Thứ ba 05/05/2026 21:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc liên quan đến xử phạt hành chính trong vụ án hình sự

Trong một số vụ án hình sự như: Trộm cắp tài sản, tàng trữ trái phép chất ma túy… thì ngoài thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo còn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác nhưng không đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS). Vậy, hành vi không bị truy cứu TNHS mà bị cáo thực hiện có bị xử phạt hành chính không. Vấn đề này thực tiễn hiện có hai quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

1. Có xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội phạm của bị cáo

Vụ án thứ nhất: Ngày 13/4/2019, Nguyễn Văn A cùng với Trần Văn B đột nhập vào khu vực đậu xe của Công ty X và đã lấy trộm 03 cái bình ắc quy theo kết luận định giá là 3.500.000 đồng. Sau đó, A và B bị bắt để điều tra về hành vi trộm cắp tài sản. Qúa trình điều tra, A và B còn khai nhận trước đó ngày 10/4/2019 A và B có đột nhập vào khu vực bãi đậu xe của công ty X và có trộm 01 cái bình ắc quy bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Kết luận định giá thì 01 cái bình ắc quy trộm ngày 10/4/2019 trị giá 1.400.000 đồng. Tòa án nhân dân huyện Y đã xét xử bị cáo A và B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 về hành vi trộm cắp tài sản ngày 13/4/2019.

Vụ án thứ hai: Ngày 09/5/2019, Nguyễn Văn C bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong quá trình làm việc, C khai nhận vừa mới sử dụng ma túy trước khi bị bắt quả tang. Kiểm tra chất ma túy trên người C cho kết quả dương tính với ma túy. Tòa án nhân dân huyện Y xét xử bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Qua hai vụ án trên thì thấy rằng hành vi trộm cắp tài sản ngày 10/4/2019 của A và B; hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của C vào ngày 09/5/2019 không bị truy cứu TNHS. Tuy nhiên, hành vi này của A, B, C có phải bị xử phạt hành chính không thì có hai quan điểm khác nhau.

Theo quan điểm thứ nhất: Mặc dù hành vi trộm cắp tài sản của A, B vào ngày 10/4/2019 và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của C vào ngày 09/5/2019 là trái pháp luật. Tuy nhiên, cả A, B, C đều đã bị truy cứu TNHS về hành vi trộm cắp tài sản ngày 13/4/2019 và hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuy túy ngày 09/5/2019 nên các hành vi không bị truy cứu TNHS của A, B và C cần thu hút vào trong vụ án hình sự và không cần thiết phải xử phạt hành chính đối với các hành vi này.

Theo quan điểm thứ hai: Về nguyên tắc mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Cho nên hành vi trộm cắp tài sản ngày 13/4/2019 của A và B; hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 09/5/2019 của C không bị truy cứu TNHS nên phải bị xử phạt hành chính. Cụ thể, Tòa án khi xét xử vụ án hình sự cần đề nghị người có thẩm quyền xử phạt hành chính xem xét xử phạt hành chính đối với hành vi trộm cắp tài sản của A và B theo khoản 1 Điều 15 của Nghị định số: 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ và đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của C theo khoản 1 Điều 21 của Nghị định số: 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

2. Bị cáo trước đó bị xử phạt vi phạm vi hành chính, sau đó tiếp tục tực hiện nhiều hành vi vi phạm khác nhưng tất cả không cấu thành tội phạm thì có áp dụng tình tiết “phạm tội từ hai lần trở lên” không

Trong nhiều vụ án hình sự, có thể một người phạm tội thực hiện không đến mức phải truy cứu TNHS (như trộm cắp dưới 2.000.000 đồng…) nhưng trước đó họ đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản thì hành vi trộm cắp này vẫn bị truy cứu TNHS về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, nếu sau khi bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà sau đó người này thực hiện nhiều hành vi chiếm đoạt tài sản (như trộm cắp tài sản) nhưng tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng thì có áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội 02 lần trở lên” không. Vấn đề này thực tiễn hiện nay còn nhận thức khác nhau.

Vụ án như sau: Ngày 12/02/2019, Hoàng Văn H bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với mức phạt là 1.500.000 đồng theo điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Sau khi đã nộp phạt xong, ngày 01/5/2019, Hoàng Văn H có hành vi trộm cắp tài sản của bà K. Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện X kết luận: Tài sản Hoàng Văn K trộm cắp của bà K trị giá là 1.850.000 đồng. Hoàng Văn H bị khởi tố tội “Trộm cắp tài sản”. Quá trình điều tra, H còn khai nhận trước đó là ngày 27/3/2019, H có lẽn vào nhà của bà K trộm cắp 02 con gà trống (theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện X kết luận: 02 con gà trống trị giá 400.000 đồng). Vụ án được chuyển đến Tòa án nhân dân huyện X. Vậy Hoàng Văn H có bị áp dụng tình tiết tặng nặng TNHS “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 không?

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Cần phải áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội 02 lần trở lên” đối với Hoàng Văn H theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015[1]. Từ quy định này có thể hiểu nếu một người đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản của người khác trị giá dưới 2.000.000 đồng thì phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Như vậy, ngày 27/3/2019, Hoàng Văn H có hành vi trộm cắp hai con gà trống của bà K trị giá 400.000 đồng là đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên, hành vi trộm cắp tài sản chưa bị kết tội nên ngày 01/5/2019, H tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản của bà K trị giá 1.850.000 đồng nên hành vi trộm cắp tài sản này của H cũng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Không áp dụng tình tiết tặng nặng điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với Hoàng Văn H. Vì các lý do sau:

Thứ nhất, do Hoàng Văn H đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 12/02/2019 nên đồng ý ngày 27/3/2019 Hoàng Văn H có hành vi trộm cắp hai con gà trống của bà K trị giá 400.000 đồng là đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, nếu cho rằng lần trộm cắp tài sản của H vào ngày 01/5/2019 cũng phạm tội “Trộm cắp tài sản” thì sẽ không công bằng và ảnh hưởng đến quyền lợi của H. Giả sử, trong trường hợp H bị bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” do thực hiện hành vi trộm cắp 02 con gà trống của bà K nhưng sau đó H có hành vi trộm cắp tài sản của bà K dưới 2.000.000 đồng thì K cũng không bị truy cứu điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với hành vi trộm cắp tài sản của bà K lần thứ hai.

Thứ hai, tình tiết “Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được áp dụng cho lần trộm cắp tài sản ngày 27/3/2019 nên không thể tiếp tục áp dụng cho lần trộm cắp tài sản ngày 01/5/2019.

3. Thời gian tạm đình chỉ điều tra bị can; tạm đình chỉ vụ án có tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính không

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012[2]. Như vậy, đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều vụ án hình sự khi cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ ánthì đã quá thời hạn 01 năm kể từ ngày xảy ra hành vi phạm tội. Một trong những nguyên nhân là phải tạm đình chỉ vụ án do bị can/bị cáo bỏ trốn và phải tiến hành truy nã. Vấn đề đặt ra là thời gian tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ vụ án… có tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính không.

Vụ án như sau: Ngày 10/6/2018, do mâu thuẫn có mâu thuẫn với nhau A và B ẩu đã với nhau. Kết quả là A gây thương tích cho B. Quá trình điều tra, ngày 10/10/2018, cơ quan điều tra đã ra quyết định tạm đình chỉ bị can do thời hạn điều tra đã hết và phải chờ kết quả giám định tỷ lệ thương tật của B. Tòa án nhân dân huyện X quyết định đưa vụ án ra xét xử A về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa ngày 15/6/2019, bị hại B rút lại đơn yêu cầu khởi tố vụ án nên Tòa án nhân dân huyện X ra quyết đình chỉ vụ án. Trường hợp này theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ vụ án, Tòa án phải chuyển quyết định đỉnh chỉ vụ án kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Vấn đề đặt ra là thời gian cơ quan điều tra tạm đình chỉ điều tra bị can có tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính hay không thì còn quan điểm khác nhau.

Theo quan điểm thứ nhất: Theo Điều 11 Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì thời gian giải quyết tin tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là không quá 20 ngày kể từ ngày nhận được tin. Theo quy định tại Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 02 tháng. Nếu gia hạn thì cũng không quá 02 tháng. Như vậy, thời hạn điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 04 tháng. Theo quy định tại Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn ra quyết định truy tố đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 20 ngày. Nếu cần gia hạn thời gian truy tố thì không quá 10 ngày. Như vậy, thời hạn truy tố đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 30 ngày. Theo quy định tại Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 30 ngày. Trường hợp cần gia hạn thời gian chuẩn bị xét xử thì không quá 15 ngày. Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 45 ngày. Từ các quy định trên thấy rằng tổng thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét giải quyết đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 10 tháng. Cho nên, thời gian tạm đình chỉ điều tra bị can không được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

Theo quan điểm thứ hai: Tại điểm c khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có quy định là thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Ngoài ra, pháp luật không có quy định cụ thể những trường hợp không tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Vì vậy, từ ngày 10/6/2018 đến ngày 15/6/2019 là quá thời hạn 01 năm nên căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A.

4. Thời hiệu xử phạt hành chính đã hết thì Tòa án có chuyển hồ sơ để xử phạt hành chính không

Theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì “Đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính”. Tại điểm c khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng quy định như sau: “1. Không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong những trường hợp sau đây: c) Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 6 hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt quy định tại khoản 3 Điều 63 hoặc khoản 1 Điều 66 của Luật này.”. Vấn đề đặt ra là nếu thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đã hết thì ra quan tiến hành tố tụng đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án có phải chuyển hồ sơ và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính không. Vấn đề này có hai quan điểm như sau:

Theo quan điểm thứ nhất: Do thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đã hết nên thuộc trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, nếu thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đã hết thì cơ quan tiến hành tố tụng không cần thiết phải chuyển hồ sơ cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để đề nghị xử phạt vi phạm hành chính.

Theo quan điểm thứ hai thì cho rằng: Khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 chỉ quy định sau khi cơ quan tiến hành tố tụng có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, nhiệm vụ của cơ quan tiến hành tố tụng là chuyển các quyết định: Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án và kèm theo hồ sơ để đề nghị xử phạt vi phạm hành chính. Còn người có thẩm quyền xử phạt hành chính có trách nhiệm xem xét có ra quyết định xử phạt hay không. Nếu có căn cứ cho rằng thời hiệu xử phạt hành chính đã hết thì căn cứ quy định tại Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, người có thẩm quyền xử phạt hành chính không ra quyết định xử phạt hành chính và thông báo cho cơ quan tiến hành tố tụng đã chuyển hồ sơ đến biết. Do đó, mặc dù thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đã hết nhưng cơ quan tiến hảnh tố tụng phải chuyển hồ sơ cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

5. Nếu quyết định đình vụ án của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật thì Tòa án có phải chuyển quyết định đình chỉ vụ án kèm theo hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt hành chính không?

Liên quan vấn đề này thực tiễn có vướng mắc giữa quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì “Đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.”. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn kháng cáo đối với quyết định sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định. Theo quy định tại khoản 2 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định của Tòa án sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Như vậy, vấn đề đặt ra nếu thời hiệu xử phạt hành chính còn ít hơn hoặc bằng 03 ngày mà cơ quan tiến hành tố tụng không chuyển hồ sơ và đề nghị xử phạt hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt hành chình thì thời hiệu xử phạt hành chính hết nên không ra quyết định xử phạt hành chính được. Nhưng nếu Tòa án chuyển quyết định đình chỉ vụ án kèm theo hồ sơ và đề nghị xử phạt đến người có thẩm quyền xử phạt hành chính mà người có quyền kháng cáo kháng cáo hoặc Viện kiểm sát kháng nghị do thời hạn khàng cáo, kháng nghị vẫn còn thì lại nảy sinh thêm nhiều vấn đề khác phải giải quyết như người có thẩm quyền xử phạt hành chính đã ra quyết định xử phạt hành chính thì mới có kháng cáo, kháng nghị; hoặc thời hạn để ra quyết định xữ phạt hành chính đã hết mà Tòa án cấp phúc thẩm chưa xét xử phúc thẩm do có kháng cáo, kháng nghị…

Những vướng mắc nêu trên do xuất phát từ nhận thức pháp luật còn khác nhau hoặc chưa được pháp luật quy định hoặc chưa có hướng dẫn cụ thể. Vì vậy, tác giả mong bạn đọc cùng nghiên cứu, trao đổi thêm để việc nhận thức và áp dụng pháp luật trong thực tiễn được thống nhất./.

Dương Tấn Thanh

Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh


[1] Xem: Điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[2] Xem: Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: