Thứ ba 12/05/2026 18:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc về việc ra quyết định thi hành án

Trong bài viết này, các tác giả nêu lên một số vướng mắc, bất cập liên quan đến việc ra quyết định thi hành án chủ động và thi hành án theo đơn yêu cầu thông qua một số vụ án hủy hoại rừng, đồng thời đưa ra giải pháp khắc phục.


1. Cơ sở pháp lý và một số vướng mắc từ thực tiễn

Việc xác định tư cách người tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định pháp luật có liên quan. Trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự về hủy hoại rừng thì việc xác định ai là chủ rừng (người bị hại) và ai là nguyên đơn dân sự có ý nghĩa rất quan trọng cho việc ra quyết định thi hành án dân sự, ra quyết định thi hành án như thế nào và ra quyết định từ thời điểm nào. Theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”; Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Ngoài ra, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì bị hại còn có thêm một số quyền mà nguyên đơn dân sự không có như quyền được tham gia tố tụng ngay cả trong trường hợp không có yêu cầu, quyền trình bày buộc tội tại phiên tòa, quyền đề nghị hình phạt, quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án để đề nghị tăng hoặc giảm hình phạt còn nguyên đơn dân sự chỉ có quyền kháng cáo về phần bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra không có quyền kháng cáo về hình phạt. Thực tiễn xét xử, đa số các Tòa án địa phương đều xác định chủ thể tham gia tố tụng trong các vụ án về rừng thường theo loại rừng và việc phân cấp quản lý. Nhìn chung, đa phần các cơ quan tiến hành tố tụng đều xác định chính xác về tư cách tham gia tố tụng. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay, có một số nơi vẫn còn có sự chồng chéo về phân cấp quản lý, đơn vị quản lý, người có trách nhiệm quản lý.

Liên quan đến việc ra quyết định thi hành án, Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự hiện hành) quy định: “1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này... 2. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền chủ động ra quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành đối với phần bản án, quyết định sau:... c) Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước...”. Điểm 3 khoản 4 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 33/2020/NĐ-CP) quy định: “Các khoản thu khác cho Nhà nước thuộc diện cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án quy định tại điểm c khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự bao gồm: Khoản truy thu thuế; khoản viện trợ cho Nhà nước; khoản bồi thường cho Nhà nước, cơ quan nhà nước hoặc doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ trong các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tham nhũng; khoản thu nộp trực tiếp vào ngân sách nhà nước”.

Dưới đây, tác giả xin nêu một số vụ án cụ thể phát sinh từ thực tiễn để thấy rõ những vướng mắc, bất cập liên quan đến việc ra quyết định thi hành án chủ động và thi hành án theo đơn yêu cầu:

Vụ án thứ nhất: Tháng 12/2015, Phan Bích H thuê ba người đàn ông nói giọng miền Bắc (không rõ họ, chỉ biết một người tên D) phát và đốt 8.245m2 đất rừng, loại đất rừng phòng hộ tại khu vực rừng Dương Dài thuộc xã M, huyện N, tỉnh Q để lấy đất trồng keo lá tràm với giá 4.700.000 đồng. Đến tháng 6/2016, khi H thuê anh Ngô Phi C và chị Huỳnh Thị B trồng keo lá tràm thì bị Hạt kiểm lâm huyện N phát hiện lập biên bản. Qua kiểm đếm, trên diện tích đất rừng có 375 cây thân gỗ bị chặt hạ. Tổng khối lượng gỗ bị thiệt hại là 17,682m3, bao gồm các cây thuộc nhóm IV đến nhóm VIII. Tổng giá trị bị thiệt hại theo kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự là 87.808.000 đồng. Tòa án nhân dân huyện N đã xét xử và tuyên phạt bị cáo Phan Bích H 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng. Về dân sự: Bị cáo phải “bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã M” số tiền 87.808.000 đồng, bị cáo đã bồi thường được 15.000.000 đồng, còn lại phải tiếp tục bồi thường 72.808.000 đồng. Trong vụ án này, Tòa án xác định nguyên đơn dân sự là Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Q.

Vụ án thứ hai: Cuối năm 2019, Ngô Thị T đến khu vực Hòn Dung thuộc khoảnh 2, tiểu khu 456 thôn G, xã M, huyện N, tỉnh Q thuê bốn người (không rõ họ tên, chỉ biết quê ở tỉnh Đ) phát dọn 11.400m2 đất rừng sản xuất để trồng cây keo lá tràm. Số lượng cây gỗ bị chặt hạ là 280 cây với trữ lượng 15.972m3. Tổng giá trị bị thiệt hại theo kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự là 53.116.305 đồng. Tòa án nhân dân huyện N đã xét xử và tuyên phạt bị cáo Ngô Thị T 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng. Về dân sự: Bị cáo phải “bồi thường cho Nhà nước” số tiền 53.116.305 đồng, bị cáo đã bồi thường được 5.000.000 đồng, còn lại phải tiếp tục bồi thường là 48.116.305 đồng. Trong vụ án này, Tòa án xác định nguyên đơn dân sự là Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Q.

Đối với vụ án thứ nhất, Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Q ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu thi hành án của Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, bởi: Mặc dù Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 đã có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2015) nhưng Chi cục Thi hành án dân sự huyện N vẫn xác định đây là trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu vì chưa có hướng dẫn cụ thể và vì nguyên đơn dân sự trong vụ án này được Tòa án nhân dân huyện N xác định là Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Q. Việc bồi thường này là để Ủy ban nhân dân xã M (chủ rừng) thực hiện các biện pháp nhằm khắc phục hậu quả do hành vi hủy hoại rừng gây nên. Tuy nhiên, việc xác định loại việc thuộc trường hợp thi hành án chủ động hay thi hành án theo đơn yêu cầu có ý nghĩa rất quan trọng trong khâu thi hành án dân sự. Việc thi hành án theo đơn yêu cầu được tiến hành theo trình tự, thủ tục riêng và bắt buộc phải có đơn yêu cầu thi hành án, trong đó có việc “thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, nếu có” theo điểm đ khoản 2 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự hiện hành. Do đó, trường hợp này bắt buộc Ủy ban nhân dân xã M phải có đơn yêu cầu thi hành án và đơn phải còn trong thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Đối với vụ án thứ hai, hiện nay có 02 quan điểm khác nhau: (i) Quan điểm thứ nhất cho rằng, trong trường hợp này bản án xác định nguyên đơn dân sự vẫn là Ủy ban nhân dân xã M, huyện N nên vẫn thuộc trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu như đã nêu trên. (ii) Quan điểm thứ hai cho rằng, trường hợp này thuộc loại thi hành án dân sự chủ động, bởi: Nhà nước là một chủ thể đặc biệt, Ủy ban nhân dân là cơ quan nhà nước do nhân dân bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp xã được phân cấp quản lý rừng tại địa phương nên Ủy ban nhân dân xã là chủ rừng, là bị hại trực tiếp trong các vụ án hủy hoại rừng, có trách nhiệm yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, xử lý nghiêm người vi phạm và được bồi thường theo quy định. Do vậy, khi bản án đã có hiệu lực pháp luật thì cơ quan thi hành án dân sự phải chủ động ra quyết định thi hành án theo như hướng dẫn tại Nghị định số 33/2020/NĐ-CP. Tuy nhiên, Nghị định số 33/2020/NĐ-CP lại có quy định: “… trong các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tham nhũng” (điểm 3 khoản 4 Điều 1). Theo đó, trường hợp này lại không thuộc khoản bồi thường cho Nhà nước, bởi tội hủy hoại rừng thuộc Chương XIX các tội phạm về môi trường chứ không thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tham nhũng!

2. Kiến nghị, đề xuất

Để áp dụng pháp luật được thống nhất, mang tính toàn diện, tạo sự công bằng và đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của các bên trong quá trình thi hành án dân sự thì cần tiếp tục hoàn thiện các quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản thi hành theo hướng:

- Hoàn thiện thể chế pháp luật theo hướng hiện đại, cụ thể hóa bằng điều luật để tiến hành thực hiện một cách thống nhất trong phạm vi toàn quốc nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.

- Hoàn thiện quy định và thực hiện thống nhất về tên gọi, cách ghi trong bản án hình sự về tên gọi, tư cách tham gia tố tụng của các chủ thể, người tham gia tố tụng (như là Ủy ban nhân dân xã A hay cơ quan nhà nước). Cần quy định rõ là bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã hay bồi thường cho Nhà nước. Theo chúng tôi, cần ghi rõ là bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã để dễ thực hiện và đúng với bản chất của vấn đề.

- Theo chúng tôi, trường hợp này là bồi thường cho Nhà nước và Nhà nước được xác định cụ thể là Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Q ở các bản án nêu trên. Trường hợp này được xác định là thi hành án chủ động chứ không phải là thi hành án theo đơn yêu cầu. Do đó, cần phải sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự hiện hành theo hướng: Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; “khoản bồi thường cho Nhà nước” và các khoản thu khác cho Nhà nước. Đồng thời, để đảm bảo quyền lợi cho Nhà nước và người được thi hành án, cần sửa đổi, bổ sung điểm 3 khoản 4 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP theo hướng “… trong các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, tham nhũng”.

Võ Xuân Tuấn
Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
Võ Văn Thể
Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: