Thứ ba 22/09/2026 04:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số ý kiến về nhận cha, mẹ, con khi trẻ em đang là con nuôi

Nuôi con nuôi là vấn đề rất nhân đạo, một mặt được điều chỉnh bởi quy chuẩn đạo đức xã hội, mặt khác lại được xác lập trên cơ sở quy định pháp luật. Luật Nuôi con nuôi quy định mục đích cơ bản của việc nuôi con nuôi là nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì mục đích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi. Quy định này đã góp phần quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em được nhận làm con nuôi.


Vấn đề nhận cha, mẹ, con trong trường hợp trẻ em đang là con nuôi được coi là đã và đang phát sinh trong thực tiễn, nhưng trong Luật Nuôi con nuôi chưa có quy định cụ thể để điều chỉnh, do đó, trong quá trình nghiên cứu, xem xét vận dụng các quy định pháp luật về nuôi con nuôi, pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình và hộ tịch để hướng dẫn địa phương giải quyết thấu đáo nhưng phải phù hợp với nguyên tắc, mục đích của việc nuôi con nuôi, tránh tình trạng tùy tiện ảnh hưởng đến quan hệ nuôi con nuôi, xáo trộn cuộc sống, tinh thần của cha mẹ nuôi và con nuôi.

1. Việc nhận cha, mẹ, con khi trẻ em đang là con nuôi

Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nuôi con nuôi, Cục Con nuôi đã tiến hành công tác kiểm tra đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước, đồng thời hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết nuôi con nuôi cho địa phương, trả lời đơn thư của công dân liên quan đến những vấn đề phát sinh trong quá trình giải quyết nuôi con nuôi trong trường hợp đã nhận con nuôi và đang tiến hành làm thủ tục xin nhận con nuôi. Trong đó có trường hợp: Yêu cầu xác nhận cha, mẹ và con khi trẻ em đang là con nuôi của ông Đỗ Văn A và bà Nguyễn Thị B đối với trẻ em Đặng Đỗ Văn C là trẻ em bị bỏ rơi từ năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã Mai Đình, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã được ông Đặng Đình D và bà Đỗ Thị E là người phát hiện trẻ em bị bỏ rơi nhận trẻ em làm con nuôi. Ông Đỗ Văn A và bà Nguyễn Thị B đã cung cấp giấy chứng sinh và kết quả giám định ADN để chứng minh họ là cha, mẹ đẻ của cháu Đặng Đỗ Văn C.

Về vấn đề này, trong quá trình xem xét giải quyết cũng đã có tham vấn ý kiến của các cơ quan chuyên môn có liên quan về hướng giải quyết và đã thu nhận được nhiều ý kiến khác nhau, tựu trung lại có thể phân thành hai nhóm ý kiến như sau:

- Nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng, theo quy định tại Điều 25, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015, cha mẹ đẻ của trẻ em có quyền nhận cha, mẹ, con vì đây là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân. Việc xác định cha, mẹ, con này không làm chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi mà chỉ đơn thuần là ghi nhận quyền đương nhiên của cha mẹ đẻ với đứa con mà họ sinh ra và ngược lại. Sự kiện pháp lý này làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ đẻ và con.

- Nhóm ý kiến thứ hai cho rằng, Điều 24 Luật Nuôi con nuôi quy định: Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ và con theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Mặt khác, khoản 3 Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ đẻ và con đẻ được khôi phục kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt”. Như vậy, không thể tồn tại cùng lúc quyền, nghĩa vụ giữa cha, mẹ đẻ với con đẻ và quyền, nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi bởi vì quan hệ này được xác lập thì quan hệ kia sẽ mất đi và ngược lại. Chính vì vậy mà không thể cho nhận cha, mẹ, con khi trẻ em đang là con nuôi.

Theo quan điểm của tác giả thì mặc dù quyền nhận cha, mẹ, con là quyền nhân thân của mỗi cá nhân và pháp luật dân sự cũng như pháp luật hộ tịch đã quy định đầy đủ về quyền nhận cha, mẹ, con nhưng những quy định này là nhằm vào các trường hợp người cha, mẹ chưa được công nhận là cha, mẹ hợp pháp của trẻ em, ví dụ như trường hợp trẻ em là con ngoài giá thú. Đối với trường hợp trẻ em đang là con nuôi có nghĩa là trẻ em đang ở trong mối quan hệ hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Do đó, nếu cho phép cha, mẹ đẻ nhận con sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ đẻ và con trong khi mối quan hệ nuôi con nuôi vẫn đang tồn tại sẽ dẫn đến tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đẻ và cha, mẹ nuôi với trẻ em.

Mặc dù việc nhận cha, mẹ, con khi trẻ em đang là con nuôi không phải là căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định tại Điều 25 Luật Nuôi con nuôi, nhưng việc này không phù hợp xét trên những khía cạnh sau:

Thứ nhất, căn cứ vào các quy định của pháp luật về dân sự, hôn nhân và gia đình và nuôi con nuôi: Khoản 3 Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định quyền, nghĩa vụ giữa cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ được khôi phục kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt. Đồng thời, theo khoản 3 Điều 27 Luật Nuôi con nuôi, trường hợp con nuôi được giao cho cha mẹ đẻ khi quan hệ nuôi con nuôi bị chấm dứt thì các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đã chấm dứt theo quy định tại khoản 4 Điều 24 của Luật này được khôi phục. Mặt khác, điểm c khoản 1 Điều 27 và điểm b khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ cho phép con nuôi lấy lại tên, họ mà cha mẹ đẻ đã đặt sau khi việc nuôi con nuôi bị chấm dứt. Như vậy, mọi sự thay đổi liên quan đến cha, mẹ đẻ của trẻ em đã được cho làm con nuôi chỉ có thể được thực hiện sau khi việc nuôi con nuôi đã bị chấm dứt.

Thứ hai, về thực tiễn, việc nhận cha, mẹ, con khi trẻ em đang là con nuôi sẽ dẫn đến những hệ lụy trong quan hệ nuôi con nuôi như: Gây xáo trộn cuộc sống của con nuôi và cha mẹ nuôi, ảnh hưởng đến tinh thần, sự phát triển của con nuôi, tạo tâm lý bất an cho cha mẹ nuôi. Mặt khác, việc giải quyết cho nhận cha, mẹ, con khi trẻ em đang là con nuôi sẽ tạo tiền lệ cho các trường hợp khác, dễ dẫn đến việc cha, mẹ đẻ đòi lại con đã được cho làm con nuôi và như vậy sẽ không bảo đảm được sự bền vững của quan hệ nuôi con nuôi, trái với nguyên tắc, mục đích của việc cho, nhận con nuôi đã được pháp luật quy định là nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì mục đích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi.

Thứ ba, về kinh nghiệm quốc tế, pháp luật của một số bang ở Hoa Kỳ (Chicago, Illinois) quy định cha mẹ đẻ có thời hạn 60 ngày, kể từ ngày từ bỏ con, để kiến nghị về quyền nhận lại con. Nếu hết thời hạn nêu trên mà cha mẹ đẻ không có ý kiến gì thì cơ quan có thẩm quyền bắt đầu các thủ tục để chấm dứt quyền cha mẹ và ra quyết định cho trẻ em làm con nuôi. Khi quyết định về nuôi con nuôi có hiệu lực, mọi quyền của cha mẹ đẻ đã từ bỏ con bị chấm dứt. Pháp luật của Cộng hòa Pháp cũng quy định, đối với trẻ em khi sinh ra không xác lập quan hệ huyết thống, ví dụ như sinh con bí mật, cha mẹ đẻ có thời hạn 02 tháng để nhận con. Nếu như trẻ em đã được giải quyết cho làm con nuôi thì mọi yêu cầu xác định cha, mẹ, con đều không được chấp nhận.

Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng, cần phải bảo vệ quan hệ nuôi con nuôi bình đẳng như quan hệ huyết thống; cha, mẹ đẻ chỉ được đăng ký nhận cha, mẹ, con đối với trẻ em đã được giải quyết cho làm con nuôi khi việc nuôi con nuôi đã được chấm dứt theo quy định của pháp luật.

2. Một số kiến nghị

Xuất phát từ những yêu cầu khách quan của thực tiễn công tác quản lý nhà nước về nuôi con nuôi cũng như công tác giải quyết việc nuôi con nuôi trong nước tại các địa phương trong phạm vi toàn quốc, việc xem xét, hướng dẫn, trả lời đơn thư yêu cầu của công dân về giải quyết việc nuôi con nuôi cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ, thông suốt các quy định pháp luật về nuôi con nuôi cũng như các quy định pháp luật khác có liên quan để có hướng giải quyết theo đúng tinh thần quy định của pháp luật về nuôi con nuôi. Đối với những hành vi mới phát sinh trong thực tiễn mà Luật Nuôi con nuôi chưa có quy định cụ thể để điều chỉnh thì cần vận dụng các quy định pháp luật có liên quan để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho địa phương cũng như công dân. Tác giả cho rằng đây chỉ là giải pháp tình thế, về lâu dài, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về nuôi con nuôi, nâng cao chất lượng giải quyết các vụ việc nuôi con nuôi trong nước thì vấn đề đặt ra hiện nay là cần sớm tiến hành rà soát, kiểm tra, đánh giá và tổng kết thực tiễn để xem có nhiều hành vi mới phát sinh liên quan đến quan hệ nuôi con nuôi trong thời gian qua không, những hành vi nào cần thiết phải được Luật điều chỉnh để có hướng đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Nuôi con nuôi trong thời gian tới. Nhất là vấn đề yêu cầu xác nhận cha, mẹ, con khi trẻ em đang là con nuôi cần sớm được quan tâm đưa vào quy định cụ thể một điều riêng nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đời sống pháp lý đòi hỏi và nhằm bảo vệ tốt nhất quyền của trẻ em được nhận làm con nuôi.

Bùi Thị Thu Hằng

Cục Con nuôi, Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: