Thứ năm 22/01/2026 11:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc liên quan đến xử phạt hành chính trong vụ án hình sự

Trong một số vụ án hình sự như: Trộm cắp tài sản, tàng trữ trái phép chất ma túy… thì ngoài thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo còn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác nhưng không đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS). Vậy, hành vi không bị truy cứu TNHS mà bị cáo thực hiện có bị xử phạt hành chính không. Vấn đề này thực tiễn hiện có hai quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

1. Có xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội phạm của bị cáo

Vụ án thứ nhất: Ngày 13/4/2019, Nguyễn Văn A cùng với Trần Văn B đột nhập vào khu vực đậu xe của Công ty X và đã lấy trộm 03 cái bình ắc quy theo kết luận định giá là 3.500.000 đồng. Sau đó, A và B bị bắt để điều tra về hành vi trộm cắp tài sản. Qúa trình điều tra, A và B còn khai nhận trước đó ngày 10/4/2019 A và B có đột nhập vào khu vực bãi đậu xe của công ty X và có trộm 01 cái bình ắc quy bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Kết luận định giá thì 01 cái bình ắc quy trộm ngày 10/4/2019 trị giá 1.400.000 đồng. Tòa án nhân dân huyện Y đã xét xử bị cáo A và B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 về hành vi trộm cắp tài sản ngày 13/4/2019.

Vụ án thứ hai: Ngày 09/5/2019, Nguyễn Văn C bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong quá trình làm việc, C khai nhận vừa mới sử dụng ma túy trước khi bị bắt quả tang. Kiểm tra chất ma túy trên người C cho kết quả dương tính với ma túy. Tòa án nhân dân huyện Y xét xử bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Qua hai vụ án trên thì thấy rằng hành vi trộm cắp tài sản ngày 10/4/2019 của A và B; hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của C vào ngày 09/5/2019 không bị truy cứu TNHS. Tuy nhiên, hành vi này của A, B, C có phải bị xử phạt hành chính không thì có hai quan điểm khác nhau.

Theo quan điểm thứ nhất: Mặc dù hành vi trộm cắp tài sản của A, B vào ngày 10/4/2019 và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của C vào ngày 09/5/2019 là trái pháp luật. Tuy nhiên, cả A, B, C đều đã bị truy cứu TNHS về hành vi trộm cắp tài sản ngày 13/4/2019 và hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuy túy ngày 09/5/2019 nên các hành vi không bị truy cứu TNHS của A, B và C cần thu hút vào trong vụ án hình sự và không cần thiết phải xử phạt hành chính đối với các hành vi này.

Theo quan điểm thứ hai: Về nguyên tắc mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Cho nên hành vi trộm cắp tài sản ngày 13/4/2019 của A và B; hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 09/5/2019 của C không bị truy cứu TNHS nên phải bị xử phạt hành chính. Cụ thể, Tòa án khi xét xử vụ án hình sự cần đề nghị người có thẩm quyền xử phạt hành chính xem xét xử phạt hành chính đối với hành vi trộm cắp tài sản của A và B theo khoản 1 Điều 15 của Nghị định số: 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ và đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của C theo khoản 1 Điều 21 của Nghị định số: 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

2. Bị cáo trước đó bị xử phạt vi phạm vi hành chính, sau đó tiếp tục tực hiện nhiều hành vi vi phạm khác nhưng tất cả không cấu thành tội phạm thì có áp dụng tình tiết “phạm tội từ hai lần trở lên” không

Trong nhiều vụ án hình sự, có thể một người phạm tội thực hiện không đến mức phải truy cứu TNHS (như trộm cắp dưới 2.000.000 đồng…) nhưng trước đó họ đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản thì hành vi trộm cắp này vẫn bị truy cứu TNHS về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, nếu sau khi bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà sau đó người này thực hiện nhiều hành vi chiếm đoạt tài sản (như trộm cắp tài sản) nhưng tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng thì có áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội 02 lần trở lên” không. Vấn đề này thực tiễn hiện nay còn nhận thức khác nhau.

Vụ án như sau: Ngày 12/02/2019, Hoàng Văn H bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với mức phạt là 1.500.000 đồng theo điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Sau khi đã nộp phạt xong, ngày 01/5/2019, Hoàng Văn H có hành vi trộm cắp tài sản của bà K. Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện X kết luận: Tài sản Hoàng Văn K trộm cắp của bà K trị giá là 1.850.000 đồng. Hoàng Văn H bị khởi tố tội “Trộm cắp tài sản”. Quá trình điều tra, H còn khai nhận trước đó là ngày 27/3/2019, H có lẽn vào nhà của bà K trộm cắp 02 con gà trống (theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện X kết luận: 02 con gà trống trị giá 400.000 đồng). Vụ án được chuyển đến Tòa án nhân dân huyện X. Vậy Hoàng Văn H có bị áp dụng tình tiết tặng nặng TNHS “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 không?

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Cần phải áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội 02 lần trở lên” đối với Hoàng Văn H theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015[1]. Từ quy định này có thể hiểu nếu một người đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản của người khác trị giá dưới 2.000.000 đồng thì phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Như vậy, ngày 27/3/2019, Hoàng Văn H có hành vi trộm cắp hai con gà trống của bà K trị giá 400.000 đồng là đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên, hành vi trộm cắp tài sản chưa bị kết tội nên ngày 01/5/2019, H tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản của bà K trị giá 1.850.000 đồng nên hành vi trộm cắp tài sản này của H cũng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Không áp dụng tình tiết tặng nặng điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với Hoàng Văn H. Vì các lý do sau:

Thứ nhất, do Hoàng Văn H đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 12/02/2019 nên đồng ý ngày 27/3/2019 Hoàng Văn H có hành vi trộm cắp hai con gà trống của bà K trị giá 400.000 đồng là đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, nếu cho rằng lần trộm cắp tài sản của H vào ngày 01/5/2019 cũng phạm tội “Trộm cắp tài sản” thì sẽ không công bằng và ảnh hưởng đến quyền lợi của H. Giả sử, trong trường hợp H bị bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” do thực hiện hành vi trộm cắp 02 con gà trống của bà K nhưng sau đó H có hành vi trộm cắp tài sản của bà K dưới 2.000.000 đồng thì K cũng không bị truy cứu điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với hành vi trộm cắp tài sản của bà K lần thứ hai.

Thứ hai, tình tiết “Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được áp dụng cho lần trộm cắp tài sản ngày 27/3/2019 nên không thể tiếp tục áp dụng cho lần trộm cắp tài sản ngày 01/5/2019.

3. Thời gian tạm đình chỉ điều tra bị can; tạm đình chỉ vụ án có tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính không

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012[2]. Như vậy, đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều vụ án hình sự khi cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ ánthì đã quá thời hạn 01 năm kể từ ngày xảy ra hành vi phạm tội. Một trong những nguyên nhân là phải tạm đình chỉ vụ án do bị can/bị cáo bỏ trốn và phải tiến hành truy nã. Vấn đề đặt ra là thời gian tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ vụ án… có tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính không.

Vụ án như sau: Ngày 10/6/2018, do mâu thuẫn có mâu thuẫn với nhau A và B ẩu đã với nhau. Kết quả là A gây thương tích cho B. Quá trình điều tra, ngày 10/10/2018, cơ quan điều tra đã ra quyết định tạm đình chỉ bị can do thời hạn điều tra đã hết và phải chờ kết quả giám định tỷ lệ thương tật của B. Tòa án nhân dân huyện X quyết định đưa vụ án ra xét xử A về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa ngày 15/6/2019, bị hại B rút lại đơn yêu cầu khởi tố vụ án nên Tòa án nhân dân huyện X ra quyết đình chỉ vụ án. Trường hợp này theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ vụ án, Tòa án phải chuyển quyết định đỉnh chỉ vụ án kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Vấn đề đặt ra là thời gian cơ quan điều tra tạm đình chỉ điều tra bị can có tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính hay không thì còn quan điểm khác nhau.

Theo quan điểm thứ nhất: Theo Điều 11 Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì thời gian giải quyết tin tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là không quá 20 ngày kể từ ngày nhận được tin. Theo quy định tại Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 02 tháng. Nếu gia hạn thì cũng không quá 02 tháng. Như vậy, thời hạn điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 04 tháng. Theo quy định tại Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn ra quyết định truy tố đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 20 ngày. Nếu cần gia hạn thời gian truy tố thì không quá 10 ngày. Như vậy, thời hạn truy tố đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 30 ngày. Theo quy định tại Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 30 ngày. Trường hợp cần gia hạn thời gian chuẩn bị xét xử thì không quá 15 ngày. Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 45 ngày. Từ các quy định trên thấy rằng tổng thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét giải quyết đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 10 tháng. Cho nên, thời gian tạm đình chỉ điều tra bị can không được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

Theo quan điểm thứ hai: Tại điểm c khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có quy định là thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Ngoài ra, pháp luật không có quy định cụ thể những trường hợp không tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Vì vậy, từ ngày 10/6/2018 đến ngày 15/6/2019 là quá thời hạn 01 năm nên căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A.

4. Thời hiệu xử phạt hành chính đã hết thì Tòa án có chuyển hồ sơ để xử phạt hành chính không

Theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì “Đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính”. Tại điểm c khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng quy định như sau: “1. Không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong những trường hợp sau đây: c) Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 6 hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt quy định tại khoản 3 Điều 63 hoặc khoản 1 Điều 66 của Luật này.”. Vấn đề đặt ra là nếu thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đã hết thì ra quan tiến hành tố tụng đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án có phải chuyển hồ sơ và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính không. Vấn đề này có hai quan điểm như sau:

Theo quan điểm thứ nhất: Do thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đã hết nên thuộc trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, nếu thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đã hết thì cơ quan tiến hành tố tụng không cần thiết phải chuyển hồ sơ cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để đề nghị xử phạt vi phạm hành chính.

Theo quan điểm thứ hai thì cho rằng: Khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 chỉ quy định sau khi cơ quan tiến hành tố tụng có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, nhiệm vụ của cơ quan tiến hành tố tụng là chuyển các quyết định: Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án và kèm theo hồ sơ để đề nghị xử phạt vi phạm hành chính. Còn người có thẩm quyền xử phạt hành chính có trách nhiệm xem xét có ra quyết định xử phạt hay không. Nếu có căn cứ cho rằng thời hiệu xử phạt hành chính đã hết thì căn cứ quy định tại Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, người có thẩm quyền xử phạt hành chính không ra quyết định xử phạt hành chính và thông báo cho cơ quan tiến hành tố tụng đã chuyển hồ sơ đến biết. Do đó, mặc dù thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đã hết nhưng cơ quan tiến hảnh tố tụng phải chuyển hồ sơ cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

5. Nếu quyết định đình vụ án của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật thì Tòa án có phải chuyển quyết định đình chỉ vụ án kèm theo hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt hành chính không?

Liên quan vấn đề này thực tiễn có vướng mắc giữa quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì “Đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.”. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn kháng cáo đối với quyết định sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định. Theo quy định tại khoản 2 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định của Tòa án sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Như vậy, vấn đề đặt ra nếu thời hiệu xử phạt hành chính còn ít hơn hoặc bằng 03 ngày mà cơ quan tiến hành tố tụng không chuyển hồ sơ và đề nghị xử phạt hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt hành chình thì thời hiệu xử phạt hành chính hết nên không ra quyết định xử phạt hành chính được. Nhưng nếu Tòa án chuyển quyết định đình chỉ vụ án kèm theo hồ sơ và đề nghị xử phạt đến người có thẩm quyền xử phạt hành chính mà người có quyền kháng cáo kháng cáo hoặc Viện kiểm sát kháng nghị do thời hạn khàng cáo, kháng nghị vẫn còn thì lại nảy sinh thêm nhiều vấn đề khác phải giải quyết như người có thẩm quyền xử phạt hành chính đã ra quyết định xử phạt hành chính thì mới có kháng cáo, kháng nghị; hoặc thời hạn để ra quyết định xữ phạt hành chính đã hết mà Tòa án cấp phúc thẩm chưa xét xử phúc thẩm do có kháng cáo, kháng nghị…

Những vướng mắc nêu trên do xuất phát từ nhận thức pháp luật còn khác nhau hoặc chưa được pháp luật quy định hoặc chưa có hướng dẫn cụ thể. Vì vậy, tác giả mong bạn đọc cùng nghiên cứu, trao đổi thêm để việc nhận thức và áp dụng pháp luật trong thực tiễn được thống nhất./.

Dương Tấn Thanh

Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh


[1] Xem: Điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[2] Xem: Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: