Thứ năm 22/01/2026 11:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm bằng động sản

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm bằng động sản

1. Tổng quan về đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm bằng động sản

Đăng ký biện pháp bảo đảm là một trong những dịch vụ công liên quan đến bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản trong giao dịch dân sự. Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm quy định: “Đăng ký biện pháp bảo đảm là việc cơ quan đăng ký ghi, cập nhật vào Sổ đăng ký hoặc vào Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm về việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc của người khác hoặc đồng thời bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình và của người khác đối với bên nhận bảo đảm”. Đăng ký biện pháp bảo đảm có ý nghĩa quan trọng nhằm xác lập hiệu lực đối kháng của biện pháp bảo đảm với người thứ ba và công khai hóa tài sản đã được dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ giúp cho các tổ chức, cá nhân có thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản khi nhận bảo đảm.

Các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản trực thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm (sau đây gọi là Trung tâm Đăng ký) trực tiếp thực hiện công tác đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản không phải tàu bay, tàu biển, chứng khoán đã đăng ký tập trung (sau đây gọi là đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản).

Đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm bằng động sản là một trong ba phương thức nộp sơ đăng ký biện pháp bảo đảm tại các Trung tâm Đăng ký: (Qua hệ thống đăng ký trực tuyến; Nộp bản giấy trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính; Qua thư điện tử). Với hình thức đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản qua hệ thống đăng ký trực tuyến, tổ chức, cá nhân thực hiện đăng ký được Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp cấp tài khoản đăng ký trực tuyến. Mỗi tổ chức, cá nhân chỉ được cấp một tài khoản. Theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân tài khoản có thể là tài khoản sử dụng thường xuyên hoặc sử dung một lần. Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về việc sử dụng tài khoản của mình.

Người yêu cầu đăng ký sử dụng tài khoản để đăng nhập vào hệ thống đăng ký trực tuyến và kê khai thông tin, xác thực hồ sơ đăng ký theo quy trình trên giao diện đăng ký trực tuyến. Trường hợp pháp luật có quy định hồ sơ đăng ký phải đính kèm bản điện tử thì người yêu cầu đăng ký gửi đính kèm văn bản này. Người yêu cầu đăng ký thực hiện thanh toán phí đăng ký theo quy trình trên giao diện đăng ký trực tuyến hoặc theo phương thức thanh toán được quy định tại pháp luật về phí, lệ phí, pháp luật khác có liên quan. Cơ quan đăng ký có trách nhiệm giải quyết hồ sơ đăng ký trong ngày làm việc nhận được hồ sơ hợp lệ; nếu thời điểm nhận hồ sơ sau 15 giờ cùng ngày thì có thể hoàn thành việc đăng ký trong ngày làm việc tiếp theo. Trường hợp cơ quan đăng ký có lý do chính đáng phải kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ đăng ký thì thời hạn giải quyết hồ sơ không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Thời gian không tính vào thời hạn giải quyết hồ sơ bao gồm: Thời gian xảy ra sự kiện thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, sự cố hệ thống đăng ký trực tuyến, hỏng mạng lưới điện, mạng internet hoặc xảy ra sự kiện bất khả kháng khác theo văn bản hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền dẫn đến cơ quan đăng ký không thể thực hiện được việc đăng ký theo thủ tục và thời hạn quy định. Hồ sơ đăng ký trực tuyến có giá trị pháp lý như hồ sơ đăng ký bằng bản giấy.

2. Đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm bằng động sản là yêu cầu tất yếu

Cung cấp dịch vụ công trực tuyến nói chung và đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm nói riêng là yêu cầu tất yếu của quá trình chuyển đổi số quốc gia ở Việt Nam.

Ngày 17/10/2000, Ban chấp hành Trung ương Đảng có chỉ thị số 58-CT/TW về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Chỉ thị số 58-CT/TW), trong đó xác định mục tiêu: “công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng”. Chuyển đổi số quốc gia được Đảng ta xác định là cơ hội bứt phá để nước ta nhanh chóng bắt kịp các nước phát triển, là phương thức đột phá để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52/NQ-TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Hiện thực hóa những chủ trương trên, ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” (sau đây gọi tắt là Chương trình).

Chương trình đề ra mục tiêu đến năm 2025 phát triển Chính phủ số, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động với 80% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được cung cấp trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động. 90% hồ sơ công việc tại cấp bộ, tỉnh; 80% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 60% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước). 100% cơ sở dữ liệu quốc gia tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử bao gồm các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, đăng ký doanh nghiệp, tài chính, bảo hiểm được hoàn thành và kết nối, chia sẻ trên toàn quốc; từng bước mở dữ liệu của các cơ quan nhà nước để cung cấp dịch vụ công kịp thời.

Theo Chương trình, đến năm 2030, dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được cung cấp 100% trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động. 100% hồ sơ công việc tại cấp bộ, tỉnh; 90% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 70% hồ sơ công việc tại cấp xã sẽ được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước); hình thành nền tảng dữ liệu cho các ngành kinh tế trọng điểm dựa trên dữ liệu của các cơ quan nhà nước và hạ tầng kết nối mạng Internet vạn vật (loT), kết nối, chia sẻ rộng khắp giữa các cơ quan nhà nước, giảm 30% thủ tục hành chính; mở dữ liệu cho các tổ chức, doanh nghiệp, tăng 30% dịch vụ sáng tạo dựa trên dữ liệu phục vụ người dân, doanh nghiệp; 70% họat động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý.

Ngay từ khi thành lập, Cục Đăng ký quốc giao giao dịch bảo đảm và triển khai thực hiện công tác đăng ký giao dịch bảo đảm (2001), Bộ Tư pháp đã thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác đăng ký giao dịch bảo đảm, bước đầu xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giao dịch bảo đảm và thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin hoàn toàn trên máy tính kết nối mạng đối với toàn bộ thủ tục hành chính về đăng ký giao dịch bảo đảm, tạo tiền đề cho việc xây dựng hệ thống đăng ký trực tuyến sau này.

Từ ngày 19/03/2012, hệ thống đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm chính thức đưa vào vận hành ở mức độ 3. Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các đơn vị liên quan nâng cấp phần mềm đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm. Ngày 10/07/2017, dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 chính thức triển khai và đưa vào vận hành. Đây là hệ thống dịch vụ công đầu tiên của Bộ Tư pháp đạt mức độ 4 về dịch vụ công trực tuyến tại thời điểm đó. Hệ thống đăng ký trực tuyến đã nhận được được sự quan tâm, ủng hộ mạnh mẽ của các bộ, ngành, các tổ chức tín dụng, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.

Đến nay, Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm đã triển khai chỉnh sửa và hoànn thiện phần mềm đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm nhằm đáp ứng tốt hơn nữa hoạt động đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, đồng thời cho phép trả kết quả đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm thông qua việc áp dụng chữ ký số và chứng thư số được Ban Cơ yếu Chính phủ cấp và xác thực, theo đó, khách hàng dễ dàng đăng nhập vào hệ thống và tải về kết quả đăng ký bằng văn bản điện tử nếu có nhu cầu sử dụng,

Việc thực hiện đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm ở mức độ 4 (mức độ cao nhất trong cung cấp dịch vụ công của Chính phủ) tại các Trung tâm Đăng ký đã giúp người dân, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với dịch vụ đăng ký do Nhà nước cung cấp, giúp tiết kiệm chi phí, minh bạch thông tin và phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng tốt hơn.

Tại bất kỳ thời điểm và địa điểm nào, người yêu cầu đăng ký thông qua mạng internet truy cập vào hệ thống, trực tiếp đăng ký biện pháp bảo đảm và tự chịu trách nhiệm về nội dung đăng ký. Việc đăng ký biện pháp bảo đảm có hiệu lực kể từ thời điểm nội dung đăng ký được cập nhật vào Cơ sở dữ liệu. Thời điểm hiệu lực này không có sự can thiệp theo ý chí chủ quan của cán bộ thực hiện công tác đăng ký. Do vậy, sẽ giúp xóa nhòa khoảng cách địa lý, tạo cơ hội bình đẳng cho các tổ chức, cá nhân khi tham gia giao dịch bảo đảm.

Đối với cơ quan đăng ký, đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm giúp bỏ qua những thủ tục cồng kềnh, mất thời gian khi xử lý công việc đem lại hiệu quả cao hơn. Người đứng đầu đơn vị dễ dàng kiểm soát, quản lý công việc dễ dàng hơn, dễ đánh giá hiệu quả của mỗi cán bộ trong công việc. Giảm nhân lực trong việc xử lý công việc, tinh gọn bộ máy, đơn giản thủ tục hành chính tiết kiệm chi phí để trả lương cho các viên chức, người lao động thực hiện công tác đăng ký.

Những tác động tích cực của hoạt động đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến tại các Trung tâm Đăng ký cũng như tiện ích của Hệ thống đăng ký trực tuyến mang đã được cộng đồng ghi nhận, đánh giá cao, từ đó cho thấy xu hướng phát triển của công tác đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm trước sự vận động của nền kinh tế thị trường là tất yếu và đúng đắn.

Tuy nhiên, với số lượng, phạm vi đăng ký, sự gia tăng phức tạp của các trường thông tin dữ liệu và mức độ truy cập vào hệ thống trên nền tảng ứng dụng đa dạng từ phía khách hàng ngày càng cao để làm tốt công tác đăng ký việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đội ngũ viên chức, người lao động thực hiện công tác đăng ký là hết sức cần thiết và cấp bách.

3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm bằng động sản

3.1. Đặc điểm nguồn nhân lực tại các Trung tâm Đăng ký

Cơ cấu tổ chức tại các Trung tâm Đăng ký bao gồm giám đốc, các phó giám đốc, viên chức chuyên môn nghiệp vụ và nhân viên hợp đồng.

Hiện nay, ba Trung tâm Đăng ký có tổng số 80 viên chức, người lao động (sau đây gọi là cán bộ thực hiện công tác đăng ký). Trong đó, có 60 là viên chức, lao động nữ (chiếm tỷ lệ 75%), và 20 viên chức, lao động nam (chiếm tỷ lệ 25%). Với đặc điểm tỷ mỉ, cẩn thận trong công việc nhưng tỷ lệ nữ chiếm khá cao lại trong độ tuổi sinh đẻ và nuôi con nhỏ nên ảnh hưởng không ít trong việc bố trí, phân công công việc tại các Trung tâm Đăng ký.

Về độ tuổi, độ tuổi của cán bộ thực hiện công tác đăng ký tương đối trẻ, trải dài từ 25 đến 47 tuổi. Đây là một lợi thế của các Trung tâm Đăng ký khi thực hiện công tác đăng ký trực tuyến. Với đặc tính dễ dàng tiếp cận và tiếp thu những giá trị mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, luôn có khát vọng đổi mới, tiên phong trong việc nắm bắt, đón đầu công nghệ mới.

Về trình độ học vấn, 100% cán bộ thực hiện công tác đăng ký có trình độ đại học, trong đó có 17 thạc sỹ. Có 01 lãnh đạo có trình độ tiến sỹ.

Trong đó, cán bộ trực tiếp thực hiện công tác đăng ký là: 50. Mặc dù tỷ lệ đăng ký trực tuyến đạt trên 81% nhưng cán bộ trực tiếp thực hiện đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến chỉ chiếm 50% trên tổng số cán bộ trực tiếp thực hiện công tác đăng ký. 100% cán bộ thực hiện công tác đăng ký trực tuyến đều là những cán bộ có kinh nghiệm, nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ, quy trình đăng ký.

Ý thức được dịch vụ đăng ký biện pháp bảo đảm trực tuyến là dịch vụ công phục vụ 24/24, cán bộ thực hiện công tác đăng ký luôn nêu cao tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm sẵn sàng phục vụ, giải đáp thắc mắc của khách hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày. Với lượng đơn đăng ký biện pháp bảo đảm ngày một tăng, trung bình mỗi ngày mỗi cán bộ thực hiện công tác đăng ký phải giải quyết gần 200 đơn chưa kể phải giải đáp những thắc mắc từ phía khách hàng. Do vậy, mỗi cán bộ thực hiện công tác đăng ký ngoài nắm chắc nghiệp vụ phải có kỹ năng xử lý công việc nhanh, chính xác và thành thạo kỹ năng tin học. Công tác đăng ký trực tuyến đòi hỏi mỗi cán bộ thực hiện công tác đăng ký phải có kỹ năng làm việc nhóm cao, mỗi cá nhân là một mắt xích trong cả một dây chuyền, một cá nhân chậm trễ sẽ ảnh hưởng đến kết quả chung của cả nhóm.

Mỗi trung tâm đăng ký đều có ít nhất một cán bộ chuyên trách phụ trách công tác tin học có trình độ từ đại học trở lên, để đảm bảo cho hệ thống trực tuyến được vận hành thông suốt, an toàn và hiệu quả.

Nhìn chung đội ngũ cán bộ thực hiện công tác đăng ký ở các Trung tâm Đăng ký đều là những cán bộ có trình độ, chuyên nghiệp hóa cả về tác phong và thái độ làm việc theo đúng tinh thần của dịch vụ công không có thái độ cửa quyền, hách dịch, gây phiền hà đối với khách hàng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có trách nhiệm đối với công việc. Ngoài việc thực hiện thời giờ làm việc nghiêm chỉnh thì người lao động khá nhiệt tình với các hoạt động đoàn thể trong đơn vị. Điều đó đã tạo sự gắn kết thân thiết giữa các thành viên và giữa thành viên với đơn vị.

3.2. Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm bằng động sản

Xác định yêu cầu của công tác đăng ký, ngay từ khi mới thành lập các Trung tâm Đăng ký đã đề ra yêu cầu với những cá nhân được tuyển dụng phải là những ứng viên có trình độ đại học trở lên, có sức khỏe tốt có khả năng tin học bảo đảm đáp ứng được yêu cầu công việc được giao. Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức là nhiệm vụ thường xuyên được xây dựng kế hoạch từ đầu năm dựa trên nhu cầu đào tạo nhằm nâng cao năng lực, nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ thực hiện công tác đăng ký. Các Trung tâm Đăng ký có kế hoạch và chính sách cụ thể tạo điều kiện cho các viên chức, người lao động được đào tạo nâng cao trình độ. Như tạo điều kiện về thời gian, hỗ trợ 100% học phí. Để khuyến khích các thành viên trong đơn vị học tập nâng cao kỹ năng nghề nghiệp các Trung tâm Đăng ký luôn tạo điều kiện cho cán bộ của mình tham gia các lớp đào tạo, tập huấn các kỹ năng mềm do Bộ tư pháp tổ chức.

Hàng năm, các Trung tâm Đăng ký đều xây dựng đề án “Vị trí việc làm” của đơn vị mình để đánh giá được tốt nhất tình hình sử dụng nhân lực, bố trí công việc tại Trung tâm Đăng ký nhằm xây dựng cơ cấu nhân lực hợp lý, tránh lãng phí các nguồn lực. Đó là cơ sở để các Trung tâm Đăng ký đề xuất tuyển dụng hoặc phân công, bố trí đúng người, đúng việc.

Trên cơ sở quy chế thi đua khen thưởng của Bộ, của Cục, các Trung tâm Đăng ký đã cụ thể hóa các tiêu chí khen thưởng, mức khen thưởng cũng như kỷ luật cho viên chức, người lao động ở đơn vị mình. Tạo động lực giúp viên chức, người lao động phấn đấu, nỗ lực đạt các mốc khen thưởng, giảm thiểu các hành vi vi phạm lao động. Đối với những cá nhân có thành tích cao trong công tác thì ban lãnh đạo cũng sẽ cân nhắc về việc nâng bậc lương trước thời hạn; tạo điều kiện để các viên chức đủ tiêu chuẩn, trình độ được thi thăng hạng viên chức. Đó là nguồn khích lệ to lớn giúp các cá nhân cạnh tranh phát triển.

Để phục vụ cho công tác đăng ký nói chung và công tác đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm nói riêng, viên chức, người lao động tại các Trung tâm Đăng ký được bảo đảm các điều kiện tốt về cơ sở vật chất, tại môi trường làm việc thuận lợi (như phòng làm việc, thiết bị máy tính, máy in, văn phòng phẩm…). Hệ thống đăng ký trực tuyến được xây dựng, vận hành và nâng cấp kịp thời đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng của công tác đăng ký bảo đảm cho hoạt động đăng ký luôn thông suốt, an toàn và hiệu quả tạo tâm lý yên tâm công tác cho viên chức, người lao động.

Nhằm nâng cao sức khỏe cho người lao động, năm nào các Trung tâm Đăng ký cũng tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho viên chức, người lao động của đơn vị mình, các chế độ phúc lợi xã hội luôn được quan tâm và đảm bảo ở mức tốt nhất. Viên chức, người lao động luôn cảm thấy tin tưởng, trân trọng và yên tâm gắn bó lâu dài với đơn vị.

Tuy đã thực sự chú trọng đến việc phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu ngày một tăng của công tác đăng ký giao dịch bảo đảm đặc biệt là đăng ký trực tuyến (một phương thức đăng ký chiếm trên 80% lượng đơn đăng ký tại các Trung tâm Đăng ký). Nhưng hiện nay, công tác phát triển nguồn nhân lực ở các Trung tâm Đăng ký còn một số bất cập sau:

Đội ngũ cán bộ thực hiện công tác đăng ký chưa có một chức danh nghề nghiệp cụ thể, việc xây dựng vị trí việc làm đã được tiến hành ở các Trung tâm Đăng ký nhưng vẫn còn nhiều bất cập do việc mô tả vị trí việc làm, xây dựng khung năng lực vị trí việc làm còn mang tính định tính và bị chi phối bởi số lượng, chất lượng, kỹ năng làm việc của đội ngũ viên chức.

Việc xác định hạng viên chức chưa có quy định cụ thể nên hiện nay thăng hạng viên chức đối với các viên chức đăng ký tại các Trung tâm Đăng ký vẫn áp dụng các quy định về nâng ngạch đối với công chức, điều này gây nhiều khó khăn, bất cập vì tính chất công việc giữa công chức và viên chức là khác nhau.

Hệ thống đăng ký trực tuyến tuy được xây dựng, vận hành hiệu quả tuy nhiên, với số lượng mỗi năm có khoảng 10 triệu lượt truy cập vào hệ thống để tìm hiểu thông tin và đăng ký dịch vụ, trong đó, các Trung tâm Đăng ký tiếp nhận và giải quyết cho hơn 01 triệu giao dịch nhiều lúc dẫn tới sự quá tải của hệ thống đăng ký ,kéo theo đó là sự vất vả của cán bộ đăng ký. Họ phải làm việc ngoài giờ, chờ lúc lượng truy cập ít mới duyệt và cập nhật được đơn vào hệ thống dữ liệu.

Do tính chất và khối lượng công việc lớn, nên dù việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng mềm cho viên chức, người lao động được ban lãnh đạo quan tâm, tạo điều kiện nhưng phần lớn đều phải học vào ngoài giờ gây khó khăn cho người lao động đặc biệt là lao động nữ nuôi con nhỏ.

Một số viên chức, người lao động chưa thực sự chủ động trong việc học tập nâng cao trình độ.

3.3. Một số đề xuất và kiến nghị

Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm bằng động sản, cần nghiên cứu, thực hiện một số giải pháp sau:

Sớm xây dựng chức danh Đăng ký viên cho viên chức làm công tác đăng ký để có cơ sở để áp dụng các chế độ, chính sách đối với các cán bộ làm công tác đặc thù này.

Sớm nghiên cứu, xây dựng và ban hành Luật Các biện pháp bảo đảm nhằm thống nhất về đăng ký biện pháp bảo đảm, tổ chức, hoạt động của các cơ quan đăng ký, nhân viên đăng ký; đảm bảo về cơ sở pháp lý để củng cố, hoàn thiện các thiết chế liên quan đến đăng ký biện pháp bảo đảm, nhất là đảm bảo sự ổn định của hệ thống các cơ quan đăng ký, của nguồn nhân lực thực hiện công tác đăng ký.

Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hiện đại hóa trang thiết bị, nâng cấp phần mềm đăng ký trực tuyến phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của công tác đăng ký.

Tạo điều kiện, có cơ chế khuyến khích viên chức, người lao động tự mình học hỏi, tìm tòi và nâng cao trình độ bản thân qua một số khóa đào tạo internet, trực tuyến, tạo ra môi trường học tập ngay trong đơn vị.

Sắp xếp, bố trí lao động một cách hợp lý, hỗ trợ về mặt thời gian, kinh phí để viên chức, người lao động trong đơn vị có nhu cầu đều được tham gia đào tạo, bồi dưỡng; toàn tâm, toàn ý tham gia học tập nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

ThS. Lê Vĩnh Long

Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại TP. Hà Nội, Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 387), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: