Thứ tư 11/03/2026 19:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số ý kiến qua công tác giám định tư pháp của lực lượng công an

Trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, hoạt động giám định tư pháp đóng vai trò quan trọng, cung cấp cho các cơ quan điều tra những chứng cứ mang tính khoa học, góp phần giải quyết vụ án được chính xác, khách quan và đúng pháp luật.

Bài viết đã nêu một số vấn đề rút ra từ thực tiễn công tác giám định tư pháp trong điều tra hình sự, với những nội dung chính như: (i) Những vướng mắc, khó khăn về giám định tư pháp trong quá trình điều tra các vụ án; (ii) Một số đề xuất, kiến nghị và lưu ý trong việc thực hiện giám định tư pháp trong điều tra hình sự.

Trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, hoạt động giám định tư pháp đóng vai trò quan trọng, cung cấp cho các cơ quan điều tra những chứng cứ mang tính khoa học, góp phần giải quyết vụ án được chính xác, khách quan và đúng pháp luật. Bài viết này xin nêu một số vấn đề rút ra từ thực tiễn công tác giám định tư pháp trong điều tra hình sự.

1. Những vướng mắc, khó khăn về giám định tư pháp trong quá trình điều tra các vụ án

Về thời hạn tiến hành giám định, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chưa có quy định cụ thể, nhất là trưng cầu giám định tâm thần, giám định trong các vụ án kinh tế như: Giám định trong lĩnh vực tài chính, thuế, ngân hàng, xây dựng cơ bản, đất đai… nên việc tiến hành giám định rất chậm, kéo dài, không đáp ứng được yêu cầu về thời hạn điều tra, nhiều vụ án phải tạm đình chỉ điều tra chờ kết quả giám định. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016) đã bổ sung, quy định cụ thể hơn về thời hạn giám định (Điều 208) nhằm khắc phục vướng mắc trên. Do vậy, cần quy định thống nhất, chi tiết thời hạn giám định trong Luật Giám định tư pháp năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Về giám định tỷ lệ thương tích, hiện chưa có quy định thống nhất về giám định thương tích nạn nhân qua hồ sơ bệnh án, nên các cơ quan tiến hành tố tụng còn có các quan điểm khác nhau. Một số vụ án, người bị hại bị đối tượng đe doạ, mua chuộc, khống chế hoặc đòi bồi thường, nên đã từ chối giám định xác định tỷ lệ thương tích, vì vậy không có căn cứ xử lý người gây thương tích theo quy định của Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Một số địa phương không giám định được thiệt hại tài sản do hành vi chi sai nguyên tắc quản lý tài chính nhà nước gây ra hoặc nội dung yêu cầu giám định là nghiệp vụ chuyên môn mới phát sinh, phức tạp, khối lượng lớn như giám định cổ phiếu, giám định các giao dịch điện tử...

Các trường hợp trưng cầu giám định về tài chính và trưng cầu định giá tài sản thường bị kéo dài thời gian, có trường hợp Hội đồng giám định được trưng cầu không trực tiếp định giá tài sản mà phải thuê một đơn vị thẩm định giá, dẫn đến kéo dài thời hạn điều tra, phải tạm đình chỉ điều tra vụ án. Một số vụ án kinh tế, cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định, nhưng phải sau một thời gian dài thì cơ quan giám định mới cử được giám định viên thuộc các lĩnh vực như: Giám định thuế, giám định kế toán, tài chính, ngân hàng, giám định công trình xây dựng… Trình độ chuyên môn, kiến thức pháp luật, năng lực, kinh nghiệm của một số cán bộ trong lĩnh vực này còn hạn chế và kiêm nhiệm các công việc khác.

Việc định giá đối với những vụ việc liên quan đến sản xuất, tàng trữ, mua bán hàng cấm không thực hiện được, vì hàng hóa đó thuộc danh mục hàng cấm như ngà voi, sừng tê giác… không được phép mua bán, lưu hành, nhưng cũng đã có nơi cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu định giá đối với loại hàng hóa này.

Quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra với các cơ quan quản lý chuyên ngành các lĩnh vực như tài chính, xây dựng, ngân hàng… nhiều nơi thực hiện chưa tốt, chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm trong quan hệ phối hợp của các cơ quan này. Do đó, việc cử người làm giám định của các cơ quan quản lý chuyên ngành để giám định theo yêu cầu của cơ quan điều tra thường không kịp thời, nhiều vụ kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm.

Nội dung kết luận giám định trong một số trường hợp chưa trả lời đầy đủ các yêu cầu của cơ quan trưng cầu giám định hoặc một số kết luận giám định còn chung chung, không rõ ràng, chỉ có giá trị tham khảo, kết luận không khẳng định, có dấu hiệu né tránh trả lời nội dung yêu cầu giám định của cơ quan điều tra. Thực tế, không ít vụ án có mâu thuẫn trong các kết luận giám định về cùng một vấn đề cần giám định (xung đột kết luận giám định), trong trường hợp này thì sử dụng kết luận giám định nào làm căn cứ xử lý bị can?

Chi phí giám định tư pháp phải trả đối với các vụ án kinh tế, tham nhũng thường rất lớn, nhất là các vụ án trưng cầu giám định về chất lượng công trình xây dựng, cầu, đường. Mặt khác, có trường hợp vật chứng cần giám định là hàng hóa, nhưng do không có kinh phí nên không ký được hợp đồng với các cơ quan khác để giám định, dẫn đến việc hàng hóa bị hư hỏng. Ngoài ra, chưa có hướng dẫn cụ thể các mức chi trả tiền giám định trong các lĩnh vực thiệt hại rừng, tài chính, ngân hàng, thuế…

Thời gian gần đây, cơ quan điều tra đã phát hiện việc “chạy” giám định. Ví dụ: Tháng 6/2015, qua công tác quản lý giam giữ, Công an tỉnh LĐ đã phát hiện, ngăn chặn hành vi “chạy” để được giám định tâm thần theo hướng có lợi đối với bị cáo H, bị Tòa án nhân dân tỉnh LĐ tuyên phạt tử hình về các tội giết người, hiếp dâm, cướp tài sản. Cụ thể là khi kiểm tra đồ tiếp tế do bà ML gửi vào trại tạm giam cho con, thì cán bộ trại đã phát hiện trong ổ bánh mỳ có 3 tờ giấy nhỏ của bà ML ghi nội dung “đến ngày xét xử phúc thẩm thì H giả bị bệnh tâm thần, không nhớ đến những việc đã làm để được hoãn phiên tòa và đề nghị đưa đi giám định ở ĐN”. Trại tạm giam Công an tỉnh LĐ đã lập biên bản thu giữ 3 tờ giấy đó, báo cáo cấp trên có biện pháp cần thiết, làm việc với tổ chức giám định để trao đổi thông tin và đã ngăn chặn việc “chạy” giám định để được thoát án tử hình.

2. Một số đề xuất, kiến nghị

Trên cơ sở những vướng mắc, khó khăn nảy sinh từ thực tiễn công tác giám định tư pháp trong các lĩnh vực của lực lượng công an thời gian qua, tác giả xin có một số đề xuất, kiến nghị cụ thể như sau:

- Các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp cần tiếp tục tăng cường tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các quy định về giám định tư pháp nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ tiến hành tố tụng, người giám định, nhất là về vai trò, trách nhiệm, nội dung quản lý nhà nước về giám định tư pháp của cơ quan mình.

- Xây dựng nghị định quy định chi tiết Luật Giám định tư pháp năm 2012 về lĩnh vực giám định tài chính, ngân hàng, chất lượng công trình… gồm các nội dung chính như: Thời hạn tiến hành giám định nhằm phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; trách nhiệm của cơ quan giám định, trách nhiệm của giám định viên đối với các kết luận giám định của mình; những loại việc không nhất thiết phải giám định nhằm tránh việc lạm dụng giám định, sử dụng kết quả giám định thay cho hoạt động điều tra.

- Kiện toàn các cơ quan giám định tư pháp trong các lĩnh vực tài chính, xây dựng, ngân hàng… để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phòng, chống tội phạm. Mở rộng các Văn phòng giám định tư pháp công lập, hạn chế giám định tư pháp chuyên ngành. Tăng cường biên chế và có chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho giám định viên chuyên trách trong lĩnh vực giám định pháp y, tài chính, kế toán, ngân hàng, xây dựng, thuế... Các Bộ, ngành sớm xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn giám định theo đúng như phân công trong Quyết định số 1549/QĐ-TTg ngày 16/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật Giám định tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu giám định tư pháp hiện nay.

- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại để đáp ứng yêu cầu công tác giám định trong tình hình hiện nay, nhất là các cơ quan giám định công an cấp tỉnh.

- Tách kinh phí phục vụ công tác giám định tư pháp trong điều tra vụ án hình sự thành một mục chi ngân sách độc lập (không lấy từ kinh phí điều tra); quy định cụ thể và phù hợp mức phí trả tiền giám định trong các lĩnh vực giám định thiệt hại về rừng, tài chính, ngân hàng, thuế, xây dựng, cầu, đường…; mức chi phí giám định cần đuợc điều chỉnh cho phù hợp với sự biến động của giá cả thị trường. Đề nghị Bộ Tài chính cần sớm có hướng dẫn về căn cứ, thủ tục lập dự toán, cấp phát, quản lý, sử dụng kinh phí chi trả tiền bồi dưỡng giám định tư pháp, trình tự, thủ tục, hồ sơ thanh toán chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp.

- Xây dựng quy chế phối hợp về hoạt động giám định tư pháp để giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn (như: Giám định tỷ lệ thương tích trong trường hợp người bị hại từ chối giám định; giải quyết những vướng mắc về giám định tài chính, ngân hàng, xây dựng…) để công tác giám định tư pháp được tiến hành nhanh chóng, có chất lượng, bảo đảm yêu cầu điều tra, xử lý vụ án khách quan, chính xác.

3. Một số lưu ý trong thực hiện giám định tư pháp

3.1. Căn cứ trưng cầu giám định tư pháp

Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định về những trường hợp bắt buộc phải giám định hoặc khi xét thấy cần thiết thì cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định, theo đó:

- Các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định:

+ Nguyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động;

+ Tình trạng tâm thần của bị can, bị cáo trong trường hợp có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ;

+ Tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc người bị hại trong trường hợp có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn đối với những tình tiết của vụ án;

+ Tuổi của bị can, bị cáo, người bị hại, nếu việc đó có ý nghĩa đối với vụ án và không có tài liệu nào khẳng định tuổi của họ hoặc có sự nghi ngờ về tính chính xác của các tài liệu đó;

+ Chất độc, chất ma túy, chất phóng xạ, tiền giả.

- Các trường hợp xét thấy cần thiết phải tiến hành trưng cầu giám định:

+ Khi cần làm rõ những công cụ, phương tiện nào đó gây ra những dấu vết, thương tích trên thân thể người bị hại; làm rõ những dấu vết vân tay, dấu vết chân, giày, dép... tại hiện trường;

+ Khi cần làm rõ ai là người viết, ký, hình dấu thật hay giả, phương tiện in ấn, đánh máy ra tài liệu có liên quan đến vụ án;

+ Khi cần làm rõ hàng hóa thu được trong quá trình điều tra vụ án có phải là thật hay giả;

+ Giám định dấu vết sinh vật thu được tại hiện trường hoặc trên thân thể người bị hại;

+ Giám định để định giá tài sản;

+ Xác định nguyên nhân gây cháy nổ.

3.2. Cách thức trưng cầu giám định tư pháp

Sau khi đã xác định được những vấn đề cần yêu cầu trưng cầu giám định, cơ quan điều tra cần phải xác định và làm rõ khả năng tiến hành giám định gồm:

- Các vấn đề phải giám định;

- Các dạng giám định sẽ tiến hành trưng cầu; dạng giám định đó có khả năng giải quyết được vấn đề mà hoạt động điều tra đặt ra yêu cầu hay không;

- Cơ quan giám định hay người giám định có khả năng giám định hay không;

- Các tài liệu, mẫu vật thu được có đủ yếu tố để giám định hay không; các tài liệu, mẫu vật gửi đi giám định bao gồm các mẫu vật có liên quan đến vụ án và các mẫu vật so sánh. Các mẫu vật này cần thỏa mãn các yêu cầu như mang tính phản ánh, tính so sánh, tính ổn định tương đối và tính xác thực của nguồn gốc mẫu vật.

Sau khi chuẩn bị xong các điều kiện cần thiết để yêu cầu trưng cầu giám định, điều tra viên đề nghị thủ trưởng cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định với các nội dung được quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Cơ quan tiến hành giám định có trách nhiệm tiến hành các giám định theo quyết định trưng cầu giám định của cơ quan điều tra. Đồng thời, cơ quan điều tra cần theo dõi và giữ mối liên hệ với cơ quan giám định nhằm đáp ứng kịp thời, đầy đủ các yêu cầu cần thiết cho quá trình giám định. Trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của giám định viên, cơ quan điều tra và điều tra viên có thể tạo điều kiện cho giám định viên tiến hành các hoạt động có liên quan đến hoạt động điều tra vụ án như tham gia hỏi cung, nghiên cứu hiện trường... theo quy định để phục vụ quá trình giám định. Trên thực tế, tùy thuộc vào yêu cầu của quá trình điều tra vụ án mà cơ quan điều tra có thể tiến hành ra các quyết định trưng cầu giám định lần đầu; quyết định trưng cầu giám định lại; trưng cầu giám định bổ sung; trưng cầu cá nhân giám định; trưng cầu tập thể giám định và trưng cầu giám định tổ hợp để có thể có được những kết luận giám định chính xác, khách quan nhất.

3.3. Việc đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp

Kết luận giám định tư pháp được pháp luật quy định là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án. Kết luận giám định là văn bản do cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giám định lập để kết luận chuyên môn về những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định.

Kết luận giám định tư pháp phải có các nội dung sau đây: Họ, tên người thực hiện giám định; tổ chức thực hiện giám định; tên cơ quan tiến hành tố tụng; họ, tên người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định; số văn bản trưng cầu giám định hoặc họ, tên người yêu cầu giám định; thông tin xác định đối tượng giám định; thời gian nhận văn bản trưng cầu, yêu cầu giám định; nội dung yêu cầu giám định; phương pháp thực hiện giám định; kết luận về đối tượng giám định; thời gian, địa điểm thực hiện, hoàn thành việc giám định.

Kết luận giám định đúng đắn giúp cho việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án được chính xác, khách quan, đúng pháp luật, góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh với các loại tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Kết luận giám định là văn bản có giá trị pháp lý, trình bày quá trình giám định và kết quả nghiên cứu, câu trả lời của cơ quan giám định đối với các câu hỏi mà cơ quan trưng cầu, yêu cầu giám định đưa ra. Tuy nhiên, không phải lúc nào kết luận giám định cũng là kết luận khẳng định, có hai loại kết luận giám định gồm:

- Kết luận khẳng định: Là kết luận dứt khoát, đúng hay không đúng, đồng nhất hay không đồng nhất về vấn đề cần giám định, kết luận này có giá trị chứng minh; được công nhận như một nguồn chứng cứ.

- Kết luận khả năng: Là kết luận mà trong một số trường hợp người giám định không có khả năng đưa ra kết luận dứt khoát đối với vấn đề cần giám định, mà chỉ đưa ra được kết luận có xu hướng dự báo xác định một người, một vật hoặc một sự việc nào đó. Thông thường, những kết luận mang tính khả năng được đưa ra trong các trường hợp các dấu vết, tài liệu, mẫu giám định gửi đi biểu hiện không rõ nét; những biện pháp nghiên cứu, giám định đã lỗi thời; số lượng mẫu vật, tài liệu gửi đến để giám định thiếu, không bảo đảm chất lượng... do đó, người giám định không thể đưa ra được kết luận khẳng định mà chỉ đưa ra được kết luận mang tính khả năng. Kết luận giám định mang tính khả năng không có ý nghĩa như một nguồn chứng cứ vì chỉ chứa đựng những thông tin mang tính dự báo về đối tượng giám định. Tuy nhiên, có thể căn cứ vào đó để đưa ra những giả thuyết điều tra về đối tượng, công cụ, phương tiện, diễn biến của hành vi phạm tội, phục vụ quá trình điều tra. Mặc dù vậy, thực tế cũng có các trường hợp không kết luận được kết quả giám định do nhiều lý do khác nhau như: Các tài liệu, vật chứng, dấu vết, mẫu vật mà cơ quan điều tra cung cấp không đủ cơ sở để kết luận; giám định viên không đủ điều kiện thời gian, phương tiện, cơ sở, kinh phí... để giám định hoặc giám định viên không đủ trình độ, khả năng để kết luận…

Sau khi nhận được kết luận giám định từ người giám định hoặc tổ chức giám định tư pháp, cơ quan điều tra căn cứ vào kết luận đó để thu thập các thông tin phục vụ quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Các thông tin này có thể được phân loại như sau: Thông tin về thủ phạm; thông tin về những người liên quan; thông tin loại trừ đối tượng nghi vấn và những thông tin về diễn biến tội phạm...

Trong tố tụng, kết luận giám định được quy định như một nguồn chứng cứ, có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và tiến trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Vai trò đó thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, việc sử dụng kết luận giám định là yếu tố giúp cho cơ quan điều tra có cơ sở xác định được thủ phạm gây án, công cụ, phương tiện phạm tội cũng như thủ đoạn thực hiện tội phạm... là cơ sở để áp dụng các biện pháp điều tra sát hợp, có hiệu quả.

Thứ hai, kết luận giám định giúp cơ quan điều tra xác định đối tượng tác động của tội phạm và những thiệt hại do tội phạm gây ra trên các phương diện như: Thiệt hại về tài sản, thiệt hại về sức khỏe, tính mạng...

Thứ ba, thông qua kết luận giám định giúp cơ quan điều tra xác định năng lực trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo, người làm chứng...

Thứ tư, kết luận giám định giúp cơ quan điều tra xác định nguyên nhân, điều kiện xảy ra phạm tội để có phương hướng điều tra phù hợp cũng như là cơ sở để đưa ra những biện pháp phòng ngừa tội phạm có hiệu quả...

Đại tá Vũ Quốc Thắng

Bộ Công an

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.

Theo dõi chúng tôi trên: