Thứ sáu 16/01/2026 00:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số ý kiến qua công tác giám định tư pháp của lực lượng công an

Trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, hoạt động giám định tư pháp đóng vai trò quan trọng, cung cấp cho các cơ quan điều tra những chứng cứ mang tính khoa học, góp phần giải quyết vụ án được chính xác, khách quan và đúng pháp luật.

Bài viết đã nêu một số vấn đề rút ra từ thực tiễn công tác giám định tư pháp trong điều tra hình sự, với những nội dung chính như: (i) Những vướng mắc, khó khăn về giám định tư pháp trong quá trình điều tra các vụ án; (ii) Một số đề xuất, kiến nghị và lưu ý trong việc thực hiện giám định tư pháp trong điều tra hình sự.

Trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, hoạt động giám định tư pháp đóng vai trò quan trọng, cung cấp cho các cơ quan điều tra những chứng cứ mang tính khoa học, góp phần giải quyết vụ án được chính xác, khách quan và đúng pháp luật. Bài viết này xin nêu một số vấn đề rút ra từ thực tiễn công tác giám định tư pháp trong điều tra hình sự.

1. Những vướng mắc, khó khăn về giám định tư pháp trong quá trình điều tra các vụ án

Về thời hạn tiến hành giám định, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chưa có quy định cụ thể, nhất là trưng cầu giám định tâm thần, giám định trong các vụ án kinh tế như: Giám định trong lĩnh vực tài chính, thuế, ngân hàng, xây dựng cơ bản, đất đai… nên việc tiến hành giám định rất chậm, kéo dài, không đáp ứng được yêu cầu về thời hạn điều tra, nhiều vụ án phải tạm đình chỉ điều tra chờ kết quả giám định. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016) đã bổ sung, quy định cụ thể hơn về thời hạn giám định (Điều 208) nhằm khắc phục vướng mắc trên. Do vậy, cần quy định thống nhất, chi tiết thời hạn giám định trong Luật Giám định tư pháp năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Về giám định tỷ lệ thương tích, hiện chưa có quy định thống nhất về giám định thương tích nạn nhân qua hồ sơ bệnh án, nên các cơ quan tiến hành tố tụng còn có các quan điểm khác nhau. Một số vụ án, người bị hại bị đối tượng đe doạ, mua chuộc, khống chế hoặc đòi bồi thường, nên đã từ chối giám định xác định tỷ lệ thương tích, vì vậy không có căn cứ xử lý người gây thương tích theo quy định của Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Một số địa phương không giám định được thiệt hại tài sản do hành vi chi sai nguyên tắc quản lý tài chính nhà nước gây ra hoặc nội dung yêu cầu giám định là nghiệp vụ chuyên môn mới phát sinh, phức tạp, khối lượng lớn như giám định cổ phiếu, giám định các giao dịch điện tử...

Các trường hợp trưng cầu giám định về tài chính và trưng cầu định giá tài sản thường bị kéo dài thời gian, có trường hợp Hội đồng giám định được trưng cầu không trực tiếp định giá tài sản mà phải thuê một đơn vị thẩm định giá, dẫn đến kéo dài thời hạn điều tra, phải tạm đình chỉ điều tra vụ án. Một số vụ án kinh tế, cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định, nhưng phải sau một thời gian dài thì cơ quan giám định mới cử được giám định viên thuộc các lĩnh vực như: Giám định thuế, giám định kế toán, tài chính, ngân hàng, giám định công trình xây dựng… Trình độ chuyên môn, kiến thức pháp luật, năng lực, kinh nghiệm của một số cán bộ trong lĩnh vực này còn hạn chế và kiêm nhiệm các công việc khác.

Việc định giá đối với những vụ việc liên quan đến sản xuất, tàng trữ, mua bán hàng cấm không thực hiện được, vì hàng hóa đó thuộc danh mục hàng cấm như ngà voi, sừng tê giác… không được phép mua bán, lưu hành, nhưng cũng đã có nơi cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu định giá đối với loại hàng hóa này.

Quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra với các cơ quan quản lý chuyên ngành các lĩnh vực như tài chính, xây dựng, ngân hàng… nhiều nơi thực hiện chưa tốt, chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm trong quan hệ phối hợp của các cơ quan này. Do đó, việc cử người làm giám định của các cơ quan quản lý chuyên ngành để giám định theo yêu cầu của cơ quan điều tra thường không kịp thời, nhiều vụ kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm.

Nội dung kết luận giám định trong một số trường hợp chưa trả lời đầy đủ các yêu cầu của cơ quan trưng cầu giám định hoặc một số kết luận giám định còn chung chung, không rõ ràng, chỉ có giá trị tham khảo, kết luận không khẳng định, có dấu hiệu né tránh trả lời nội dung yêu cầu giám định của cơ quan điều tra. Thực tế, không ít vụ án có mâu thuẫn trong các kết luận giám định về cùng một vấn đề cần giám định (xung đột kết luận giám định), trong trường hợp này thì sử dụng kết luận giám định nào làm căn cứ xử lý bị can?

Chi phí giám định tư pháp phải trả đối với các vụ án kinh tế, tham nhũng thường rất lớn, nhất là các vụ án trưng cầu giám định về chất lượng công trình xây dựng, cầu, đường. Mặt khác, có trường hợp vật chứng cần giám định là hàng hóa, nhưng do không có kinh phí nên không ký được hợp đồng với các cơ quan khác để giám định, dẫn đến việc hàng hóa bị hư hỏng. Ngoài ra, chưa có hướng dẫn cụ thể các mức chi trả tiền giám định trong các lĩnh vực thiệt hại rừng, tài chính, ngân hàng, thuế…

Thời gian gần đây, cơ quan điều tra đã phát hiện việc “chạy” giám định. Ví dụ: Tháng 6/2015, qua công tác quản lý giam giữ, Công an tỉnh LĐ đã phát hiện, ngăn chặn hành vi “chạy” để được giám định tâm thần theo hướng có lợi đối với bị cáo H, bị Tòa án nhân dân tỉnh LĐ tuyên phạt tử hình về các tội giết người, hiếp dâm, cướp tài sản. Cụ thể là khi kiểm tra đồ tiếp tế do bà ML gửi vào trại tạm giam cho con, thì cán bộ trại đã phát hiện trong ổ bánh mỳ có 3 tờ giấy nhỏ của bà ML ghi nội dung “đến ngày xét xử phúc thẩm thì H giả bị bệnh tâm thần, không nhớ đến những việc đã làm để được hoãn phiên tòa và đề nghị đưa đi giám định ở ĐN”. Trại tạm giam Công an tỉnh LĐ đã lập biên bản thu giữ 3 tờ giấy đó, báo cáo cấp trên có biện pháp cần thiết, làm việc với tổ chức giám định để trao đổi thông tin và đã ngăn chặn việc “chạy” giám định để được thoát án tử hình.

2. Một số đề xuất, kiến nghị

Trên cơ sở những vướng mắc, khó khăn nảy sinh từ thực tiễn công tác giám định tư pháp trong các lĩnh vực của lực lượng công an thời gian qua, tác giả xin có một số đề xuất, kiến nghị cụ thể như sau:

- Các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp cần tiếp tục tăng cường tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các quy định về giám định tư pháp nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ tiến hành tố tụng, người giám định, nhất là về vai trò, trách nhiệm, nội dung quản lý nhà nước về giám định tư pháp của cơ quan mình.

- Xây dựng nghị định quy định chi tiết Luật Giám định tư pháp năm 2012 về lĩnh vực giám định tài chính, ngân hàng, chất lượng công trình… gồm các nội dung chính như: Thời hạn tiến hành giám định nhằm phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; trách nhiệm của cơ quan giám định, trách nhiệm của giám định viên đối với các kết luận giám định của mình; những loại việc không nhất thiết phải giám định nhằm tránh việc lạm dụng giám định, sử dụng kết quả giám định thay cho hoạt động điều tra.

- Kiện toàn các cơ quan giám định tư pháp trong các lĩnh vực tài chính, xây dựng, ngân hàng… để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phòng, chống tội phạm. Mở rộng các Văn phòng giám định tư pháp công lập, hạn chế giám định tư pháp chuyên ngành. Tăng cường biên chế và có chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho giám định viên chuyên trách trong lĩnh vực giám định pháp y, tài chính, kế toán, ngân hàng, xây dựng, thuế... Các Bộ, ngành sớm xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn giám định theo đúng như phân công trong Quyết định số 1549/QĐ-TTg ngày 16/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật Giám định tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu giám định tư pháp hiện nay.

- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại để đáp ứng yêu cầu công tác giám định trong tình hình hiện nay, nhất là các cơ quan giám định công an cấp tỉnh.

- Tách kinh phí phục vụ công tác giám định tư pháp trong điều tra vụ án hình sự thành một mục chi ngân sách độc lập (không lấy từ kinh phí điều tra); quy định cụ thể và phù hợp mức phí trả tiền giám định trong các lĩnh vực giám định thiệt hại về rừng, tài chính, ngân hàng, thuế, xây dựng, cầu, đường…; mức chi phí giám định cần đuợc điều chỉnh cho phù hợp với sự biến động của giá cả thị trường. Đề nghị Bộ Tài chính cần sớm có hướng dẫn về căn cứ, thủ tục lập dự toán, cấp phát, quản lý, sử dụng kinh phí chi trả tiền bồi dưỡng giám định tư pháp, trình tự, thủ tục, hồ sơ thanh toán chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp.

- Xây dựng quy chế phối hợp về hoạt động giám định tư pháp để giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn (như: Giám định tỷ lệ thương tích trong trường hợp người bị hại từ chối giám định; giải quyết những vướng mắc về giám định tài chính, ngân hàng, xây dựng…) để công tác giám định tư pháp được tiến hành nhanh chóng, có chất lượng, bảo đảm yêu cầu điều tra, xử lý vụ án khách quan, chính xác.

3. Một số lưu ý trong thực hiện giám định tư pháp

3.1. Căn cứ trưng cầu giám định tư pháp

Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định về những trường hợp bắt buộc phải giám định hoặc khi xét thấy cần thiết thì cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định, theo đó:

- Các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định:

+ Nguyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động;

+ Tình trạng tâm thần của bị can, bị cáo trong trường hợp có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ;

+ Tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc người bị hại trong trường hợp có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn đối với những tình tiết của vụ án;

+ Tuổi của bị can, bị cáo, người bị hại, nếu việc đó có ý nghĩa đối với vụ án và không có tài liệu nào khẳng định tuổi của họ hoặc có sự nghi ngờ về tính chính xác của các tài liệu đó;

+ Chất độc, chất ma túy, chất phóng xạ, tiền giả.

- Các trường hợp xét thấy cần thiết phải tiến hành trưng cầu giám định:

+ Khi cần làm rõ những công cụ, phương tiện nào đó gây ra những dấu vết, thương tích trên thân thể người bị hại; làm rõ những dấu vết vân tay, dấu vết chân, giày, dép... tại hiện trường;

+ Khi cần làm rõ ai là người viết, ký, hình dấu thật hay giả, phương tiện in ấn, đánh máy ra tài liệu có liên quan đến vụ án;

+ Khi cần làm rõ hàng hóa thu được trong quá trình điều tra vụ án có phải là thật hay giả;

+ Giám định dấu vết sinh vật thu được tại hiện trường hoặc trên thân thể người bị hại;

+ Giám định để định giá tài sản;

+ Xác định nguyên nhân gây cháy nổ.

3.2. Cách thức trưng cầu giám định tư pháp

Sau khi đã xác định được những vấn đề cần yêu cầu trưng cầu giám định, cơ quan điều tra cần phải xác định và làm rõ khả năng tiến hành giám định gồm:

- Các vấn đề phải giám định;

- Các dạng giám định sẽ tiến hành trưng cầu; dạng giám định đó có khả năng giải quyết được vấn đề mà hoạt động điều tra đặt ra yêu cầu hay không;

- Cơ quan giám định hay người giám định có khả năng giám định hay không;

- Các tài liệu, mẫu vật thu được có đủ yếu tố để giám định hay không; các tài liệu, mẫu vật gửi đi giám định bao gồm các mẫu vật có liên quan đến vụ án và các mẫu vật so sánh. Các mẫu vật này cần thỏa mãn các yêu cầu như mang tính phản ánh, tính so sánh, tính ổn định tương đối và tính xác thực của nguồn gốc mẫu vật.

Sau khi chuẩn bị xong các điều kiện cần thiết để yêu cầu trưng cầu giám định, điều tra viên đề nghị thủ trưởng cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định với các nội dung được quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Cơ quan tiến hành giám định có trách nhiệm tiến hành các giám định theo quyết định trưng cầu giám định của cơ quan điều tra. Đồng thời, cơ quan điều tra cần theo dõi và giữ mối liên hệ với cơ quan giám định nhằm đáp ứng kịp thời, đầy đủ các yêu cầu cần thiết cho quá trình giám định. Trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của giám định viên, cơ quan điều tra và điều tra viên có thể tạo điều kiện cho giám định viên tiến hành các hoạt động có liên quan đến hoạt động điều tra vụ án như tham gia hỏi cung, nghiên cứu hiện trường... theo quy định để phục vụ quá trình giám định. Trên thực tế, tùy thuộc vào yêu cầu của quá trình điều tra vụ án mà cơ quan điều tra có thể tiến hành ra các quyết định trưng cầu giám định lần đầu; quyết định trưng cầu giám định lại; trưng cầu giám định bổ sung; trưng cầu cá nhân giám định; trưng cầu tập thể giám định và trưng cầu giám định tổ hợp để có thể có được những kết luận giám định chính xác, khách quan nhất.

3.3. Việc đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp

Kết luận giám định tư pháp được pháp luật quy định là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án. Kết luận giám định là văn bản do cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giám định lập để kết luận chuyên môn về những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định.

Kết luận giám định tư pháp phải có các nội dung sau đây: Họ, tên người thực hiện giám định; tổ chức thực hiện giám định; tên cơ quan tiến hành tố tụng; họ, tên người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định; số văn bản trưng cầu giám định hoặc họ, tên người yêu cầu giám định; thông tin xác định đối tượng giám định; thời gian nhận văn bản trưng cầu, yêu cầu giám định; nội dung yêu cầu giám định; phương pháp thực hiện giám định; kết luận về đối tượng giám định; thời gian, địa điểm thực hiện, hoàn thành việc giám định.

Kết luận giám định đúng đắn giúp cho việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án được chính xác, khách quan, đúng pháp luật, góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh với các loại tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Kết luận giám định là văn bản có giá trị pháp lý, trình bày quá trình giám định và kết quả nghiên cứu, câu trả lời của cơ quan giám định đối với các câu hỏi mà cơ quan trưng cầu, yêu cầu giám định đưa ra. Tuy nhiên, không phải lúc nào kết luận giám định cũng là kết luận khẳng định, có hai loại kết luận giám định gồm:

- Kết luận khẳng định: Là kết luận dứt khoát, đúng hay không đúng, đồng nhất hay không đồng nhất về vấn đề cần giám định, kết luận này có giá trị chứng minh; được công nhận như một nguồn chứng cứ.

- Kết luận khả năng: Là kết luận mà trong một số trường hợp người giám định không có khả năng đưa ra kết luận dứt khoát đối với vấn đề cần giám định, mà chỉ đưa ra được kết luận có xu hướng dự báo xác định một người, một vật hoặc một sự việc nào đó. Thông thường, những kết luận mang tính khả năng được đưa ra trong các trường hợp các dấu vết, tài liệu, mẫu giám định gửi đi biểu hiện không rõ nét; những biện pháp nghiên cứu, giám định đã lỗi thời; số lượng mẫu vật, tài liệu gửi đến để giám định thiếu, không bảo đảm chất lượng... do đó, người giám định không thể đưa ra được kết luận khẳng định mà chỉ đưa ra được kết luận mang tính khả năng. Kết luận giám định mang tính khả năng không có ý nghĩa như một nguồn chứng cứ vì chỉ chứa đựng những thông tin mang tính dự báo về đối tượng giám định. Tuy nhiên, có thể căn cứ vào đó để đưa ra những giả thuyết điều tra về đối tượng, công cụ, phương tiện, diễn biến của hành vi phạm tội, phục vụ quá trình điều tra. Mặc dù vậy, thực tế cũng có các trường hợp không kết luận được kết quả giám định do nhiều lý do khác nhau như: Các tài liệu, vật chứng, dấu vết, mẫu vật mà cơ quan điều tra cung cấp không đủ cơ sở để kết luận; giám định viên không đủ điều kiện thời gian, phương tiện, cơ sở, kinh phí... để giám định hoặc giám định viên không đủ trình độ, khả năng để kết luận…

Sau khi nhận được kết luận giám định từ người giám định hoặc tổ chức giám định tư pháp, cơ quan điều tra căn cứ vào kết luận đó để thu thập các thông tin phục vụ quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Các thông tin này có thể được phân loại như sau: Thông tin về thủ phạm; thông tin về những người liên quan; thông tin loại trừ đối tượng nghi vấn và những thông tin về diễn biến tội phạm...

Trong tố tụng, kết luận giám định được quy định như một nguồn chứng cứ, có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và tiến trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Vai trò đó thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, việc sử dụng kết luận giám định là yếu tố giúp cho cơ quan điều tra có cơ sở xác định được thủ phạm gây án, công cụ, phương tiện phạm tội cũng như thủ đoạn thực hiện tội phạm... là cơ sở để áp dụng các biện pháp điều tra sát hợp, có hiệu quả.

Thứ hai, kết luận giám định giúp cơ quan điều tra xác định đối tượng tác động của tội phạm và những thiệt hại do tội phạm gây ra trên các phương diện như: Thiệt hại về tài sản, thiệt hại về sức khỏe, tính mạng...

Thứ ba, thông qua kết luận giám định giúp cơ quan điều tra xác định năng lực trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo, người làm chứng...

Thứ tư, kết luận giám định giúp cơ quan điều tra xác định nguyên nhân, điều kiện xảy ra phạm tội để có phương hướng điều tra phù hợp cũng như là cơ sở để đưa ra những biện pháp phòng ngừa tội phạm có hiệu quả...

Đại tá Vũ Quốc Thắng

Bộ Công an

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: