Thứ ba 26/05/2026 14:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số ý kiến về nhận cha, mẹ, con khi trẻ em đang là con nuôi

Nuôi con nuôi là vấn đề rất nhân đạo, một mặt được điều chỉnh bởi quy chuẩn đạo đức xã hội, mặt khác lại được xác lập trên cơ sở quy định pháp luật. Luật Nuôi con nuôi quy định mục đích cơ bản của việc nuôi con nuôi là nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì mục đích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi. Quy định này đã góp phần quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em được nhận làm con nuôi.


Vấn đề nhận cha, mẹ, con trong trường hợp trẻ em đang là con nuôi được coi là đã và đang phát sinh trong thực tiễn, nhưng trong Luật Nuôi con nuôi chưa có quy định cụ thể để điều chỉnh, do đó, trong quá trình nghiên cứu, xem xét vận dụng các quy định pháp luật về nuôi con nuôi, pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình và hộ tịch để hướng dẫn địa phương giải quyết thấu đáo nhưng phải phù hợp với nguyên tắc, mục đích của việc nuôi con nuôi, tránh tình trạng tùy tiện ảnh hưởng đến quan hệ nuôi con nuôi, xáo trộn cuộc sống, tinh thần của cha mẹ nuôi và con nuôi.

1. Việc nhận cha, mẹ, con khi trẻ em đang là con nuôi

Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nuôi con nuôi, Cục Con nuôi đã tiến hành công tác kiểm tra đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước, đồng thời hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết nuôi con nuôi cho địa phương, trả lời đơn thư của công dân liên quan đến những vấn đề phát sinh trong quá trình giải quyết nuôi con nuôi trong trường hợp đã nhận con nuôi và đang tiến hành làm thủ tục xin nhận con nuôi. Trong đó có trường hợp: Yêu cầu xác nhận cha, mẹ và con khi trẻ em đang là con nuôi của ông Đỗ Văn A và bà Nguyễn Thị B đối với trẻ em Đặng Đỗ Văn C là trẻ em bị bỏ rơi từ năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã Mai Đình, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã được ông Đặng Đình D và bà Đỗ Thị E là người phát hiện trẻ em bị bỏ rơi nhận trẻ em làm con nuôi. Ông Đỗ Văn A và bà Nguyễn Thị B đã cung cấp giấy chứng sinh và kết quả giám định ADN để chứng minh họ là cha, mẹ đẻ của cháu Đặng Đỗ Văn C.

Về vấn đề này, trong quá trình xem xét giải quyết cũng đã có tham vấn ý kiến của các cơ quan chuyên môn có liên quan về hướng giải quyết và đã thu nhận được nhiều ý kiến khác nhau, tựu trung lại có thể phân thành hai nhóm ý kiến như sau:

- Nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng, theo quy định tại Điều 25, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015, cha mẹ đẻ của trẻ em có quyền nhận cha, mẹ, con vì đây là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân. Việc xác định cha, mẹ, con này không làm chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi mà chỉ đơn thuần là ghi nhận quyền đương nhiên của cha mẹ đẻ với đứa con mà họ sinh ra và ngược lại. Sự kiện pháp lý này làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ đẻ và con.

- Nhóm ý kiến thứ hai cho rằng, Điều 24 Luật Nuôi con nuôi quy định: Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ và con theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Mặt khác, khoản 3 Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ đẻ và con đẻ được khôi phục kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt”. Như vậy, không thể tồn tại cùng lúc quyền, nghĩa vụ giữa cha, mẹ đẻ với con đẻ và quyền, nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi bởi vì quan hệ này được xác lập thì quan hệ kia sẽ mất đi và ngược lại. Chính vì vậy mà không thể cho nhận cha, mẹ, con khi trẻ em đang là con nuôi.

Theo quan điểm của tác giả thì mặc dù quyền nhận cha, mẹ, con là quyền nhân thân của mỗi cá nhân và pháp luật dân sự cũng như pháp luật hộ tịch đã quy định đầy đủ về quyền nhận cha, mẹ, con nhưng những quy định này là nhằm vào các trường hợp người cha, mẹ chưa được công nhận là cha, mẹ hợp pháp của trẻ em, ví dụ như trường hợp trẻ em là con ngoài giá thú. Đối với trường hợp trẻ em đang là con nuôi có nghĩa là trẻ em đang ở trong mối quan hệ hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Do đó, nếu cho phép cha, mẹ đẻ nhận con sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ đẻ và con trong khi mối quan hệ nuôi con nuôi vẫn đang tồn tại sẽ dẫn đến tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đẻ và cha, mẹ nuôi với trẻ em.

Mặc dù việc nhận cha, mẹ, con khi trẻ em đang là con nuôi không phải là căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định tại Điều 25 Luật Nuôi con nuôi, nhưng việc này không phù hợp xét trên những khía cạnh sau:

Thứ nhất, căn cứ vào các quy định của pháp luật về dân sự, hôn nhân và gia đình và nuôi con nuôi: Khoản 3 Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định quyền, nghĩa vụ giữa cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ được khôi phục kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt. Đồng thời, theo khoản 3 Điều 27 Luật Nuôi con nuôi, trường hợp con nuôi được giao cho cha mẹ đẻ khi quan hệ nuôi con nuôi bị chấm dứt thì các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đã chấm dứt theo quy định tại khoản 4 Điều 24 của Luật này được khôi phục. Mặt khác, điểm c khoản 1 Điều 27 và điểm b khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ cho phép con nuôi lấy lại tên, họ mà cha mẹ đẻ đã đặt sau khi việc nuôi con nuôi bị chấm dứt. Như vậy, mọi sự thay đổi liên quan đến cha, mẹ đẻ của trẻ em đã được cho làm con nuôi chỉ có thể được thực hiện sau khi việc nuôi con nuôi đã bị chấm dứt.

Thứ hai, về thực tiễn, việc nhận cha, mẹ, con khi trẻ em đang là con nuôi sẽ dẫn đến những hệ lụy trong quan hệ nuôi con nuôi như: Gây xáo trộn cuộc sống của con nuôi và cha mẹ nuôi, ảnh hưởng đến tinh thần, sự phát triển của con nuôi, tạo tâm lý bất an cho cha mẹ nuôi. Mặt khác, việc giải quyết cho nhận cha, mẹ, con khi trẻ em đang là con nuôi sẽ tạo tiền lệ cho các trường hợp khác, dễ dẫn đến việc cha, mẹ đẻ đòi lại con đã được cho làm con nuôi và như vậy sẽ không bảo đảm được sự bền vững của quan hệ nuôi con nuôi, trái với nguyên tắc, mục đích của việc cho, nhận con nuôi đã được pháp luật quy định là nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì mục đích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi.

Thứ ba, về kinh nghiệm quốc tế, pháp luật của một số bang ở Hoa Kỳ (Chicago, Illinois) quy định cha mẹ đẻ có thời hạn 60 ngày, kể từ ngày từ bỏ con, để kiến nghị về quyền nhận lại con. Nếu hết thời hạn nêu trên mà cha mẹ đẻ không có ý kiến gì thì cơ quan có thẩm quyền bắt đầu các thủ tục để chấm dứt quyền cha mẹ và ra quyết định cho trẻ em làm con nuôi. Khi quyết định về nuôi con nuôi có hiệu lực, mọi quyền của cha mẹ đẻ đã từ bỏ con bị chấm dứt. Pháp luật của Cộng hòa Pháp cũng quy định, đối với trẻ em khi sinh ra không xác lập quan hệ huyết thống, ví dụ như sinh con bí mật, cha mẹ đẻ có thời hạn 02 tháng để nhận con. Nếu như trẻ em đã được giải quyết cho làm con nuôi thì mọi yêu cầu xác định cha, mẹ, con đều không được chấp nhận.

Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng, cần phải bảo vệ quan hệ nuôi con nuôi bình đẳng như quan hệ huyết thống; cha, mẹ đẻ chỉ được đăng ký nhận cha, mẹ, con đối với trẻ em đã được giải quyết cho làm con nuôi khi việc nuôi con nuôi đã được chấm dứt theo quy định của pháp luật.

2. Một số kiến nghị

Xuất phát từ những yêu cầu khách quan của thực tiễn công tác quản lý nhà nước về nuôi con nuôi cũng như công tác giải quyết việc nuôi con nuôi trong nước tại các địa phương trong phạm vi toàn quốc, việc xem xét, hướng dẫn, trả lời đơn thư yêu cầu của công dân về giải quyết việc nuôi con nuôi cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ, thông suốt các quy định pháp luật về nuôi con nuôi cũng như các quy định pháp luật khác có liên quan để có hướng giải quyết theo đúng tinh thần quy định của pháp luật về nuôi con nuôi. Đối với những hành vi mới phát sinh trong thực tiễn mà Luật Nuôi con nuôi chưa có quy định cụ thể để điều chỉnh thì cần vận dụng các quy định pháp luật có liên quan để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho địa phương cũng như công dân. Tác giả cho rằng đây chỉ là giải pháp tình thế, về lâu dài, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về nuôi con nuôi, nâng cao chất lượng giải quyết các vụ việc nuôi con nuôi trong nước thì vấn đề đặt ra hiện nay là cần sớm tiến hành rà soát, kiểm tra, đánh giá và tổng kết thực tiễn để xem có nhiều hành vi mới phát sinh liên quan đến quan hệ nuôi con nuôi trong thời gian qua không, những hành vi nào cần thiết phải được Luật điều chỉnh để có hướng đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Nuôi con nuôi trong thời gian tới. Nhất là vấn đề yêu cầu xác nhận cha, mẹ, con khi trẻ em đang là con nuôi cần sớm được quan tâm đưa vào quy định cụ thể một điều riêng nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đời sống pháp lý đòi hỏi và nhằm bảo vệ tốt nhất quyền của trẻ em được nhận làm con nuôi.

Bùi Thị Thu Hằng

Cục Con nuôi, Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: