thô sơ: Các mặt hàng dùng trong nông nghiệp, lâm nghiệp (dao đi rừng, liềm, kéo…), dùng trong nhà bếp (dao, kéo…), dùng cho du lịch (dao, đinh…). Những loại vật dụng này đều có khả năng gây hại đến tính mạng, sức khoẻ của con người. Do đó, việc xác định theo nội hàm tính năng, tác dụng tương tự là rất rộng. Điều này dẫn đến một thực tế khi các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu mặt hàng có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí thì cơ quan, cán bộ hải quan phải làm như thế nào để vừa đảm bảo không gây cản trở cho doanh nghiệp, vừa thực hiện đúng quy định pháp luật.

Căn cứ mục II, Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 187/2013/NĐ-CP ngày 20 /11/ 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài quy định danh mục hàng hoá cấm nhập khẩu trong đó quy định vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ (trừ vật liệu nổ công nghiệp), trang thiết bị kỹ thuật quân sự thuộc danh mục này. Chính phủ giao Bộ Quốc phòng công bố danh mục cụ thể và ghi mã số HS đúng trong biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Qua rà soát các văn bản pháp luật được công bố trên trang công báo của Chính phủ và các cổng thông tin điện tử về cơ sở dữ liệu pháp luật, chúng tôi chưa tìm thấy văn bản hướng dẫn cụ thể của Bộ Quốc phòng công cố danh mục cụ thể về các loại vũ khí cấm nhập khẩu.

Căn cứ Phụ lục I quy định danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư 103/2015/TT-BTC ngày 01/7/2015 của Bộ Tài chính trong đó tại Chương 93 quy định một số mặt hàng liên quan đến lĩnh vực an ninh, quốc phòng cụ thể:

Nhóm hàng hàng 9307 gồm: “Kiếm, đoản kiếm, lưỡi lê, giáo và các loại vũ khí tương tự và bộ phận của chúng, kể cả vỏ và bao cho chúng”. Tuy nhiên, tại Phụ lục II, Ban hành kèm theo Thông tư số 04/2014/TT-BCT ngày 27/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Công Thương khi ban hành danh mục hàng hoá có ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng quy định đối với chương 93, nhóm 9304 gồm: Vũ khí khác (súng và súng lục sử dụng lò xo, hơi hoặc khí ga, dùi cui và loại trừ nhóm hàng 9307). Ngoài ra, tại Chương 82, quy định nhóm hàng 8201: “Dụng cụ cầm tay gồm mai, xẻng, cuốc chim, cuốc, dụng cụ xới và làm tơi đất, chĩa và cào; rìu, câu liêm và các dụng cụ tương tự dùng để cắt chặt; kéo tỉa cây các loại; hái, liềm, dao cắt cỏ, kéo tỉa xén hàng rào, cái nêm gỗ và các dụng cụ khác dùng trong nông nghiệp, làm vườn hoặc trong lâm nghiệp”.

Nếu dựa trên các quy định trên thì khi mặt hàng không phải là dao găm, kiếm, giáo, mác, lưỡi lê, đao, mã tấu, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ và khai theo các mã HS theo danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu tại Thông tư 103/2015/TT-BTC ngày 1/7/2015 thì mặt hàng đó được nhập khẩu bình thường. Tuy nhiên, nếu xác định mặt hàng có tính năng, tác dụng tương tự” thì mặt hàng đó lại được xác định là vũ khí. Chúng tôi cho rằng, việc quy định nội hàm theo pháp lệnh đối với các hàng hoá có tính năng, tác dụng tương tự sẽ dẫn đến nhiều hàng hoá trước đây chúng ta vẫn xác định là hàng hoá thông thường thì nay có thể được xác định là vũ khí. Việc xác định mặt hàng đó có phải là vũ khí hay không, có ý nghĩa quan trọng để xác định đó là hàng hoá thông thường hay thuộc danh mục nhập khẩu có giấy phép, cấm nhập khẩu. Trường hợp xác địnhh hàng hoá đó là vũ khí thô sơ thì phải làm các thủ tục nhập khẩu theo các quy định của Pháp lệnh quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013) và các văn bản hướng dẫn trong đó có việc xin giấy phép mua vũ khí của Bộ Công an (trừ lực lượng quân đội, dân quân tự vệ)[2]. Như vậy, cách xác định như pháp lệnh là chưa phù hợp bởi đối với các loại khác có phải là vũ khí thô sơ hay không bên cạnh dựa vào tiêu chí đó là tính năng, tác dụng tương tự còn phải căn cứ vào mục đích sử dụng của chúng.

Hiện nay, Bộ Công an đang tiến hành xây dựng Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Theo đó, tại khoản 1 Điều 3 Dự thảo Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ: “Vũ khí là phương tiện biểu hiện ở các dạng khác nhau, được chế tạo có khả năng sát thương, gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe đối với con người, phá hủy kết cấu vật chất. Vũ khí gồm: Vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự và khoản 4 Điều 3 Dự thảo Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ “Vũ khí thô sơ là vũ khí có cấu tạo, nguyên lý hoạt động đơn giản gồm: Các loại dao găm, kiếm, giáo, mác, thương, lưỡi lê, đao, mã tấu, côn, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ, phi tiêu”.

Như vậy, Luật Quản lý,sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ bước đầu nêu được khái niệm của vũ khí thô sơ, nhưng vẫn xác định theo hướng mở đó là dựa trên cấu tạo, nguyên lý, tính năng và tác dụng tương tự. Theo quan điểm của tác giả, trong điều kiện hiện nay đối với các mặt hàng liên quan trực tiếp đến các loại vũ khí thì việc xác định hàng hoá đó có phải là vũ khí, vũ khí thô sơ hay không phải dựa trên cơ sở kết luận giám định của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an. Kết luận của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an là kết luận cuối cùng để xác định “loại khác đó” có phải là vũ khí hay không. Do đó, trong điều kiện hiện nay khi chưa có các giải thích, hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, đối với cán bộ hải quan khi thực hiện các thủ tục nhập khẩu đối với một số mặt hàng có liên quan đến vấn đề này cần chú ý một số nội dung sau:

Thứ nhất, tìm hiểu các thông tin về ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp nhập khẩu đối với mặt hàng đang nhập khẩu.

Thứ hai, đối với các tờ khai chỉ kiểm tra hồ sơ cần chú ý đến các thông tin liên quan đến hàng hoá về tính năng, tác dụng của hàng hoá trong catalogue, hướng dẫn của hàng hoá. Trường hợp kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hoá phát hiện hàng hoá có tính năng, tác dụng như vũ khí cần báo cáo cấp trên xin ý kiến về phối hợp với cơ quan chức năng (công an, quân đội) để trưng cầu giám định đối với hàng hoá đó.

Thứ ba, áp dụng việc kiểm tra sau thông quan đối với doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá, xem xét việc phân phối hàng hoá để xem xét mục đích sử dụng của hàng hoá để có phương án xử lý, phòng ngừa.

Tuy nhiên, để vừa đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp vừa đáp ứng được yêu cầu về quản lý đảm bảo an toàn, trật tự xã hội thì Bộ Quốc Phòng và Bộ Công an cần có hướng dẫn, chú giải cụ thể về danh mục các loại vũ khí, vũ khí thô sơ trong danh mục hàng hoá cấm nhập khẩu theo sự phân công của Chính phủ. Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn về hình ảnh, tính năng, tác dụng của các loại vũ khí, vũ khí thô sơ để cơ quan hải quan căn cứ phân loại hàng hoá.

ThS. Phạm Văn Bằng - ThS. Nguyễn Ngọc Linh

Cục Điều tra chống buôn lậu


[1] http://cand.com.vn/ANTT/2-000-nong-cu-duoc-xac-dinh-la-vu-khi-tho-so-375190/

[2] Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 16 Nghi định số 25/2012/NĐ-CP ngày 5/4/2012 của Chính phủ hướng dẫn pháp lệnh quản lý vật liệu nổ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: