Thứ bảy 08/08/2026 23:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người chấp hành xong hình phạt tù tại tỉnh Bắc Kạn

Công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù do ở tỉnh Bắc Kạn luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo các cấp, sự phối hợp của các ban, ngành, tổ chức đoàn thể và nhân dân, nên đã đạt được những kết quả quan trọng.

1. Thực trạng việc bảo đảm quyền của người chấp hành xong hình phạt tù tại tỉnh Bắc Kạn

Bảo đảm quyền của người chấp hành xong hình phạt tù đã được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và xác định là một biện pháp quan trọng nhằm ổn định tình hình chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, làm rõ, sâu sắc hơn về tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Người chấp hành xong hình phạt tù được chính quyền địa phương, tổ chức, cá nhân tạo điều kiện tối đa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ để tái hòa nhập cộng đồng.

Bắc Kạn là tỉnh miền núi, có 08 đơn vị hành chính, trong đó có 01 thành phố và 07 huyện với 108 xã, phường, thị trấn. Dân số Bắc Kạn hiện có trên 308.300 người, gồm có 7 dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông, Hoa, Sán Chí, trong đó, người dân tộc thiểu số chiếm trên 80%. Theo thống kê của Công an tỉnh Bắc Kạn, từ năm 2015 đến năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã có 1.152 người chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, trong đó có 881 là người dân tộc thiểu số (chiếm tỉ lệ 76,5%).

Công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù do ở tỉnh Bắc Kạn luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo các cấp, sự phối hợp của các ban, ngành, tổ chức đoàn thể và nhân dân, nên đã đạt được những kết quả quan trọng.

Tuy nhiên, thực tế công tác này cũng cho thấy người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn khi trở về địa phương còn gặp những khó khăn nhất định trong thực hiện các quyền con người, quyền công dân chính đáng của bản thân, như: Quyền học tập, tiếp cận thông tin, tài liệu về khoa học - kỹ thuật; quyền được lao động… Một số ít người dân còn kì thị, phân biệt, đối xử đối với người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù. Các mô hình tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong hình phạt tù trên bàn tỉnh Bắc Kạn chủ yếu dừng lại ở việc quản lý, giám sát phòng ngừa người tái phạm tội mà thiếu đi mô hình, cách làm hay có tính hỗ trợ, giúp đỡ về vốn, dạy nghề, tạo việc làm; chống kì thị, cản trở người chấp hành xong hình phạt tù ổn định cuộc sống.

Những thực tế đó đã làm cho quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù bị ảnh hưởng, hạn chế nhất định. Một bộ phận người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương có nguy cơ tái phạm hoặc thực hiện các hành vi vi phạm phạm luật khác với tính chất, mức độ nghiêm trọng, gây dư luận xấu trong nhân dân. Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy những nguyên nhân chủ yếu về pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật dẫn đến những hạn chế, bất cập trên là:

- Chưa có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các cơ quan, ban ngành, tổ chức chính trị - xã hội ở Bắc Kạn đều không đề cập đến việc bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, dẫn đến khó khăn trong việc xác định trách nhiệm, quyền hạn, nội dung phối hợp giữa lực lượng thi hành pháp luật và các cơ quan, ban, ngành, tổ chức chính trị - xã hội khi thực hiện công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù.

- Việc xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách của địa phương để thực hiện chính sách tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương vẫn chưa được thực hiện, đã ảnh hưởng nhất định đến bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù.

- Đa số người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không việc làm ổn định, thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo. Đây là “nguyên nhân chủ quan” dẫn đến những khó khăn trong công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, khi họ không có điều kiện chủ động tiếp cận các hỗ trợ từ cộng đồng trong việc tái hòa nhập cộng đồng, tiềm ẩn dẫn tới tình trạng tái phạm tội hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Nó cũng xuất phát từ nguồn kinh phí dành cho công tác tái hòa nhập cộng đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 còn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, trong đó bao gồm: Kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp, Quỹ hòa nhập cộng đồng của Trại Tạm giam và các quy khác theo quy định của pháp luật; nguồn đóng góp tự nguyện của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và các nguồn thu hợp pháp khác. Thực tế tại Bắc Kạn cho thấy, ngoài nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp theo quy định thì các nguồn thu đóng góp quỹ tái hòa nhập cộng đồng còn rất ít; việc huy động nguồn kinh phí xã hội hóa gặp nhiều khó khăn do đặc thù nền kinh tế của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn còn nhiều khó khăn. Do đó, nguồn kinh phí hỗ trợ người dân tộc thiểu số chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng, cũng như kinh phí hỗ trợ cá nhân, tổ chức được phân công giáo dục, giúp đỡ nên việc động viên, cảm hóa, giáo dục, cũng như bảo đảm các quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù còn hạn chế.

- Công tác phối hợp của các ban, ngành đoàn thể trong quản lý, giáo dục, giúp đỡ người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại địa phương chưa được tổ chức thường xuyên, chưa phát huy vai trò của đơn vị, tổ chức chính trị xã hội trong bảo đảm các quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, nhất là công tác giúp đỡ người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tìm kiếm việc làm; còn một bộ phận cán bộ, nhân dân có tư tưởng phân biệt, kì thị, e ngại trong tiếp xúc, tạo điều kiện người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tiếp cận các công việc trên địa bàn địa phương. Một số cấp ủy, chính quyền cấp xã chưa nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị định số 80/NĐ-CP của Chính phủ, chưa quan tâm công tác tái hòa nhập cộng đồng, cũng như công tác bảo đảm quyền con người, còn “khoán trắng” cho lực lượng Công an cùng cấp dẫn tới

- Năng lực của chính quyền cấp xã chưa tương xứng về yêu cầu nhiệm vụ công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, nhất là khả năng tuyên truyền, giáo dục pháp luật, năng lực xây dựng phong trào vận động quần chúng nhân dân tham gia công tác bảo đảm quyền của dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, khả năng vận động, tranh thủ người có uy tín trong đồng bào vùng dân tộc thiểu số tham gia công tác này còn yếu. Còn có trường hợp chính quyền chưa nắm bắt kịp thời các thông tin liên quan đến từng người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương hoặc không nhanh chóng triển khai ngay kế hoạch yêu cầu người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương đến trụ sở Công an xã, phường, thị trấn trình diện vì cho rằng đối tượng được đặc xá, được miễn giảm án nên sẽ không tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

- Công tác giới thiệu, bố trí việc làm cho người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại địa phương gặp nhiều khó khăn do đặc điểm điều kiện kinh tế của tỉnh Bắc Kạn chưa phát triển, thiếu nguồn vốn, kinh phí hỗ trợ công tác dạy nghề, hướng nghiệp, hỗ trợ vốn để người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù có thể sản xuất, kinh doanh; trên địa bàn ít nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp.

- Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù còn rất hạn chế. Do địa bàn tỉnh là miền núi, vùng sâu, vùng xã, đi lại khó khăn, đồng bào người dân tộc thiểu số sống rải rác trên địa bàn rộng nên công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ thực hiện công tác tuyên truyền, phố biến, giáo dục pháp luật chủ yếu là làm công tác kiêm nhiệm, trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ còn hạn chế, chưa thực sự là đầu mối để chuyển tải pháp luật đến người dân, các mô hình “điểm” chưa có kinh phí để hoạt động, cũng là yếu tố tác động đến hiệu quả của công tác này.

2. Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại tỉnh Bắc Kạn

Ở nước ta, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội kết hợp chặt chẽ với nhau, trong đó lợi ích cá nhân được coi trọng (là mục tiêu, là động lực của sự phát triển xã hội, song cần chú trọng bảo đảm lợi ích của tập thể và cả cộng đồng dân tộc. Đây là quan điểm mang tính phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa, là sự ưu việt của chế độ này mà Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đã lựa chọn. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Do đó, công tác bảo đảm quyền của người chấp hành xong hình phạt tù tại tỉnh Bắc Kạn cần được quán triệt đầy đủ các quan điểm chỉ đạo:

- Công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù phải được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy, chính quyền các cấp; đồng thời phải có sự phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể và các đơn vị có liên quan, trong đó lực lượng Công an giữ vai trò nòng cốt. Nhà nước có trách nhiệm tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặc biệt là hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người theo Hiến pháp năm 2013; đưa các quy định pháp luật về quyền con người vào cuộc sống một cách hiệu quả, thiết thực, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, thừa nhận.

- Bảo đảm sự bình đẳng giữa các quyền, ưu tiên quyền của các nhóm yếu thế, thiểu số và quyền phát triển. Theo đó, tất cả các quyền con người đều gắn bó mật thiết, phụ thuộc lẫn nhau và không thể tách rời, phân chia. Mọi chủ thể của các quyền (cá nhân, nhóm xã hội, giới tính, dân tộc, chủng tộc) phải bảo đảm quyền ngang nhau của mọi quyền; bảo đảm quyền con người từng nước kết hợp với việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của các chủ thể quyền khác nhau trong xã hội. Trên cơ sở đó, ở mức độ nhất định, Đảng, Nhà nước ta quy định, thực hiện sự ưu tiên bảo đảm quyền phát triển và quyền an sinh xã hội đối với các nhóm yếu thế, thiểu số. Cụ thể đối với đối tượng là người dân tộc thiểu số, người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, Đảng, Nhà nước ta quy định các chính sách đối với vùng dân tộc thiểu số, người dân tộc thiểu số, hỗ trợ giúp đỡ đối tượng là người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, cụ thể, quy định, tổ chức thực hiện chính sách về công tác cảm hóa, giáo dục, hướng nghiệp, dạy nghề, hỗ trợ vay vốn phù hợp với đặc điểm, tình hình của địa phương. Tổ chức động viên, giáo dục, giúp đỡ kịp thời người chấp hành xong hình phạt tù để họ có ý thức vươn lên, tích cực lao động, học tập và tham gia các hoạt động xã hội, xóa đói, giảm nghèo, phòng ngừa tái phạm tội. Theo Điều 3 Nghị định số 80/2011/NĐ-CP ngày 16/9/2011 của Chính phủ quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù đã xác định nguyên tắc bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong hình phạt tù, cụ thể: (i) Thực hiện đúng quy định của Nghị định này và các quy định của pháp luật khác có liên quan; (ii) Tạo điều kiện thuận lợi cho người chấp hành xong hình phạt tù tái hòa nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống, phòng ngừa tái phạm và vi phạm pháp luật; (iii) Nghiêm cấm mọi hành vi kì thị, phân biệt đối xử hoặc xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người chấp hành xong hình phạt tù.

Trên cơ sở quán triệt những quan điểm trên, trong thời gian tới, các cơ quan, ban, ngành cần triển khai các giải pháp bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn như sau:

Ba là, hoàn thiện cơ chế phối hợp trong công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù.

Trước hết, cần xác định cấp ủy đảng, chính quyền các cấp chịu trách nhiệm về lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại địa phương, cần đề ra các chủ trương, biện pháp và chỉ đạo thực hiện công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù đến các ban, ngành, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, cá nhân, có trách nhiệm huy động sức mạnh của các hệ thống chính trị tham gia thực hiện nhiệm vụ này; định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết, khen thưởng đối với các tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù.

Xây dựng, triển khai có hiệu quả, thực chất quy chế phối hợp giữa lực lượng Công an tỉnh Bắc Kạn với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội về công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù. Các quy chế phối hợp này, cần được xây dựng dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng lực lượng, đơn vị và khả năng triển khai thực tế tại địa bàn cơ sở. Cơ chế phối hợp giữa Công an tỉnh Bắc Kạn với các ban, ngành, đoàn thể xã hội nhằm phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị và toàn xã hội trong giáo dục, cảm hóa người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù còn có hành vi vi phạm pháp luật tại cộng đồng dân cư. Công tác cảm hóa, giáo dục người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù cần gắn liền với giải quyết các điều kiện về kinh tế, xã hội, tạo ra nhiều việc làm cho họ. Đây là yếu tố quyết định giúp người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tiếp thu sự giáo dục của cộng đồng, cải tạo tiến bộ, trở thành người có ích cho xã hội, từ đó bảo đảm các quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù một cách tốt nhất.

Xây dụng chính sách tuyên truyền, phổ biến trên chuyên trang, chuyên mục có nội dung tuyên truyền, vận động về chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước của Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, Báo Bắc Kạn về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, tuyên truyền các mô hình, điển hình tiên tiến trong phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, phong trào phát triển kinh tế - xã hội, phong trào cách mạng khác có liên quan đến công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù mà nhân dân quan tâm, từ đó giúp quần chúng nhân dân hiểu, tích cực tham gia các nhiệm vụ, công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, cũng như các quyền lợi chính đáng khác của người dân.

Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ với Tòa án nhân dân trong thực hiện cấp giấy chứng nhận xóa án tích khi người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù đủ điều kiện theo quy định pháp luật và phối hợp Sở Tư pháp, các đơn vị liên quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp khi người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù có nhu cầu.

Hai là, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động quần chúng nhân dân tham gia bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù.

- Nâng cao hiệu quả công tác vận động cá biệt, nhất là vận động, tranh phát huy vai trò của người có uy tín trong vùng dân tộc thiểu số, dòng họ của Công an Tỉnh Bắc Kan, nhất là lực lượng công an cấp xã để gặp gỡ, giáo dục, vận động, giúp đỡ người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù thực hiện tốt các đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương; kịp thời ghi nhận những thuận lợi, khó khăn của họ để tháo gỡ từng khó khăn đó. Công tác giáo dục, vận động, giúp đỡ đối với người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù cần kiên trì, trách nhiệm.

- Đổi mới hình thức tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tham gia bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, gắn liền với phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc và các phong trào cách mạng khác, trong đó, cần chú trọng hình thức tuyên truyền, vận động gắn liền hoạt động sản xuất, đời sống, hoạt động văn hóa, phù hợp với phong tục, tập quán, trình độ của đồng bào dân tộc thiểu số. Tổ chức in ấn, phát hành tài liệu tuyên truyền tới cấp làng, bản về những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, cũng như các chính sách liên quan đến vùng dân tộc thiểu số.

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, đạo đức lối sống cho người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù để họ nhận ra được ý nghĩa nhân văn của pháp luật Việt Nam, từ đó giúp họ có suy nghĩ tích cực, tự giác tu dưỡng, rèn luyện để sớm trở thành người có ích cho xã hội.

- Nghiên cứu, xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong công tác vận động quần chúng nhân dân tham gia bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, nhất là các mô hình về dạy nghề, hướng nghiệp. Cần có kế hoạch cụ thể để xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình tiêu biểu, phù hợp với từng vùng, từng đối tượng và kinh phí hoạt động; tập trung xây dựng, nâng cao chất lượng hiệu quả các mô hình, điển hình tiên tiến về phong trào phát triển kinh tế, sản xuất, dạy nghề, hướng nghiệp và phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc. Gắn kết công tác xây dựng các mô hình, điển hình tiên tiến trong bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù với thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, với các phong trào cách mạng khác: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới”, “Xóa đói, giảm nghèo”…

Ba là, nâng cao hiệu quả công tác nắm tình hình, quản lý, giáo dục người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.

- Thường xuyên nắm tình hình, phân loại người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại địa phương thành hai nhóm đối tượng: đã xóa án tích nhưng vẫn có điều kiện tái phạm tội và chưa xóa án tích (đặc xá, mãn hạn tù), để có cơ sở thực hiện công tác quản lý, theo dõi, giáo dục, giúp đỡ người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tái hòa nhập cộng đồng, bảo đảm các quyền của họ; xác định các đối tượng thuộc diện “trọng điểm” trong công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ tái hòa nhập cộng đồng, phòng ngừa tái phạm tội. Đồng thời, tranh thủ tối đa người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong dòng họ, người thân thích, bạn bè, của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù để tác động, giáo dục, giúp đỡ họ trong cuộc sống, từ đó góp phần ngăn chặn tái phạm tội.

- Củng cố, tăng cường lực lượng Công an các cấp, nhất là Công an cấp xã, trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, giáo dục người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại cơ sở; phân công nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể đến từng tập thể, cá nhân theo chức năng, nhiệm vụ. Đồng thời, nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp giữa lực lượng Công an với các lực lượng có liên quan trong công tác quản lý, giáo dục người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.

Bốn là, nâng cao nhận thức, trình độ của cán bộ, công chức của tỉnh, đặc biệt là chiến sĩ Công an tỉnh Bắc Kạn về bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.

Năm là, bảo đảm nguồn kinh phí dành cho công tác tái hòa nhập cộng đồng. Bên cạnh nguồn kinh phí dành do công tác tái hòa nhập cộng đồng từ ngân sách nhà nước thì cần huy động hiệu quả nguồn lực xã hội (ngoài kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước) để bổ sung thêm nguồn kinh phí hằng năm dành cho công tác tái hòa nhập cộng đồng. Trong đó, cần có chính sách cụ thể để huy động nguồn lực xã hội:

- Xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi, đặc thù địa bàn, lĩnh vực, tạo điều kiện thuận lợi đối với các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất, cá nhân tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, tạo nguồn việc làm dồi dào, làm cơ sở để thu hút, bố trí, sắp xếp người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tiếp cận việc làm ( đi đôi với công tác dạy nghề thì cần bố trí việc làm phù hợp). Các cơ chế, chính sách ưu đãi của địa phương sẽ làm cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nhậnkhông chỉ thấy được trách nhiệm đối với cộng đồng, xã hội, địa phương, mà còn nhận thấy quyền lợi, ưu đãi của chính quyền khi tham gia đóng góp tích cực vào kinh phí tái hòa nhập cộng đồng nói riêng, công tác tái hòa nhập cộng đồng nói chung.

- Quán triệt, tuyên truyền đến các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân nhằm nâng cao nhận thức một cách đúng đắn về bản chất, mục tiêu xã hội hóa đóng góp kinh phí phục vụ công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù để huy động mọi nguồn lực và năng lực xã hội một cách tối đa,mạnh mẽ, toàn diện.

- Có hình thức khuyến khích, thu hút các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đóng góp vào nguồn Quỹ tái hòa nhập cộng đồng và tham gia tích cực công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù, như hằng năm có khen thưởng, tôn vinh xứng đáng, kịp thời và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến đối với các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có đóng góp nguồn kinh phí và tham gia tích cực, hiệu quả công tác tái hòa nhập cộng đồng trên địa bàn tỉnh./.

TS. Vũ Ngọc Hà

Học viện Chính trị khu vực I

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.

Theo dõi chúng tôi trên: