Chủ nhật 31/05/2026 07:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người chấp hành xong hình phạt tù tại tỉnh Bắc Kạn

Công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù do ở tỉnh Bắc Kạn luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo các cấp, sự phối hợp của các ban, ngành, tổ chức đoàn thể và nhân dân, nên đã đạt được những kết quả quan trọng.

1. Thực trạng việc bảo đảm quyền của người chấp hành xong hình phạt tù tại tỉnh Bắc Kạn

Bảo đảm quyền của người chấp hành xong hình phạt tù đã được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và xác định là một biện pháp quan trọng nhằm ổn định tình hình chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, làm rõ, sâu sắc hơn về tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Người chấp hành xong hình phạt tù được chính quyền địa phương, tổ chức, cá nhân tạo điều kiện tối đa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ để tái hòa nhập cộng đồng.

Bắc Kạn là tỉnh miền núi, có 08 đơn vị hành chính, trong đó có 01 thành phố và 07 huyện với 108 xã, phường, thị trấn. Dân số Bắc Kạn hiện có trên 308.300 người, gồm có 7 dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông, Hoa, Sán Chí, trong đó, người dân tộc thiểu số chiếm trên 80%. Theo thống kê của Công an tỉnh Bắc Kạn, từ năm 2015 đến năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã có 1.152 người chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, trong đó có 881 là người dân tộc thiểu số (chiếm tỉ lệ 76,5%).

Công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù do ở tỉnh Bắc Kạn luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo các cấp, sự phối hợp của các ban, ngành, tổ chức đoàn thể và nhân dân, nên đã đạt được những kết quả quan trọng.

Tuy nhiên, thực tế công tác này cũng cho thấy người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn khi trở về địa phương còn gặp những khó khăn nhất định trong thực hiện các quyền con người, quyền công dân chính đáng của bản thân, như: Quyền học tập, tiếp cận thông tin, tài liệu về khoa học - kỹ thuật; quyền được lao động… Một số ít người dân còn kì thị, phân biệt, đối xử đối với người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù. Các mô hình tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong hình phạt tù trên bàn tỉnh Bắc Kạn chủ yếu dừng lại ở việc quản lý, giám sát phòng ngừa người tái phạm tội mà thiếu đi mô hình, cách làm hay có tính hỗ trợ, giúp đỡ về vốn, dạy nghề, tạo việc làm; chống kì thị, cản trở người chấp hành xong hình phạt tù ổn định cuộc sống.

Những thực tế đó đã làm cho quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù bị ảnh hưởng, hạn chế nhất định. Một bộ phận người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương có nguy cơ tái phạm hoặc thực hiện các hành vi vi phạm phạm luật khác với tính chất, mức độ nghiêm trọng, gây dư luận xấu trong nhân dân. Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy những nguyên nhân chủ yếu về pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật dẫn đến những hạn chế, bất cập trên là:

- Chưa có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các cơ quan, ban ngành, tổ chức chính trị - xã hội ở Bắc Kạn đều không đề cập đến việc bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, dẫn đến khó khăn trong việc xác định trách nhiệm, quyền hạn, nội dung phối hợp giữa lực lượng thi hành pháp luật và các cơ quan, ban, ngành, tổ chức chính trị - xã hội khi thực hiện công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù.

- Việc xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách của địa phương để thực hiện chính sách tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương vẫn chưa được thực hiện, đã ảnh hưởng nhất định đến bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù.

- Đa số người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không việc làm ổn định, thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo. Đây là “nguyên nhân chủ quan” dẫn đến những khó khăn trong công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, khi họ không có điều kiện chủ động tiếp cận các hỗ trợ từ cộng đồng trong việc tái hòa nhập cộng đồng, tiềm ẩn dẫn tới tình trạng tái phạm tội hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Nó cũng xuất phát từ nguồn kinh phí dành cho công tác tái hòa nhập cộng đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 còn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, trong đó bao gồm: Kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp, Quỹ hòa nhập cộng đồng của Trại Tạm giam và các quy khác theo quy định của pháp luật; nguồn đóng góp tự nguyện của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và các nguồn thu hợp pháp khác. Thực tế tại Bắc Kạn cho thấy, ngoài nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp theo quy định thì các nguồn thu đóng góp quỹ tái hòa nhập cộng đồng còn rất ít; việc huy động nguồn kinh phí xã hội hóa gặp nhiều khó khăn do đặc thù nền kinh tế của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn còn nhiều khó khăn. Do đó, nguồn kinh phí hỗ trợ người dân tộc thiểu số chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng, cũng như kinh phí hỗ trợ cá nhân, tổ chức được phân công giáo dục, giúp đỡ nên việc động viên, cảm hóa, giáo dục, cũng như bảo đảm các quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù còn hạn chế.

- Công tác phối hợp của các ban, ngành đoàn thể trong quản lý, giáo dục, giúp đỡ người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại địa phương chưa được tổ chức thường xuyên, chưa phát huy vai trò của đơn vị, tổ chức chính trị xã hội trong bảo đảm các quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, nhất là công tác giúp đỡ người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tìm kiếm việc làm; còn một bộ phận cán bộ, nhân dân có tư tưởng phân biệt, kì thị, e ngại trong tiếp xúc, tạo điều kiện người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tiếp cận các công việc trên địa bàn địa phương. Một số cấp ủy, chính quyền cấp xã chưa nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị định số 80/NĐ-CP của Chính phủ, chưa quan tâm công tác tái hòa nhập cộng đồng, cũng như công tác bảo đảm quyền con người, còn “khoán trắng” cho lực lượng Công an cùng cấp dẫn tới

- Năng lực của chính quyền cấp xã chưa tương xứng về yêu cầu nhiệm vụ công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, nhất là khả năng tuyên truyền, giáo dục pháp luật, năng lực xây dựng phong trào vận động quần chúng nhân dân tham gia công tác bảo đảm quyền của dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, khả năng vận động, tranh thủ người có uy tín trong đồng bào vùng dân tộc thiểu số tham gia công tác này còn yếu. Còn có trường hợp chính quyền chưa nắm bắt kịp thời các thông tin liên quan đến từng người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương hoặc không nhanh chóng triển khai ngay kế hoạch yêu cầu người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương đến trụ sở Công an xã, phường, thị trấn trình diện vì cho rằng đối tượng được đặc xá, được miễn giảm án nên sẽ không tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

- Công tác giới thiệu, bố trí việc làm cho người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại địa phương gặp nhiều khó khăn do đặc điểm điều kiện kinh tế của tỉnh Bắc Kạn chưa phát triển, thiếu nguồn vốn, kinh phí hỗ trợ công tác dạy nghề, hướng nghiệp, hỗ trợ vốn để người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù có thể sản xuất, kinh doanh; trên địa bàn ít nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp.

- Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù còn rất hạn chế. Do địa bàn tỉnh là miền núi, vùng sâu, vùng xã, đi lại khó khăn, đồng bào người dân tộc thiểu số sống rải rác trên địa bàn rộng nên công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ thực hiện công tác tuyên truyền, phố biến, giáo dục pháp luật chủ yếu là làm công tác kiêm nhiệm, trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ còn hạn chế, chưa thực sự là đầu mối để chuyển tải pháp luật đến người dân, các mô hình “điểm” chưa có kinh phí để hoạt động, cũng là yếu tố tác động đến hiệu quả của công tác này.

2. Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại tỉnh Bắc Kạn

Ở nước ta, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội kết hợp chặt chẽ với nhau, trong đó lợi ích cá nhân được coi trọng (là mục tiêu, là động lực của sự phát triển xã hội, song cần chú trọng bảo đảm lợi ích của tập thể và cả cộng đồng dân tộc. Đây là quan điểm mang tính phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa, là sự ưu việt của chế độ này mà Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đã lựa chọn. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Do đó, công tác bảo đảm quyền của người chấp hành xong hình phạt tù tại tỉnh Bắc Kạn cần được quán triệt đầy đủ các quan điểm chỉ đạo:

- Công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù phải được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy, chính quyền các cấp; đồng thời phải có sự phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể và các đơn vị có liên quan, trong đó lực lượng Công an giữ vai trò nòng cốt. Nhà nước có trách nhiệm tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặc biệt là hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người theo Hiến pháp năm 2013; đưa các quy định pháp luật về quyền con người vào cuộc sống một cách hiệu quả, thiết thực, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, thừa nhận.

- Bảo đảm sự bình đẳng giữa các quyền, ưu tiên quyền của các nhóm yếu thế, thiểu số và quyền phát triển. Theo đó, tất cả các quyền con người đều gắn bó mật thiết, phụ thuộc lẫn nhau và không thể tách rời, phân chia. Mọi chủ thể của các quyền (cá nhân, nhóm xã hội, giới tính, dân tộc, chủng tộc) phải bảo đảm quyền ngang nhau của mọi quyền; bảo đảm quyền con người từng nước kết hợp với việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của các chủ thể quyền khác nhau trong xã hội. Trên cơ sở đó, ở mức độ nhất định, Đảng, Nhà nước ta quy định, thực hiện sự ưu tiên bảo đảm quyền phát triển và quyền an sinh xã hội đối với các nhóm yếu thế, thiểu số. Cụ thể đối với đối tượng là người dân tộc thiểu số, người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, Đảng, Nhà nước ta quy định các chính sách đối với vùng dân tộc thiểu số, người dân tộc thiểu số, hỗ trợ giúp đỡ đối tượng là người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, cụ thể, quy định, tổ chức thực hiện chính sách về công tác cảm hóa, giáo dục, hướng nghiệp, dạy nghề, hỗ trợ vay vốn phù hợp với đặc điểm, tình hình của địa phương. Tổ chức động viên, giáo dục, giúp đỡ kịp thời người chấp hành xong hình phạt tù để họ có ý thức vươn lên, tích cực lao động, học tập và tham gia các hoạt động xã hội, xóa đói, giảm nghèo, phòng ngừa tái phạm tội. Theo Điều 3 Nghị định số 80/2011/NĐ-CP ngày 16/9/2011 của Chính phủ quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù đã xác định nguyên tắc bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong hình phạt tù, cụ thể: (i) Thực hiện đúng quy định của Nghị định này và các quy định của pháp luật khác có liên quan; (ii) Tạo điều kiện thuận lợi cho người chấp hành xong hình phạt tù tái hòa nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống, phòng ngừa tái phạm và vi phạm pháp luật; (iii) Nghiêm cấm mọi hành vi kì thị, phân biệt đối xử hoặc xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người chấp hành xong hình phạt tù.

Trên cơ sở quán triệt những quan điểm trên, trong thời gian tới, các cơ quan, ban, ngành cần triển khai các giải pháp bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn như sau:

Ba là, hoàn thiện cơ chế phối hợp trong công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù.

Trước hết, cần xác định cấp ủy đảng, chính quyền các cấp chịu trách nhiệm về lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại địa phương, cần đề ra các chủ trương, biện pháp và chỉ đạo thực hiện công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù đến các ban, ngành, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, cá nhân, có trách nhiệm huy động sức mạnh của các hệ thống chính trị tham gia thực hiện nhiệm vụ này; định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết, khen thưởng đối với các tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù.

Xây dựng, triển khai có hiệu quả, thực chất quy chế phối hợp giữa lực lượng Công an tỉnh Bắc Kạn với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội về công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù. Các quy chế phối hợp này, cần được xây dựng dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng lực lượng, đơn vị và khả năng triển khai thực tế tại địa bàn cơ sở. Cơ chế phối hợp giữa Công an tỉnh Bắc Kạn với các ban, ngành, đoàn thể xã hội nhằm phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị và toàn xã hội trong giáo dục, cảm hóa người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù còn có hành vi vi phạm pháp luật tại cộng đồng dân cư. Công tác cảm hóa, giáo dục người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù cần gắn liền với giải quyết các điều kiện về kinh tế, xã hội, tạo ra nhiều việc làm cho họ. Đây là yếu tố quyết định giúp người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tiếp thu sự giáo dục của cộng đồng, cải tạo tiến bộ, trở thành người có ích cho xã hội, từ đó bảo đảm các quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù một cách tốt nhất.

Xây dụng chính sách tuyên truyền, phổ biến trên chuyên trang, chuyên mục có nội dung tuyên truyền, vận động về chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước của Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, Báo Bắc Kạn về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, tuyên truyền các mô hình, điển hình tiên tiến trong phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, phong trào phát triển kinh tế - xã hội, phong trào cách mạng khác có liên quan đến công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù mà nhân dân quan tâm, từ đó giúp quần chúng nhân dân hiểu, tích cực tham gia các nhiệm vụ, công tác bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, cũng như các quyền lợi chính đáng khác của người dân.

Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ với Tòa án nhân dân trong thực hiện cấp giấy chứng nhận xóa án tích khi người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù đủ điều kiện theo quy định pháp luật và phối hợp Sở Tư pháp, các đơn vị liên quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp khi người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù có nhu cầu.

Hai là, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động quần chúng nhân dân tham gia bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù.

- Nâng cao hiệu quả công tác vận động cá biệt, nhất là vận động, tranh phát huy vai trò của người có uy tín trong vùng dân tộc thiểu số, dòng họ của Công an Tỉnh Bắc Kan, nhất là lực lượng công an cấp xã để gặp gỡ, giáo dục, vận động, giúp đỡ người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù thực hiện tốt các đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương; kịp thời ghi nhận những thuận lợi, khó khăn của họ để tháo gỡ từng khó khăn đó. Công tác giáo dục, vận động, giúp đỡ đối với người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù cần kiên trì, trách nhiệm.

- Đổi mới hình thức tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tham gia bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, gắn liền với phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc và các phong trào cách mạng khác, trong đó, cần chú trọng hình thức tuyên truyền, vận động gắn liền hoạt động sản xuất, đời sống, hoạt động văn hóa, phù hợp với phong tục, tập quán, trình độ của đồng bào dân tộc thiểu số. Tổ chức in ấn, phát hành tài liệu tuyên truyền tới cấp làng, bản về những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, cũng như các chính sách liên quan đến vùng dân tộc thiểu số.

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, đạo đức lối sống cho người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù để họ nhận ra được ý nghĩa nhân văn của pháp luật Việt Nam, từ đó giúp họ có suy nghĩ tích cực, tự giác tu dưỡng, rèn luyện để sớm trở thành người có ích cho xã hội.

- Nghiên cứu, xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong công tác vận động quần chúng nhân dân tham gia bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù, nhất là các mô hình về dạy nghề, hướng nghiệp. Cần có kế hoạch cụ thể để xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình tiêu biểu, phù hợp với từng vùng, từng đối tượng và kinh phí hoạt động; tập trung xây dựng, nâng cao chất lượng hiệu quả các mô hình, điển hình tiên tiến về phong trào phát triển kinh tế, sản xuất, dạy nghề, hướng nghiệp và phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc. Gắn kết công tác xây dựng các mô hình, điển hình tiên tiến trong bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù với thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, với các phong trào cách mạng khác: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới”, “Xóa đói, giảm nghèo”…

Ba là, nâng cao hiệu quả công tác nắm tình hình, quản lý, giáo dục người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.

- Thường xuyên nắm tình hình, phân loại người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại địa phương thành hai nhóm đối tượng: đã xóa án tích nhưng vẫn có điều kiện tái phạm tội và chưa xóa án tích (đặc xá, mãn hạn tù), để có cơ sở thực hiện công tác quản lý, theo dõi, giáo dục, giúp đỡ người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tái hòa nhập cộng đồng, bảo đảm các quyền của họ; xác định các đối tượng thuộc diện “trọng điểm” trong công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ tái hòa nhập cộng đồng, phòng ngừa tái phạm tội. Đồng thời, tranh thủ tối đa người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong dòng họ, người thân thích, bạn bè, của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù để tác động, giáo dục, giúp đỡ họ trong cuộc sống, từ đó góp phần ngăn chặn tái phạm tội.

- Củng cố, tăng cường lực lượng Công an các cấp, nhất là Công an cấp xã, trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, giáo dục người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tại cơ sở; phân công nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể đến từng tập thể, cá nhân theo chức năng, nhiệm vụ. Đồng thời, nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp giữa lực lượng Công an với các lực lượng có liên quan trong công tác quản lý, giáo dục người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.

Bốn là, nâng cao nhận thức, trình độ của cán bộ, công chức của tỉnh, đặc biệt là chiến sĩ Công an tỉnh Bắc Kạn về bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.

Năm là, bảo đảm nguồn kinh phí dành cho công tác tái hòa nhập cộng đồng. Bên cạnh nguồn kinh phí dành do công tác tái hòa nhập cộng đồng từ ngân sách nhà nước thì cần huy động hiệu quả nguồn lực xã hội (ngoài kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước) để bổ sung thêm nguồn kinh phí hằng năm dành cho công tác tái hòa nhập cộng đồng. Trong đó, cần có chính sách cụ thể để huy động nguồn lực xã hội:

- Xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi, đặc thù địa bàn, lĩnh vực, tạo điều kiện thuận lợi đối với các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất, cá nhân tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, tạo nguồn việc làm dồi dào, làm cơ sở để thu hút, bố trí, sắp xếp người dân tộc thiểu số chấp hành xong hình phạt tù tiếp cận việc làm ( đi đôi với công tác dạy nghề thì cần bố trí việc làm phù hợp). Các cơ chế, chính sách ưu đãi của địa phương sẽ làm cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nhậnkhông chỉ thấy được trách nhiệm đối với cộng đồng, xã hội, địa phương, mà còn nhận thấy quyền lợi, ưu đãi của chính quyền khi tham gia đóng góp tích cực vào kinh phí tái hòa nhập cộng đồng nói riêng, công tác tái hòa nhập cộng đồng nói chung.

- Quán triệt, tuyên truyền đến các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân nhằm nâng cao nhận thức một cách đúng đắn về bản chất, mục tiêu xã hội hóa đóng góp kinh phí phục vụ công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù để huy động mọi nguồn lực và năng lực xã hội một cách tối đa,mạnh mẽ, toàn diện.

- Có hình thức khuyến khích, thu hút các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đóng góp vào nguồn Quỹ tái hòa nhập cộng đồng và tham gia tích cực công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù, như hằng năm có khen thưởng, tôn vinh xứng đáng, kịp thời và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến đối với các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có đóng góp nguồn kinh phí và tham gia tích cực, hiệu quả công tác tái hòa nhập cộng đồng trên địa bàn tỉnh./.

TS. Vũ Ngọc Hà

Học viện Chính trị khu vực I

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: