Chủ nhật 15/03/2026 15:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc liên quan đến xử phạt hành chính trong vụ án hình sự

Trong một số vụ án hình sự như: Trộm cắp tài sản, tàng trữ trái phép chất ma túy… thì ngoài thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo còn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác nhưng không đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS). Vậy, hành vi không bị truy cứu TNHS mà bị cáo thực hiện có bị xử phạt hành chính không. Vấn đề này thực tiễn hiện có hai quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

1. Có xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội phạm của bị cáo

Vụ án thứ nhất: Ngày 13/4/2019, Nguyễn Văn A cùng với Trần Văn B đột nhập vào khu vực đậu xe của Công ty X và đã lấy trộm 03 cái bình ắc quy theo kết luận định giá là 3.500.000 đồng. Sau đó, A và B bị bắt để điều tra về hành vi trộm cắp tài sản. Qúa trình điều tra, A và B còn khai nhận trước đó ngày 10/4/2019 A và B có đột nhập vào khu vực bãi đậu xe của công ty X và có trộm 01 cái bình ắc quy bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Kết luận định giá thì 01 cái bình ắc quy trộm ngày 10/4/2019 trị giá 1.400.000 đồng. Tòa án nhân dân huyện Y đã xét xử bị cáo A và B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 về hành vi trộm cắp tài sản ngày 13/4/2019.

Vụ án thứ hai: Ngày 09/5/2019, Nguyễn Văn C bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong quá trình làm việc, C khai nhận vừa mới sử dụng ma túy trước khi bị bắt quả tang. Kiểm tra chất ma túy trên người C cho kết quả dương tính với ma túy. Tòa án nhân dân huyện Y xét xử bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Qua hai vụ án trên thì thấy rằng hành vi trộm cắp tài sản ngày 10/4/2019 của A và B; hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của C vào ngày 09/5/2019 không bị truy cứu TNHS. Tuy nhiên, hành vi này của A, B, C có phải bị xử phạt hành chính không thì có hai quan điểm khác nhau.

Theo quan điểm thứ nhất: Mặc dù hành vi trộm cắp tài sản của A, B vào ngày 10/4/2019 và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của C vào ngày 09/5/2019 là trái pháp luật. Tuy nhiên, cả A, B, C đều đã bị truy cứu TNHS về hành vi trộm cắp tài sản ngày 13/4/2019 và hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuy túy ngày 09/5/2019 nên các hành vi không bị truy cứu TNHS của A, B và C cần thu hút vào trong vụ án hình sự và không cần thiết phải xử phạt hành chính đối với các hành vi này.

Theo quan điểm thứ hai: Về nguyên tắc mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Cho nên hành vi trộm cắp tài sản ngày 13/4/2019 của A và B; hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 09/5/2019 của C không bị truy cứu TNHS nên phải bị xử phạt hành chính. Cụ thể, Tòa án khi xét xử vụ án hình sự cần đề nghị người có thẩm quyền xử phạt hành chính xem xét xử phạt hành chính đối với hành vi trộm cắp tài sản của A và B theo khoản 1 Điều 15 của Nghị định số: 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ và đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của C theo khoản 1 Điều 21 của Nghị định số: 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

2. Bị cáo trước đó bị xử phạt vi phạm vi hành chính, sau đó tiếp tục tực hiện nhiều hành vi vi phạm khác nhưng tất cả không cấu thành tội phạm thì có áp dụng tình tiết “phạm tội từ hai lần trở lên” không

Trong nhiều vụ án hình sự, có thể một người phạm tội thực hiện không đến mức phải truy cứu TNHS (như trộm cắp dưới 2.000.000 đồng…) nhưng trước đó họ đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản thì hành vi trộm cắp này vẫn bị truy cứu TNHS về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, nếu sau khi bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà sau đó người này thực hiện nhiều hành vi chiếm đoạt tài sản (như trộm cắp tài sản) nhưng tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng thì có áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội 02 lần trở lên” không. Vấn đề này thực tiễn hiện nay còn nhận thức khác nhau.

Vụ án như sau: Ngày 12/02/2019, Hoàng Văn H bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với mức phạt là 1.500.000 đồng theo điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Sau khi đã nộp phạt xong, ngày 01/5/2019, Hoàng Văn H có hành vi trộm cắp tài sản của bà K. Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện X kết luận: Tài sản Hoàng Văn K trộm cắp của bà K trị giá là 1.850.000 đồng. Hoàng Văn H bị khởi tố tội “Trộm cắp tài sản”. Quá trình điều tra, H còn khai nhận trước đó là ngày 27/3/2019, H có lẽn vào nhà của bà K trộm cắp 02 con gà trống (theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện X kết luận: 02 con gà trống trị giá 400.000 đồng). Vụ án được chuyển đến Tòa án nhân dân huyện X. Vậy Hoàng Văn H có bị áp dụng tình tiết tặng nặng TNHS “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 không?

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Cần phải áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội 02 lần trở lên” đối với Hoàng Văn H theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015[1]. Từ quy định này có thể hiểu nếu một người đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản của người khác trị giá dưới 2.000.000 đồng thì phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Như vậy, ngày 27/3/2019, Hoàng Văn H có hành vi trộm cắp hai con gà trống của bà K trị giá 400.000 đồng là đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên, hành vi trộm cắp tài sản chưa bị kết tội nên ngày 01/5/2019, H tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản của bà K trị giá 1.850.000 đồng nên hành vi trộm cắp tài sản này của H cũng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Không áp dụng tình tiết tặng nặng điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với Hoàng Văn H. Vì các lý do sau:

Thứ nhất, do Hoàng Văn H đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 12/02/2019 nên đồng ý ngày 27/3/2019 Hoàng Văn H có hành vi trộm cắp hai con gà trống của bà K trị giá 400.000 đồng là đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, nếu cho rằng lần trộm cắp tài sản của H vào ngày 01/5/2019 cũng phạm tội “Trộm cắp tài sản” thì sẽ không công bằng và ảnh hưởng đến quyền lợi của H. Giả sử, trong trường hợp H bị bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” do thực hiện hành vi trộm cắp 02 con gà trống của bà K nhưng sau đó H có hành vi trộm cắp tài sản của bà K dưới 2.000.000 đồng thì K cũng không bị truy cứu điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với hành vi trộm cắp tài sản của bà K lần thứ hai.

Thứ hai, tình tiết “Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được áp dụng cho lần trộm cắp tài sản ngày 27/3/2019 nên không thể tiếp tục áp dụng cho lần trộm cắp tài sản ngày 01/5/2019.

3. Thời gian tạm đình chỉ điều tra bị can; tạm đình chỉ vụ án có tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính không

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012[2]. Như vậy, đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều vụ án hình sự khi cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ ánthì đã quá thời hạn 01 năm kể từ ngày xảy ra hành vi phạm tội. Một trong những nguyên nhân là phải tạm đình chỉ vụ án do bị can/bị cáo bỏ trốn và phải tiến hành truy nã. Vấn đề đặt ra là thời gian tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ vụ án… có tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính không.

Vụ án như sau: Ngày 10/6/2018, do mâu thuẫn có mâu thuẫn với nhau A và B ẩu đã với nhau. Kết quả là A gây thương tích cho B. Quá trình điều tra, ngày 10/10/2018, cơ quan điều tra đã ra quyết định tạm đình chỉ bị can do thời hạn điều tra đã hết và phải chờ kết quả giám định tỷ lệ thương tật của B. Tòa án nhân dân huyện X quyết định đưa vụ án ra xét xử A về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa ngày 15/6/2019, bị hại B rút lại đơn yêu cầu khởi tố vụ án nên Tòa án nhân dân huyện X ra quyết đình chỉ vụ án. Trường hợp này theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ vụ án, Tòa án phải chuyển quyết định đỉnh chỉ vụ án kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Vấn đề đặt ra là thời gian cơ quan điều tra tạm đình chỉ điều tra bị can có tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính hay không thì còn quan điểm khác nhau.

Theo quan điểm thứ nhất: Theo Điều 11 Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì thời gian giải quyết tin tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là không quá 20 ngày kể từ ngày nhận được tin. Theo quy định tại Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 02 tháng. Nếu gia hạn thì cũng không quá 02 tháng. Như vậy, thời hạn điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 04 tháng. Theo quy định tại Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn ra quyết định truy tố đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 20 ngày. Nếu cần gia hạn thời gian truy tố thì không quá 10 ngày. Như vậy, thời hạn truy tố đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 30 ngày. Theo quy định tại Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 30 ngày. Trường hợp cần gia hạn thời gian chuẩn bị xét xử thì không quá 15 ngày. Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 45 ngày. Từ các quy định trên thấy rằng tổng thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét giải quyết đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 10 tháng. Cho nên, thời gian tạm đình chỉ điều tra bị can không được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

Theo quan điểm thứ hai: Tại điểm c khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có quy định là thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Ngoài ra, pháp luật không có quy định cụ thể những trường hợp không tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Vì vậy, từ ngày 10/6/2018 đến ngày 15/6/2019 là quá thời hạn 01 năm nên căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A.

4. Thời hiệu xử phạt hành chính đã hết thì Tòa án có chuyển hồ sơ để xử phạt hành chính không

Theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì “Đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính”. Tại điểm c khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng quy định như sau: “1. Không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong những trường hợp sau đây: c) Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 6 hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt quy định tại khoản 3 Điều 63 hoặc khoản 1 Điều 66 của Luật này.”. Vấn đề đặt ra là nếu thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đã hết thì ra quan tiến hành tố tụng đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án có phải chuyển hồ sơ và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính không. Vấn đề này có hai quan điểm như sau:

Theo quan điểm thứ nhất: Do thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đã hết nên thuộc trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, nếu thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đã hết thì cơ quan tiến hành tố tụng không cần thiết phải chuyển hồ sơ cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để đề nghị xử phạt vi phạm hành chính.

Theo quan điểm thứ hai thì cho rằng: Khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 chỉ quy định sau khi cơ quan tiến hành tố tụng có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, nhiệm vụ của cơ quan tiến hành tố tụng là chuyển các quyết định: Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án và kèm theo hồ sơ để đề nghị xử phạt vi phạm hành chính. Còn người có thẩm quyền xử phạt hành chính có trách nhiệm xem xét có ra quyết định xử phạt hay không. Nếu có căn cứ cho rằng thời hiệu xử phạt hành chính đã hết thì căn cứ quy định tại Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, người có thẩm quyền xử phạt hành chính không ra quyết định xử phạt hành chính và thông báo cho cơ quan tiến hành tố tụng đã chuyển hồ sơ đến biết. Do đó, mặc dù thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đã hết nhưng cơ quan tiến hảnh tố tụng phải chuyển hồ sơ cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

5. Nếu quyết định đình vụ án của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật thì Tòa án có phải chuyển quyết định đình chỉ vụ án kèm theo hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt hành chính không?

Liên quan vấn đề này thực tiễn có vướng mắc giữa quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì “Đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.”. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn kháng cáo đối với quyết định sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định. Theo quy định tại khoản 2 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định của Tòa án sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Như vậy, vấn đề đặt ra nếu thời hiệu xử phạt hành chính còn ít hơn hoặc bằng 03 ngày mà cơ quan tiến hành tố tụng không chuyển hồ sơ và đề nghị xử phạt hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt hành chình thì thời hiệu xử phạt hành chính hết nên không ra quyết định xử phạt hành chính được. Nhưng nếu Tòa án chuyển quyết định đình chỉ vụ án kèm theo hồ sơ và đề nghị xử phạt đến người có thẩm quyền xử phạt hành chính mà người có quyền kháng cáo kháng cáo hoặc Viện kiểm sát kháng nghị do thời hạn khàng cáo, kháng nghị vẫn còn thì lại nảy sinh thêm nhiều vấn đề khác phải giải quyết như người có thẩm quyền xử phạt hành chính đã ra quyết định xử phạt hành chính thì mới có kháng cáo, kháng nghị; hoặc thời hạn để ra quyết định xữ phạt hành chính đã hết mà Tòa án cấp phúc thẩm chưa xét xử phúc thẩm do có kháng cáo, kháng nghị…

Những vướng mắc nêu trên do xuất phát từ nhận thức pháp luật còn khác nhau hoặc chưa được pháp luật quy định hoặc chưa có hướng dẫn cụ thể. Vì vậy, tác giả mong bạn đọc cùng nghiên cứu, trao đổi thêm để việc nhận thức và áp dụng pháp luật trong thực tiễn được thống nhất./.

Dương Tấn Thanh

Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh


[1] Xem: Điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[2] Xem: Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: