Thứ ba 22/09/2026 20:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh đối với hoạt động tư pháp địa phương

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện đối với hoạt động tư pháp ở địa phương cũng là yêu cầu trong đổi mới tổ chức và hoàn thiện cơ chế giám sát của cơ quan dân cử nói chung đối với cơ quan thực hiện quyền tư pháp, cơ quan có liên quan đến hoạt động tư pháp, phù hợp với tinh thần các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện đối với hoạt động tư pháp ở địa phương cũng là yêu cầu trong đổi mới tổ chức và hoàn thiện cơ chế giám sát của cơ quan dân cử nói chung đối với cơ quan thực hiện quyền tư pháp, cơ quan có liên quan đến hoạt động tư pháp, phù hợp với tinh thần các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp.

Trong những năm qua, thực hiện nhiệm vụ và chức năng theo luật định, Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Quảng Trị đã tiến hành hơn 40 cuộc giám sát thực thi pháp luật ở địa phương, trong đó có 10 cuộc giám sát chuyên đề, 9 cuộc thẩm tra các báo cáo hoạt động tư pháp và 5 cuộc giám sát các vụ việc khiếu nại, tố cáo có liên quan đến công tác điều tra, công tố, xét xử, thi hành án dân sự,…ở địa phương. Ban Pháp chế đã chủ động hoặc phối hợp với Thường trực HĐND tỉnh thành lập Đoàn giám sát, thực hiện kế hoạch giám sát theo chuyên đề có trọng tâm, trọng điểm. Trong quá trình giám sát, Ban Pháp chế đã trực tiếp tham gia ý kiến, gợi ý những biện pháp tháo gỡ khó khăn giúp các ngành, đơn vị, địa phương tự điều chỉnh, bổ sung các hoạt động của mình theo đúng quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, Ban Pháp chế cũng chú trọng đổi mới phương pháp đánh giá, nhận định trong các báo cáo kết quả giám sát, thẩm tra đảm bảo sát đúng tình hình, kết quả hoạt động của các ngành, đơn vị, địa phương để có kiến nghị xác đáng, phù hợp nhằm khắc phục một số hạn chế, khó khăn và giải quyết sự việc theo đúng quy định của pháp luật.

Để góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh đối với hoạt động tư pháp, nhất là công tác xét xử của ngành Tòa án, thể hiện sự quan tâm của tỉnh đối với Hội thẩm nhân dân tham gia hoạt động xét xử của Tòa án nhân hai cấp, tại kỳ họp thứ 4 - Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị khóa VI, nhiệm kỳ 2011 - 2016, Ban Pháp chế đã thẩm tra và đề nghị HĐND tỉnh xem xét, thông qua Nghị quyết số 08/2012/NQ-HĐND ngày 13/4/2012 về việc nâng cao năng lực hoạt động và chế độ chính sách đối với hội thẩm nhân dân hai cấp. Nghị quyết đã quy định: Trưởng đoàn hội thẩm được hỗ trợ 1.500.000 đồng/người/năm; Phó Trưởng đoàn hội thẩm được hỗ trợ 1.300.000 đồng/người/năm; hội thẩm được hỗ trợ 1.200.000 đồng/người/năm. Hội thẩm nhân dân khi nghiên cứu hồ sơ và tham gia hoạt động xét xử được hỗ trợ thêm 200.000 đồng/vụ án. Chế độ này không bao gồm chế độ hỗ trợ cho hội thẩm nhân dân theo Quyết định số 241/2006/QĐ-TTg ngày 25/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ bồi dưỡng phiên tòa. Sau khi tổ chức thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh, hàng năm, Tòa án nhân dân tỉnh đã xây dựng kế hoạch, lập dự toán kinh phí bình quân trên 600 triệu đồng/năm để UBND tỉnh xem xét hỗ trợ hội thẩm nhân dân hai cấp.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh đối với hoạt động tư pháp nói chung và công tác xét xử của Ngành Tòa án nói riêng, xuất phát từ đặc thù của HĐND mỗi cấp và các điều kiện của cơ quan dân cử ở địa phương, trong thời gian qua còn một số khó khăn, hạn chế nhất định đó là:

- Chức năng, nhiệm vụ của HĐND các cấp đã được pháp luật hiện hành quy định song quá trình triển khai tổ chức giám sát của HĐND tỉnh nói chung, giám sát của Ban Pháp chế đối với hoạt động tư pháp ở địa phương nói riêng dù đã thực hiện khá tốt nhưng chưa được thường xuyên, một số mặt hiệu quả chưa cao. Việc chất vấn của đại biểu HĐND tỉnh đối với các hoạt động tư pháp nhìn chung còn ít, câu hỏi chất vấn của đại biểu có khi chưa sâu, chủ yếu là tìm hiểu thông tin; một số cuộc giám sát của Ban Pháp chế tổ chức dàn trải, thiếu tính cụ thể và còn hình thức; hiện nay chưa có chế tài của pháp luật hoặc hướng dẫn cụ thể nào về quyền buộc các chủ thể được giám sát thực hiện nghiêm túc các kết luận, kiến nghị xác đáng của HĐND.

- Nghị quyết số 725/2009/NQ-UBTVQH12 ngày 16/01/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XII quy định nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh giám sát các cơ quan tư pháp từ cấp tỉnh đến huyện, quận do đó giám sát giữa hai kỳ họp HĐND tỉnh ở địa phương đối với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, UBND các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND từ năm 2009 đến nay, mặc dù đã có nhiều cố gắng trong tổ chức giám sát, số cuộc, đợt giám sát được tăng cường hơn trước, hình thức và nội dung giám sát hoạt động tư pháp xuống các huyện cũng đa dạng, phong phú song còn bất cập là HĐND tỉnh không phải là bộ phận thuộc chính quyền địa phương cấp huyện nên không bao quát hết các vấn đề, lĩnh vực, vụ việc, không có đủ thông tin và sự phản hồi từ nhân dân cơ sở.

- Việc bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân cấp huyện ở các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND còn hình thức. Từ năm 2009, sau khi triển khai thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, HĐND tỉnh đã tiến hành bầu 145 vị hội thẩm Tòa án nhân dân 7 huyện do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh giới thiệu. Sau cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016, tại kỳ họp thứ nhất - HĐND tỉnh Quảng Trị khoá VI đã tiếp tục kiện toàn, bầu lại 116 vị hội thẩm Tòa án nhân dân ở 7 huyện và 15 vị hội thẩm Tòa án nhân dân tỉnh. Quy trình, thủ tục bầu HĐND đúng quy định của pháp luật, theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh để Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh giới thiệu ra HĐND tỉnh bỏ phiếu, bảo đảm quyền của Hội thẩm nhân dân “xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Tuy nhiên, cái khó là HĐND tỉnh không biết đầy đủ về cơ cấu thành phần, trình độ, phẩm chất và tính đại diện của những người được giới thiệu bầu hội thẩm nhân dân và HĐND tỉnh cũng không có điều kiện tìm hiểu các vị hội thẩm nhân dân ở cơ sở, chủ yếu tin tưởng vào sự chuẩn bị của Tòa án nhân dân tỉnh và giới thiệu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, do đó việc thẩm tra của Ban Pháp chế cũng mang tính thủ tục. Có thể nói, thực tế việc bầu hội thẩm nhân dân và cử Đoàn hội thẩm là những vấn đề mà HĐND tỉnh không dễ dàng tiếp cận.

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát của HĐND cấp tỉnh nói chung và của HĐND tỉnh Quảng Trị nói riêng đối với hoạt động tư pháp trong thời gian tới, xin có một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, việc chất vấn các hoạt động tư pháp tại kỳ họp Hội HĐND cấp tỉnh đối với Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Chủ tịch UBND cùng cấp là một nội dung quan trọng, cần duy trì thực hiện thường xuyên, được phát thanh, truyền hình trực tiếp, thu hút sự chú ý của cử tri và nhân dân. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp HĐND cấp tỉnh đối với các hoạt động tư pháp cùng cấp theo hướng giám sát không chỉ dừng lại ở việc nghe báo cáo, dựa trên cơ sở một vài ý kiến chung chung mà đòi hỏi phải rõ quan điểm, có lý lẽ xác đáng về những vấn đề nhất trí, không nhất trí với nội dung báo cáo đã nêu; sau khi nghe báo cáo, tổng hợp thảo luận và trả lời chất vấn nếu thấy những vấn đề, lĩnh vực quan trọng cần thiết cũng ban hành nghị quyết về hoạt động tư pháp.

Thứ hai, cần có cơ chế chính sách của trung ương và địa phương phù hợp để Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương tham gia có hiệu quả hơn vào việc giám sát các hoạt động tư pháp; tăng cường vai trò, chức năng của báo chí, phương tiện truyền thông vào việc thông tin các hoạt động tư pháp, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân đồng thời phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.

Thứ ba, thực hiện chức năng giám sát thể hiện tính quyền lực và đại diện của nhân dân đối với các hoạt động tư pháp ở cấp huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND, qua giám sát nếu phát hiện những vấn đề, lĩnh vực, vụ việc còn nổi cộm, bức xúc chưa được cử tri và nhân dân đồng tình cũng cần đổi mới tổ chức chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp HĐND cấp tỉnh nhằm làm rõ trách nhiệm quản lý của người đứng đầu các ngành, cơ quan, đơn vị cấp tỉnh đối với việc quản lý người đứng đầu các ngành, cơ quan, đơn vị cấp huyện.

Thứ tư, đòi hỏi của thực tiễn là nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện đối với hoạt động tư pháp ở địa phương đó cũng là yêu cầu bảo đảm tính đồng bộ của pháp luật trong đổi mới tổ chức và hoàn thiện cơ chế giám sát của cơ quan dân cử nói chung đối với cơ quan thực hiện quyền tư pháp, cơ quan có liên quan đến hoạt động tư pháp, phù hợp với tinh thần các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp. Do đó, trong nhiệm kỳ HĐND các cấp sắp tới, cùng với việc thiết lập chuyển đổi mô hình HĐND theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương (Dự kiến thông qua tại kỳ họp thứ 9 - Quốc hội khóa XIII) bên cạnh việc xác lập hệ thống Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân hiện hành sang hệ thống mới phải phù hợp với Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và các văn bản luật khác có liên quan đến hoạt động tư pháp.

Thứ năm, kiến nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần xem xét có điều chỉnh tương ứng trong các quy định của pháp luật về quyền giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện đối với cơ quan thực hiện quyền tư pháp, cơ quan có liên quan đến hoạt động tư pháp ở địa phương; có quy định thống nhất việc kiện toàn cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động cho HĐND cấp tỉnh, cấp huyện; nâng cao năng lực chủ thể thực hiện chức năng giám sát và bộ máy tham mưu, phục vụ của HĐND các cấp; trong đó nghiên cứu cơ chế pháp lý về giám sát hoạt động tư pháp là yếu tố then chốt, kiện toàn cơ cấu tổ chức Ban Pháp chế HĐND cấp tỉnh, cấp huyện đảm bảo phù hợp với nhiệm vụ giúp HĐND cùng cấp giám sát hoạt động tư pháp là yếu tố đóng vai trò quyết định, không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện đối với hoạt động tư pháp ở địa phương, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Lê Thanh Hải

Đoàn Đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh Quảng Trị

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: