Thứ tư 11/03/2026 23:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người chấp hành xong hình phạt tù tại tỉnh Bắc Kạn

Công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù do ở tỉnh Bắc Kạn luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo các cấp, sự phối hợp của các ban, ngành, tổ chức đoàn thể và nhân dân, nên đã đạt được những kết quả quan trọng.

1. Thực trạng việc bảo đảm quyền của người chấp hành xong hình phạt tù tại tỉnh Bắc Kạn

Bảo đảm quyền của người chấp hành xong hình phạt tù đã được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và xác định là một biện pháp quan trọng nhằm ổn định tình hình chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, làm rõ, sâu sắc hơn về tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Người chấp hành xong hình phạt tù được chính quyền địa phương, tổ chức, cá nhân tạo điều kiện tối đa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ để tái hòa nhập cộng đồng.

Bắc Kạn là tỉnh miền núi, có 08 đơn vị hành chính, trong đó có 01 thành phố và 07 huyện với 108 xã, phường, thị trấn. Dân số Bắc Kạn hiện có trên 308.300 người, gồm có 7 dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông, Hoa, Sán Chí, trong đó, người dân tộc thiểu số chiếm trên 80%. Theo thống kê của Công an tỉnh Bắc Kạn, từ năm 2015 đến năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã có 1.152 người chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, trong đó có 881 là người dân tộc thiểu số (chiếm tỉ lệ 76,5%).

Công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù do ở tỉnh Bắc Kạn luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo các cấp, sự phối hợp của các ban, ngành, tổ chức đoàn thể và nhân dân, nên đã đạt được những kết quả quan trọng.

Tuy nhiên, thực tế công tác này cũng cho thấy người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn khi trở về địa phương còn gặp những khó khăn nhất định trong thực hiện các quyền con người, quyền công dân chính đáng của bản thân, như: Quyền học tập, tiếp cận thông tin, tài liệu về khoa học - kỹ thuật; quyền được lao động… Một số ít người dân còn kì thị, phân biệt, đối xử đối với người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù. Các mô hình tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong hình phạt tù trên bàn tỉnh Bắc Kạn chủ yếu dừng lại ở việc quản lý, giám sát phòng ngừa người tái phạm tội mà thiếu đi mô hình, cách làm hay có tính hỗ trợ, giúp đỡ về vốn, dạy nghề, tạo việc làm; chống kì thị, cản trở người chấp hành xong hình phạt tù ổn định cuộc sống.

Những thực tế đó đã làm cho quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù bị ảnh hưởng, hạn chế nhất định. Một bộ phận người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương có nguy cơ tái phạm hoặc thực hiện các hành vi vi phạm phạm luật khác với tính chất, mức độ nghiêm trọng, gây dư luận xấu trong nhân dân. Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy những nguyên nhân chủ yếu về pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật dẫn đến những hạn chế, bất cập trên là:

- Chưa có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các cơ quan, ban ngành, tổ chức chính trị - xã hội ở Bắc Kạn đều không đề cập đến việc bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, dẫn đến khó khăn trong việc xác định trách nhiệm, quyền hạn, nội dung phối hợp giữa lực lượng thi hành pháp luật và các cơ quan, ban, ngành, tổ chức chính trị - xã hội khi thực hiện công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù.

- Việc xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách của địa phương để thực hiện chính sách tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương vẫn chưa được thực hiện, đã ảnh hưởng nhất định đến bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù.

- Đa số người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không việc làm ổn định, thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo. Đây là “nguyên nhân chủ quan” dẫn đến những khó khăn trong công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, khi họ không có điều kiện chủ động tiếp cận các hỗ trợ từ cộng đồng trong việc tái hòa nhập cộng đồng, tiềm ẩn dẫn tới tình trạng tái phạm tội hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Nó cũng xuất phát từ nguồn kinh phí dành cho công tác tái hòa nhập cộng đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 còn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, trong đó bao gồm: Kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp, Quỹ hòa nhập cộng đồng của Trại Tạm giam và các quy khác theo quy định của pháp luật; nguồn đóng góp tự nguyện của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và các nguồn thu hợp pháp khác. Thực tế tại Bắc Kạn cho thấy, ngoài nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp theo quy định thì các nguồn thu đóng góp quỹ tái hòa nhập cộng đồng còn rất ít; việc huy động nguồn kinh phí xã hội hóa gặp nhiều khó khăn do đặc thù nền kinh tế của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn còn nhiều khó khăn. Do đó, nguồn kinh phí hỗ trợ người dân tộc thiểu số chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng, cũng như kinh phí hỗ trợ cá nhân, tổ chức được phân công giáo dục, giúp đỡ nên việc động viên, cảm hóa, giáo dục, cũng như bảo đảm các quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù còn hạn chế.

- Công tác phối hợp của các ban, ngành đoàn thể trong quản lý, giáo dục, giúp đỡ người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại địa phương chưa được tổ chức thường xuyên, chưa phát huy vai trò của đơn vị, tổ chức chính trị xã hội trong bảo đảm các quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, nhất là công tác giúp đỡ người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tìm kiếm việc làm; còn một bộ phận cán bộ, nhân dân có tư tưởng phân biệt, kì thị, e ngại trong tiếp xúc, tạo điều kiện người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tiếp cận các công việc trên địa bàn địa phương. Một số cấp ủy, chính quyền cấp xã chưa nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị định số 80/NĐ-CP của Chính phủ, chưa quan tâm công tác tái hòa nhập cộng đồng, cũng như công tác bảo đảm quyền con người, còn “khoán trắng” cho lực lượng Công an cùng cấp dẫn tới

- Năng lực của chính quyền cấp xã chưa tương xứng về yêu cầu nhiệm vụ công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, nhất là khả năng tuyên truyền, giáo dục pháp luật, năng lực xây dựng phong trào vận động quần chúng nhân dân tham gia công tác bảo đảm quyền của dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, khả năng vận động, tranh thủ người có uy tín trong đồng bào vùng dân tộc thiểu số tham gia công tác này còn yếu. Còn có trường hợp chính quyền chưa nắm bắt kịp thời các thông tin liên quan đến từng người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương hoặc không nhanh chóng triển khai ngay kế hoạch yêu cầu người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương đến trụ sở Công an xã, phường, thị trấn trình diện vì cho rằng đối tượng được đặc xá, được miễn giảm án nên sẽ không tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

- Công tác giới thiệu, bố trí việc làm cho người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại địa phương gặp nhiều khó khăn do đặc điểm điều kiện kinh tế của tỉnh Bắc Kạn chưa phát triển, thiếu nguồn vốn, kinh phí hỗ trợ công tác dạy nghề, hướng nghiệp, hỗ trợ vốn để người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù có thể sản xuất, kinh doanh; trên địa bàn ít nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp.

- Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù còn rất hạn chế. Do địa bàn tỉnh là miền núi, vùng sâu, vùng xã, đi lại khó khăn, đồng bào người dân tộc thiểu số sống rải rác trên địa bàn rộng nên công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ thực hiện công tác tuyên truyền, phố biến, giáo dục pháp luật chủ yếu là làm công tác kiêm nhiệm, trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ còn hạn chế, chưa thực sự là đầu mối để chuyển tải pháp luật đến người dân, các mô hình “điểm” chưa có kinh phí để hoạt động, cũng là yếu tố tác động đến hiệu quả của công tác này.

2. Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại tỉnh Bắc Kạn

Ở nước ta, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội kết hợp chặt chẽ với nhau, trong đó lợi ích cá nhân được coi trọng (là mục tiêu, là động lực của sự phát triển xã hội, song cần chú trọng bảo đảm lợi ích của tập thể và cả cộng đồng dân tộc. Đây là quan điểm mang tính phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa, là sự ưu việt của chế độ này mà Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đã lựa chọn. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Do đó, công tác bảo đảm quyền của người chấp hành xong hình phạt tù tại tỉnh Bắc Kạn cần được quán triệt đầy đủ các quan điểm chỉ đạo:

- Công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù phải được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy, chính quyền các cấp; đồng thời phải có sự phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể và các đơn vị có liên quan, trong đó lực lượng Công an giữ vai trò nòng cốt. Nhà nước có trách nhiệm tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặc biệt là hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người theo Hiến pháp năm 2013; đưa các quy định pháp luật về quyền con người vào cuộc sống một cách hiệu quả, thiết thực, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, thừa nhận.

- Bảo đảm sự bình đẳng giữa các quyền, ưu tiên quyền của các nhóm yếu thế, thiểu số và quyền phát triển. Theo đó, tất cả các quyền con người đều gắn bó mật thiết, phụ thuộc lẫn nhau và không thể tách rời, phân chia. Mọi chủ thể của các quyền (cá nhân, nhóm xã hội, giới tính, dân tộc, chủng tộc) phải bảo đảm quyền ngang nhau của mọi quyền; bảo đảm quyền con người từng nước kết hợp với việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của các chủ thể quyền khác nhau trong xã hội. Trên cơ sở đó, ở mức độ nhất định, Đảng, Nhà nước ta quy định, thực hiện sự ưu tiên bảo đảm quyền phát triển và quyền an sinh xã hội đối với các nhóm yếu thế, thiểu số. Cụ thể đối với đối tượng là người dân tộc thiểu số, người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, Đảng, Nhà nước ta quy định các chính sách đối với vùng dân tộc thiểu số, người dân tộc thiểu số, hỗ trợ giúp đỡ đối tượng là người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, cụ thể, quy định, tổ chức thực hiện chính sách về công tác cảm hóa, giáo dục, hướng nghiệp, dạy nghề, hỗ trợ vay vốn phù hợp với đặc điểm, tình hình của địa phương. Tổ chức động viên, giáo dục, giúp đỡ kịp thời người chấp hành xong hình phạt tù để họ có ý thức vươn lên, tích cực lao động, học tập và tham gia các hoạt động xã hội, xóa đói, giảm nghèo, phòng ngừa tái phạm tội. Theo Điều 3 Nghị định số 80/2011/NĐ-CP ngày 16/9/2011 của Chính phủ quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù đã xác định nguyên tắc bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong hình phạt tù, cụ thể: (i) Thực hiện đúng quy định của Nghị định này và các quy định của pháp luật khác có liên quan; (ii) Tạo điều kiện thuận lợi cho người chấp hành xong hình phạt tù tái hòa nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống, phòng ngừa tái phạm và vi phạm pháp luật; (iii) Nghiêm cấm mọi hành vi kì thị, phân biệt đối xử hoặc xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người chấp hành xong hình phạt tù.

Trên cơ sở quán triệt những quan điểm trên, trong thời gian tới, các cơ quan, ban, ngành cần triển khai các giải pháp bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn như sau:

Ba là, hoàn thiện cơ chế phối hợp trong công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù.

Trước hết, cần xác định cấp ủy đảng, chính quyền các cấp chịu trách nhiệm về lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại địa phương, cần đề ra các chủ trương, biện pháp và chỉ đạo thực hiện công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù đến các ban, ngành, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, cá nhân, có trách nhiệm huy động sức mạnh của các hệ thống chính trị tham gia thực hiện nhiệm vụ này; định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết, khen thưởng đối với các tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù.

Xây dựng, triển khai có hiệu quả, thực chất quy chế phối hợp giữa lực lượng Công an tỉnh Bắc Kạn với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội về công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù. Các quy chế phối hợp này, cần được xây dựng dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng lực lượng, đơn vị và khả năng triển khai thực tế tại địa bàn cơ sở. Cơ chế phối hợp giữa Công an tỉnh Bắc Kạn với các ban, ngành, đoàn thể xã hội nhằm phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị và toàn xã hội trong giáo dục, cảm hóa người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù còn có hành vi vi phạm pháp luật tại cộng đồng dân cư. Công tác cảm hóa, giáo dục người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù cần gắn liền với giải quyết các điều kiện về kinh tế, xã hội, tạo ra nhiều việc làm cho họ. Đây là yếu tố quyết định giúp người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tiếp thu sự giáo dục của cộng đồng, cải tạo tiến bộ, trở thành người có ích cho xã hội, từ đó bảo đảm các quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù một cách tốt nhất.

Xây dụng chính sách tuyên truyền, phổ biến trên chuyên trang, chuyên mục có nội dung tuyên truyền, vận động về chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước của Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, Báo Bắc Kạn về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, tuyên truyền các mô hình, điển hình tiên tiến trong phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, phong trào phát triển kinh tế - xã hội, phong trào cách mạng khác có liên quan đến công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù mà nhân dân quan tâm, từ đó giúp quần chúng nhân dân hiểu, tích cực tham gia các nhiệm vụ, công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, cũng như các quyền lợi chính đáng khác của người dân.

Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ với Tòa án nhân dân trong thực hiện cấp giấy chứng nhận xóa án tích khi người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù đủ điều kiện theo quy định pháp luật và phối hợp Sở Tư pháp, các đơn vị liên quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp khi người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù có nhu cầu.

Hai là, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động quần chúng nhân dân tham gia bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù.

- Nâng cao hiệu quả công tác vận động cá biệt, nhất là vận động, tranh phát huy vai trò của người có uy tín trong vùng dân tộc thiểu số, dòng họ của Công an Tỉnh Bắc Kan, nhất là lực lượng công an cấp xã để gặp gỡ, giáo dục, vận động, giúp đỡ người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù thực hiện tốt các đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương; kịp thời ghi nhận những thuận lợi, khó khăn của họ để tháo gỡ từng khó khăn đó. Công tác giáo dục, vận động, giúp đỡ đối với người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù cần kiên trì, trách nhiệm.

- Đổi mới hình thức tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tham gia bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, gắn liền với phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc và các phong trào cách mạng khác, trong đó, cần chú trọng hình thức tuyên truyền, vận động gắn liền hoạt động sản xuất, đời sống, hoạt động văn hóa, phù hợp với phong tục, tập quán, trình độ của đồng bào dân tộc thiểu số. Tổ chức in ấn, phát hành tài liệu tuyên truyền tới cấp làng, bản về những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, cũng như các chính sách liên quan đến vùng dân tộc thiểu số.

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, đạo đức lối sống cho người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù để họ nhận ra được ý nghĩa nhân văn của pháp luật Việt Nam, từ đó giúp họ có suy nghĩ tích cực, tự giác tu dưỡng, rèn luyện để sớm trở thành người có ích cho xã hội.

- Nghiên cứu, xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong công tác vận động quần chúng nhân dân tham gia bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, nhất là các mô hình về dạy nghề, hướng nghiệp. Cần có kế hoạch cụ thể để xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình tiêu biểu, phù hợp với từng vùng, từng đối tượng và kinh phí hoạt động; tập trung xây dựng, nâng cao chất lượng hiệu quả các mô hình, điển hình tiên tiến về phong trào phát triển kinh tế, sản xuất, dạy nghề, hướng nghiệp và phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc. Gắn kết công tác xây dựng các mô hình, điển hình tiên tiến trong bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù với thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, với các phong trào cách mạng khác: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới”, “Xóa đói, giảm nghèo”…

Ba là, nâng cao hiệu quả công tác nắm tình hình, quản lý, giáo dục người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.

- Thường xuyên nắm tình hình, phân loại người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại địa phương thành hai nhóm đối tượng: đã xóa án tích nhưng vẫn có điều kiện tái phạm tội và chưa xóa án tích (đặc xá, mãn hạn tù), để có cơ sở thực hiện công tác quản lý, theo dõi, giáo dục, giúp đỡ người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tái hòa nhập cộng đồng, bảo đảm các quyền của họ; xác định các đối tượng thuộc diện “trọng điểm” trong công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ tái hòa nhập cộng đồng, phòng ngừa tái phạm tội. Đồng thời, tranh thủ tối đa người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong dòng họ, người thân thích, bạn bè, của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù để tác động, giáo dục, giúp đỡ họ trong cuộc sống, từ đó góp phần ngăn chặn tái phạm tội.

- Củng cố, tăng cường lực lượng Công an các cấp, nhất là Công an cấp xã, trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, giáo dục người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại cơ sở; phân công nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể đến từng tập thể, cá nhân theo chức năng, nhiệm vụ. Đồng thời, nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp giữa lực lượng Công an với các lực lượng có liên quan trong công tác quản lý, giáo dục người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.

Bốn là, nâng cao nhận thức, trình độ của cán bộ, công chức của tỉnh, đặc biệt là chiến sĩ Công an tỉnh Bắc Kạn về bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.

Năm là, bảo đảm nguồn kinh phí dành cho công tác tái hòa nhập cộng đồng. Bên cạnh nguồn kinh phí dành do công tác tái hòa nhập cộng đồng từ ngân sách nhà nước thì cần huy động hiệu quả nguồn lực xã hội (ngoài kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước) để bổ sung thêm nguồn kinh phí hằng năm dành cho công tác tái hòa nhập cộng đồng. Trong đó, cần có chính sách cụ thể để huy động nguồn lực xã hội:

- Xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi, đặc thù địa bàn, lĩnh vực, tạo điều kiện thuận lợi đối với các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất, cá nhân tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, tạo nguồn việc làm dồi dào, làm cơ sở để thu hút, bố trí, sắp xếp người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tiếp cận việc làm ( đi đôi với công tác dạy nghề thì cần bố trí việc làm phù hợp). Các cơ chế, chính sách ưu đãi của địa phương sẽ làm cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nhậnkhông chỉ thấy được trách nhiệm đối với cộng đồng, xã hội, địa phương, mà còn nhận thấy quyền lợi, ưu đãi của chính quyền khi tham gia đóng góp tích cực vào kinh phí tái hòa nhập cộng đồng nói riêng, công tác tái hòa nhập cộng đồng nói chung.

- Quán triệt, tuyên truyền đến các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân nhằm nâng cao nhận thức một cách đúng đắn về bản chất, mục tiêu xã hội hóa đóng góp kinh phí phục vụ công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù để huy động mọi nguồn lực và năng lực xã hội một cách tối đa,mạnh mẽ, toàn diện.

- Có hình thức khuyến khích, thu hút các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đóng góp vào nguồn Quỹ tái hòa nhập cộng đồng và tham gia tích cực công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù, như hằng năm có khen thưởng, tôn vinh xứng đáng, kịp thời và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến đối với các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có đóng góp nguồn kinh phí và tham gia tích cực, hiệu quả công tác tái hòa nhập cộng đồng trên địa bàn tỉnh./.

TS. Vũ Ngọc Hà

Học viện Chính trị khu vực I

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: