1. Phạm vi giám sát của Hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề do luật định, là cầu nối quan trọng có tính chất quyết định đối với việc đưa chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến với người dân và giám sát đối với việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của Hội đồng nhân dân trong phạm vi địa giới hành chính (khoản 2 Điều 113 Hiến pháp năm 2013).
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 được Quốc hội ban hành nhằm hoàn thiện quy trình hoạt động giám sát; tăng cường chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; bảo đảm sự thống nhất, khoa học trong xác định chủ thể giám sát; xác định đối tượng, phạm vi, mục đích, thẩm quyền, trình tự giám sát của từng chủ thể hoạt động giám sát; bảo đảm quyền, trách nhiệm của chủ thể giám sát và đối tượng chịu sự giám sát; phát huy vai trò của giám sát, góp phần nâng cao, chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Theo khoản 1 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 thì giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Ở vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước và quyền lực của Hội đồng nhân dân trong lĩnh vực giám sát là quyền lực của nhân dân địa phương trao cho những đại biểu của mình, thay mặt nhân dân địa phương thực hiện theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 10 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015).
- Chủ thể giám sát: Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân (khoản 2 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015).
- Hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân: Giám sát của Hội đồng nhân dân tại kỳ họp, giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân (khoản 6 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015).
- Mục đích hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân: Hoạt động giám sát góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật; bảo đảm cho mọi hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát phải thực hiện đúng và đầy đủ những quy định của Hiến pháp và pháp luật, nghị quyết của Hội đồng nhân dân; kịp thời phát hiện những điểm chưa hợp lý trong tổ chức, hoạt động quản lý của các cơ quan chịu sự giám sát và kiến nghị các biện pháp khắc phục những điểm chưa hợp lý và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát.
2. Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tuân thủ nguyên tắc, quy trình theo quy định pháp luật. Qua giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp, nhiều vấn đề dân sinh được giải quyết theo đúng thẩm quyền, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Nhiều vấn đề bức xúc của cử tri được quan tâm giám sát, niềm tin của nhân dân đối với Hội đồng nhân dân được nâng lên, cử tri ngày càng quan tâm, theo dõi và tích cực tham gia vào các hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân; vị thế của Hội đồng nhân dân ngày càng được đề cao; góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và bộ máy nhà nước nói chung, chính quyền địa phương nói riêng trong sạch, vững mạnh.
Hiện nay, hoạt động giám sát Hội đồng nhân dân theo hướng phản ánh việc chưa làm được, những tồn tại, nguyên nhân mà chưa chỉ ra được giải pháp thực hiện tốt hơn; chương trình giám sát nhiều địa phương chưa đề cập đến việc thực hiện kiến nghị hoàn thiện pháp luật liên quan đến nội dung giám sát trong quy trình; trong hoạt động giám sát chưa thể hiện sự đánh giá mặt tích cực để nhân rộng kết quả, mô hình, cách làm hiệu quả.
Bên cạnh kết quả đạt được thì hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân còn một số hạn chế, như: Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân trong một số lĩnh vực còn trùng lặp, chồng chéo giữa các chủ thể; chế độ làm việc và các điều kiện bảo đảm cho hoạt động của đại biểu có địa phương chưa đáp ứng; kỹ năng hoạt động giám sát của một số đại biểu Hội đồng nhân dân chưa đáp ứng được yêu cầu; hoạt động của tổ đại biểu chưa chú trọng, thiết chế tổ đại biểu chưa phát huy hiệu quả; có địa phương chưa tuân thủ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các văn bản liên quan về việc chấp hành quy trình, cung cấp tài liệu kịp thời cho đại biểu để nghiên cứu; còn tình trạng xem hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân “không phải là hoạt động thường niên”, “hoạt động định kỳ”, thực hiện theo “quán tính”, “mùa vụ”…
Trên cơ sở pháp luật, khi tiếp cận hoạt động giám sát ở 03 giai đoạn: Chuẩn bị, thực hiện và hoàn thiện, có thể thấy được các nội dung trọng tâm trong mỗi giai đoạn thực hiện chương trình hoạt động giám sát.
- Giai đoạn chuẩn bị chương trình giám sát: Lựa chọn nội dung (lĩnh vực), đối tượng, địa điểm, thời điểm giám sát, những bức xúc của cử tri để ưu tiên giám sát; trên cơ sở đó quyết định chủ thể nào giám sát và hình thức giám sát đạt hiệu quả cao; lập kế hoạch, xây dựng đề cương chi tiết, cụ thể, kỹ lưỡng; phát hành công văn yêu cầu cơ quan, đơn vị được giám sát chuẩn bị báo cáo; chuẩn bị đầy đủ các văn bản liên quan đến nội dung giám sát để nghiên cứu trước khi tiến hành giám sát.
- Giai đoạn tiến hành chương trình giám sát: Nghiên cứu báo cáo, đối chiếu giữa các báo cáo; thành phần tham gia chương trình giám sát, như: Thường trực, các Ban của Hội đồng nhân dân, ngành, địa phương, mời các cơ quan liên quan, chuyên gia trong lĩnh vực giám sát; thực hiện giám sát thực tế tại địa phương để xem và kiểm chứng quá trình thực hiện pháp luật.
- Giai đoạn hoàn thiện chương trình giám sát: Xây dựng báo cáo kết quả giám sát phải bảo đảm chất lượng, phản ánh đúng tình hình giám sát; tồn tại, hạn chế của chương trình giám sát; kết luận, kiến nghị giám sát phù hợp, đúng nội dung; theo dõi, đôn đốc các cơ quan liên quan thực hiện kết luận, kiến nghị; cần thiết, có thể đưa ra phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân yêu cầu giải trình các vấn đề mà Thường trực Hội đồng nhân dân quan tâm (Điều 72 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015); chất vấn tại phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân (Điều 69 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015); kiến nghị các cơ quan xử lý theo quy định như: Sửa đổi, bãi bỏ, ban hành mới văn bản pháp luật cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
Những kết quả đạt được trong hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cho thấy, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 đã đáp ứng các yêu cầu hoàn thiện quy trình giám sát của các chủ thể đúng như hoạt động lập pháp dự liệu. Trên thực tế, hiện tượng vi phạm pháp luật do cơ quan chức năng phát hiện, một loạt các sai phạm liên quan đến quy hoạch, đất đai, khoáng sản… đã và đang trong quá trình tố tụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, từ đó, cần đặt ra vấn đề nâng cao chất lượng, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân địa phương. Trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và trước yêu cầu của thực tiễn thì hoạt động giám sát cần xem xét thực hiện ở góc độ tiếp cận rộng hơn, trong đó, quan tâm thực hiện giai đoạn thứ ba (giai đoạn hoàn thiện) trong hoạt động giám sát.
Về lý thuyết, một văn bản pháp luật qua thực tiễn áp dụng là để “kiểm nghiệm” tính đúng đắn của văn bản. Trước khi xây dựng một văn bản pháp luật, các nhà hoạch định chính sách xây dựng nội dung văn bản pháp luật, dựa trên một số yêu cầu sau: Thực tiễn yêu cầu (x1); cơ sở khoa học (x2); chi phí thực hiện (x3) và dự liệu mô hình hoặc kết quả hướng tới (x4)...
Tuy nhiên, hoạt động giám sát là “phép thử” toán học của văn bản pháp luật, theo quy trình ngược lại của công tác xây dựng văn bản pháp luật, vì “giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật…” (khoản 2 Điều 113 Hiến pháp năm 2013). Do vậy, văn bản pháp luật (kết quả) sẽ là cơ sở để hoạt động giám sát đối chiếu với thực tiễn áp dụng qua các yêu cầu xây dựng văn bản, như: Thực tiễn yêu cầu (x1); cơ sở khoa học (x2); chi phí thực hiện (x3) và dự liệu mô hình hoặc kết quả hướng tới (x4)… Hoạt động giám sát có thể xảy ra các xu hướng:
- Xu hướng thứ nhất: Các yêu cầu xây dựng văn bản qua triển khai thực hiện được quan tâm. Qua giám sát kết quả, mô hình dự liệu trong văn bản pháp luật là đúng thì các yêu cầu x1, x2, x3, x4… trong quá trình triển khai thực hiện chưa đạt, thực hiện chưa tốt… thì phải xem xét điều chỉnh việc thực hiện để đạt được kết quả, mô hình văn bản luật dự liệu. Đây là xu hướng hoạt động giám sát nhiều địa phương đang áp dụng, chú trọng đến tổ chức thực hiện. Qua công tác giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật cho thấy: Nhiều địa phương ban hành nghị quyết nội dung giống địa phương khác, nhiều trường hợp hai địa phương trùng cả chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội; điểm khác giữa nghị quyết một số địa phương là ngày, địa danh ban hành và người ký văn bản. Hiện trạng kinh tế cho thấy, các địa phương trong vùng, khu vực mô hình kinh tế gần như nhau, chưa thể hiện thế mạnh kinh tế địa phương trong các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, có thể cân nhắc đến việc xem xét năng lực người ký văn bản và đội ngũ tham mưu và sát nhập một số địa phương để tinh gọn bộ máy.
ThS. Trần Đức Thú
Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai