Chủ nhật 31/05/2026 19:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một việc thi hành án nhưng hai cơ quan tổ chức thi hành

Công tác thi hành án dân sự có thể được coi là một giai đoạn tố tụng đặc biệt, giai đoạn cuối của quá trình tố tụng. Để đảm bảo nguyên tắc Hiến định, tất cả các bản án, quyết định của Toà án phải được thực thi trên thực tế, tại Điều 136 Hiến pháp năm 1992 qui định

Công tác thi hành án dân sự có thể được coi là một giai đoạn tố tụng đặc biệt, giai đoạn cuối của quá trình tố tụng. Để đảm bảo nguyên tắc Hiến định, tất cả các bản án, quyết định của Toà án phải được thực thi trên thực tế, tại Điều 136 Hiến pháp năm 1992 qui định: “Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.

Để bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phát sinh hiệu lực trên thực tế, hoạt động thi hành án dân sự thực sự đem lại hiệu quả, phải có sự chấp hành, phối hợp thực hiện của nhiều chủ thể, đặc biệt là chủ thể tiến hành tố tụng. Tuy nhiên trên thực tế, công tác thi hành án cho thấy việc phối hợp thực hiện giữa các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn những hạn chế, bất cập, có nhiều bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, đến giai đoạn thi hành án thì rất khó hoặc không thể thực hiện được, vụ việc dưới đây là một trong số việc thi hành án có nguyên nhân từ hoạt động của các cơ quan ở giai đoạn đầu của quá trình tố tố tụng.

Bản án số 25/2011/HSST ngày 27/01/2011 của Toà án nhân dân huyện Y tỉnh S xét xử đối với Ngô Sỹ T - trú quán tại địa bàn thành phố P tỉnh Đ với tội danh “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” Toà án áp dụng hình phạt chính đối với Ngô Sĩ T là hình phạt tiền, ngoài ra bị cáo còn phải chịu 200.000 đồng án phí theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/3/2011 Chánh án Toà án nhân dân thành phố P tỉnh Đ (là cơ quan nhận uỷ thác Bản án số 25/2011/HSST của Toà án huyện Y, tỉnh S) căn cứ vào các Điều 255, 256, 257, 267 Bộ luật Tố tụng hình sự ra Quyết định số 01/2011/THA.

Nội dung Quyết định:

1.“Thi hành án hình phạt tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2011/HSST ngày 27/01/2011 của Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh S đối với Ngô Sĩ T - trú quán tại địa bàn thành phố P tỉnh Đ.

2. Cơ quan thi hành án và người bị kết án chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

3. Cơ quan thi hành án phải báo cho Chánh án Toà án đã ra Quyết định thi hành án về việc bản án đã được thi hành; nếu chưa thi hành được thì phải nêu rõ lý do”.

Ngày 24/3/2011, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P nhận được Quyết định số 01/2011/THA ngày 21/3/2011 của Toà án nhân dân thành phố P chuyển đến, ngày 25/03/2011 Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P ra quyết định chủ động thi hành án cho thi hành khoản tiền phạt 10.000.000 đồng đối với Ngô Sĩ T và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành.

Trong quá trình đôn đốc thi hành án, người phải thi hành án trình bày: Sau khi Toà án huyện Y xét xử, người phải thi hành án đã nộp ngay số tiền phải thi hành theo quyết định của bản án tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y và có xuất trình biên lai kèm theo.

Ngày 03/01/2012, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P đã có Công văn gửi Toà án và Viện kiểm sát nhân dân thành phố P về việc xem xét lại bản án và quyết định phạt tiền nêu trên, vì người phải thi hành án đã thi hành xong phần tiền phạt 10.000.000 đồng. (Đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y).

Ngày 10/01/2012, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P nhận được Công văn trả lời với nội dung: Ngày 04/3/2011, Toà án nhân dân thành phố P tỉnh Đ nhận được Quyết định uỷ thác thi hành án hình sự số 06/2011/QĐ-CA ngày 28/02/2011 của Toà án nhân dân huyện Y về việc uỷ thác ra quyết định thi hành án phạt tiền 10.000.000 đồng theo Bản án số 25 ngày 27/01/2011 đối với Ngô Sĩ T - trú quán tại địa bàn thành phố P, tỉnh Đ.

Ngày 21/3/2011, Toà án nhân dân thành phố P ra Quyết định thi hành án số 01/2011/THA thi hành khoản tiền phạt 10.000.000 đồng đối với Ngô Sĩ T (có địa chỉ nêu trên).

Ngày 19/4/2011, Toà án nhân dân thành phố P mới nhận được phiếu xác nhận kết quả thi hành án của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y xác nhận người phải thi án đã thi hành xong các khoản nghĩa vụ thi hành án theo bản án do Toà án huyện Y tỉnh S gửi đến.

Nay Toà án nhân dân thành phố P chuyển lại phiếu xác nhận kết quả thi hành án đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P để giải quyết theo luật định.

Ngày 13/01/2012, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P đã tổ chức cuộc họp với thành phần tham gia gồm đại diện cơ quan Thi hành án dân sự, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P để xem xét giải quyết vụ việc trên.

Quan điểm của Chi cục Thi hành án thành phố P: Cơ quan thi hành án dân sự đã ban hành quyết định thi hành án và tổ chức thi hành quyết định của Toà án hoàn toàn đúng qui định của pháp luật, tuy nhiên, người phải thi hành án đã thi hành xong khoản tiền phạt 10.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y, do vậy, chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P không thể tiếp tục tổ chức thi hành.

Quan điểm của Toà án nhân dân thành phố P: Toà án đã ban hành quyết định hoàn toàn đúng trình tự, thủ tục luật định và Toà không thể ban hành bất cứ văn bản nào khác.

Đối chiếu với các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự cũng không có căn cứ để thu hồi hay đình chỉ việc thi hành án đã nêu. Trách nhiệm thuộc về Toà án huyện Y nơi xét xử ban đầu, do sai sót đã chuyển giao bản án cho cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp để thi hành (cơ quan thi hành án dân sự huyện Y), tuy vậy, Toà án huyện Y vẫn tiếp tục uỷ thác ra quyết định thi hành án phạt tiền cho Toà án nhân dân thành phố P, dẫn tới việc có sự chồng chéo, cùng thời điểm, một nội dung quyết định của bản án, 2 cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành, đặc biệt nghĩa vụ của người phải thi hành án theo bản án đã được thực hiện xong. Tuy nhiên, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P vẫn đang thụ lý giải quyết. Để giải quyết việc thi hành án trên, rất cần sự phối hợp có trách nhiệm của các cơ quan giai đoạn tiến hành tố tụng, không để tình trạng tồn tại bất cập như đã nêu.

D.B

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: