Thứ ba 13/01/2026 02:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc về việc ra quyết định thi hành án

Trong bài viết này, các tác giả nêu lên một số vướng mắc, bất cập liên quan đến việc ra quyết định thi hành án chủ động và thi hành án theo đơn yêu cầu thông qua một số vụ án hủy hoại rừng, đồng thời đưa ra giải pháp khắc phục.


1. Cơ sở pháp lý và một số vướng mắc từ thực tiễn

Việc xác định tư cách người tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định pháp luật có liên quan. Trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự về hủy hoại rừng thì việc xác định ai là chủ rừng (người bị hại) và ai là nguyên đơn dân sự có ý nghĩa rất quan trọng cho việc ra quyết định thi hành án dân sự, ra quyết định thi hành án như thế nào và ra quyết định từ thời điểm nào. Theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”; Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Ngoài ra, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì bị hại còn có thêm một số quyền mà nguyên đơn dân sự không có như quyền được tham gia tố tụng ngay cả trong trường hợp không có yêu cầu, quyền trình bày buộc tội tại phiên tòa, quyền đề nghị hình phạt, quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án để đề nghị tăng hoặc giảm hình phạt còn nguyên đơn dân sự chỉ có quyền kháng cáo về phần bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra không có quyền kháng cáo về hình phạt. Thực tiễn xét xử, đa số các Tòa án địa phương đều xác định chủ thể tham gia tố tụng trong các vụ án về rừng thường theo loại rừng và việc phân cấp quản lý. Nhìn chung, đa phần các cơ quan tiến hành tố tụng đều xác định chính xác về tư cách tham gia tố tụng. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay, có một số nơi vẫn còn có sự chồng chéo về phân cấp quản lý, đơn vị quản lý, người có trách nhiệm quản lý.

Liên quan đến việc ra quyết định thi hành án, Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự hiện hành) quy định: “1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này... 2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền chủ động ra quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành đối với phần bản án, quyết định sau:... c) Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước...”. Điểm 3 khoản 4 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 33/2020/NĐ-CP) quy định: “Các khoản thu khác cho Nhà nước thuộc diện cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án quy định tại điểm c khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự bao gồm: Khoản truy thu thuế; khoản viện trợ cho Nhà nước; khoản bồi thường cho Nhà nước, cơ quan nhà nước hoặc doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ trong các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tham nhũng; khoản thu nộp trực tiếp vào ngân sách nhà nước”.

Dưới đây, tác giả xin nêu một số vụ án cụ thể phát sinh từ thực tiễn để thấy rõ những vướng mắc, bất cập liên quan đến việc ra quyết định thi hành án chủ động và thi hành án theo đơn yêu cầu:

Vụ án thứ nhất: Tháng 12/2015, Phan Bích H thuê ba người đàn ông nói giọng miền Bắc (không rõ họ, chỉ biết một người tên D) phát và đốt 8.245m2 đất rừng, loại đất rừng phòng hộ tại khu vực rừng Dương Dài thuộc xã M, huyện N, tỉnh Q để lấy đất trồng keo lá tràm với giá 4.700.000 đồng. Đến tháng 6/2016, khi H thuê anh Ngô Phi C và chị Huỳnh Thị B trồng keo lá tràm thì bị Hạt kiểm lâm huyện N phát hiện lập biên bản. Qua kiểm đếm, trên diện tích đất rừng có 375 cây thân gỗ bị chặt hạ. Tổng khối lượng gỗ bị thiệt hại là 17,682m3, bao gồm các cây thuộc nhóm IV đến nhóm VIII. Tổng giá trị bị thiệt hại theo kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự là 87.808.000 đồng. Tòa án nhân dân huyện N đã xét xử và tuyên phạt bị cáo Phan Bích H 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng. Về dân sự: Bị cáo phải “bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã M” số tiền 87.808.000 đồng, bị cáo đã bồi thường được 15.000.000 đồng, còn lại phải tiếp tục bồi thường 72.808.000 đồng. Trong vụ án này, Tòa án xác định nguyên đơn dân sự là Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Q.

Vụ án thứ hai: Cuối năm 2019, Ngô Thị T đến khu vực Hòn Dung thuộc khoảnh 2, tiểu khu 456 thôn G, xã M, huyện N, tỉnh Q thuê bốn người (không rõ họ tên, chỉ biết quê ở tỉnh Đ) phát dọn 11.400m2 đất rừng sản xuất để trồng cây keo lá tràm. Số lượng cây gỗ bị chặt hạ là 280 cây với trữ lượng 15.972m3. Tổng giá trị bị thiệt hại theo kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự là 53.116.305 đồng. Tòa án nhân dân huyện N đã xét xử và tuyên phạt bị cáo Ngô Thị T 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng. Về dân sự: Bị cáo phải “bồi thường cho Nhà nước” số tiền 53.116.305 đồng, bị cáo đã bồi thường được 5.000.000 đồng, còn lại phải tiếp tục bồi thường là 48.116.305 đồng. Trong vụ án này, Tòa án xác định nguyên đơn dân sự là Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Q.

Đối với vụ án thứ nhất, Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Q ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu thi hành án của Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, bởi: Mặc dù Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 đã có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2015) nhưng Chi cục Thi hành án dân sự huyện N vẫn xác định đây là trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu vì chưa có hướng dẫn cụ thể và vì nguyên đơn dân sự trong vụ án này được Tòa án nhân dân huyện N xác định là Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Q. Việc bồi thường này là để Ủy ban nhân dân xã M (chủ rừng) thực hiện các biện pháp nhằm khắc phục hậu quả do hành vi hủy hoại rừng gây nên. Tuy nhiên, việc xác định loại việc thuộc trường hợp thi hành án chủ động hay thi hành án theo đơn yêu cầu có ý nghĩa rất quan trọng trong khâu thi hành án dân sự. Việc thi hành án theo đơn yêu cầu được tiến hành theo trình tự, thủ tục riêng và bắt buộc phải có đơn yêu cầu thi hành án, trong đó có việc “thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, nếu có” theo điểm đ khoản 2 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự hiện hành. Do đó, trường hợp này bắt buộc Ủy ban nhân dân xã M phải có đơn yêu cầu thi hành án và đơn phải còn trong thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Đối với vụ án thứ hai, hiện nay có 02 quan điểm khác nhau: (i) Quan điểm thứ nhất cho rằng, trong trường hợp này bản án xác định nguyên đơn dân sự vẫn là Ủy ban nhân dân xã M, huyện N nên vẫn thuộc trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu như đã nêu trên. (ii) Quan điểm thứ hai cho rằng, trường hợp này thuộc loại thi hành án dân sự chủ động, bởi: Nhà nước là một chủ thể đặc biệt, Ủy ban nhân dân là cơ quan nhà nước do nhân dân bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp xã được phân cấp quản lý rừng tại địa phương nên Ủy ban nhân dân xã là chủ rừng, là bị hại trực tiếp trong các vụ án hủy hoại rừng, có trách nhiệm yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, xử lý nghiêm người vi phạm và được bồi thường theo quy định. Do vậy, khi bản án đã có hiệu lực pháp luật thì cơ quan thi hành án dân sự phải chủ động ra quyết định thi hành án theo như hướng dẫn tại Nghị định số 33/2020/NĐ-CP. Tuy nhiên, Nghị định số 33/2020/NĐ-CP lại có quy định: “… trong các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tham nhũng” (điểm 3 khoản 4 Điều 1). Theo đó, trường hợp này lại không thuộc khoản bồi thường cho Nhà nước, bởi tội hủy hoại rừng thuộc Chương XIX các tội phạm về môi trường chứ không thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tham nhũng!

2. Kiến nghị, đề xuất

Để áp dụng pháp luật được thống nhất, mang tính toàn diện, tạo sự công bằng và đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của các bên trong quá trình thi hành án dân sự thì cần tiếp tục hoàn thiện các quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản thi hành theo hướng:

- Hoàn thiện thể chế pháp luật theo hướng hiện đại, cụ thể hóa bằng điều luật để tiến hành thực hiện một cách thống nhất trong phạm vi toàn quốc nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.

- Hoàn thiện quy định và thực hiện thống nhất về tên gọi, cách ghi trong bản án hình sự về tên gọi, tư cách tham gia tố tụng của các chủ thể, người tham gia tố tụng (như là Ủy ban nhân dân xã A hay cơ quan nhà nước). Cần quy định rõ là bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã hay bồi thường cho Nhà nước. Theo chúng tôi, cần ghi rõ là bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã để dễ thực hiện và đúng với bản chất của vấn đề.

- Theo chúng tôi, trường hợp này là bồi thường cho Nhà nước và Nhà nước được xác định cụ thể là Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Q ở các bản án nêu trên. Trường hợp này được xác định là thi hành án chủ động chứ không phải là thi hành án theo đơn yêu cầu. Do đó, cần phải sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự hiện hành theo hướng: Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; “khoản bồi thường cho Nhà nước” và các khoản thu khác cho Nhà nước. Đồng thời, để đảm bảo quyền lợi cho Nhà nước và người được thi hành án, cần sửa đổi, bổ sung điểm 3 khoản 4 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP theo hướng “… trong các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, tham nhũng”.

Võ Xuân Tuấn
Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
Võ Văn Thể
Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.

Theo dõi chúng tôi trên: