Chủ nhật 11/10/2026 06:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả ở Việt Nam hiện nay

Nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả ở Việt Nam hiện nay

Trong bài viết này, tác giả nêu lên những khó khăn, vướng mắc trong đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả ở Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này trong thời gian tới.

Theo báo cáo của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, Bộ Công an, từ năm 2012 đến năm 2022, lực lượng Cảnh sát kinh tế đã phát hiện, xử lý 9.716 vụ sản xuất, buôn bán hàng giả với 11.971 đối tượng; trong đó, đã khởi tố 3.186 vụ với 4.401 bị can; đã xử lý hành chính 6.281 vụ với 7.036 đối tượng; 349 vụ với 534 đối tượng đã được chuyển cho lực lượng khác xử lý. Số lượng hàng hóa bị thu giữ ước tính trị giá trên 338 tỷ đồng[1]. Trong những năm qua, lực lượng Cảnh sát kinh tế đã tích cực, chủ động tiến hành nhiều hoạt động phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả. Tuy nhiên, trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả vẫn còn gặp không ít khó khăn, vướng mắc, đòi hòi cần phải nghiên cứu giải pháp khắc phục.

1. Một số vướng mắc, bất cập trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, chưa có khái niệm cụ thể về hàng giả, tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả.

Hiện nay, để xác định hàng giả, có thể tham khảo tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Nghị định số 98/2020/NĐ-CP) dưới dạng 06 nhóm về hàng giả. Tuy nhiên, đây chỉ là nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính. Bên cạnh đó, tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả chỉ mới được quy định tại Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015), mà chưa có khái niệm cụ thể cho tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả.

Thứ hai, chưa có sự thống nhất khi định lượng giá trị hàng hóa.

Khi xác định tội sản xuất, buôn bán hàng giả và tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi cũng như định khung hình phạt đối với các tội phạm này và tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh thì một trong những yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng là xác định số lượng và giá trị hàng giả tương đương với hàng thật là bao nhiêu. Phần lớn việc xác định số lượng hàng giả dựa vào số lượng hàng mà cơ quan điều tra thu giữ được, sau đó có sự đối chiếu với bảng báo giá của nhà sản xuất hoặc đại diện của nhà sản xuất tại Việt Nam để định giá. Tuy nhiên, trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả và tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi, việc xác định số lượng hàng giả trong một số vụ án còn chưa có sự thống nhất.

Thứ ba, còn tình trạng nhầm lẫn với một số tội phạm khác.

- Nhầm lẫn với tội lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản: Vì tính chất của các hành vi phạm tội ở hai tội này đều là tính chất gian dối, chính vì vậy, trong lý luận cũng như trong thực tiễn, việc phân biệt hai hành vi này là cần thiết.

- Nhầm lẫn với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp: Từ trước đến nay, phân biệt các tội về hàng giả với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp luôn là vấn đề còn nhiều tranh cãi. Trên cơ sở khái niệm về hàng giả được quy định tại khoản 7 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, có thể phân loại thành ba loại sau: (i) Hàng giả về nội dung (hay giả về chất lượng, giá trị sử dụng của hàng hóa); (ii) Hàng giả về hình thức (giả về kiểu dáng, nhãn hiệu, tên gọi, xuất xứ… hàng hóa); (iii) Hàng giả cả về nội dung và hình thức.

Đối tượng tác động của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam. Đối tượng tác động của các tội phạm về hàng giả đương nhiên là hàng giả. Tuy nhiên, như vậy, đã có sự chồng chéo khi có trường hợp hành vi phạm tội giả về hình thức hoặc giả cả về nội dung và hình thức, mà cụ thể hơn nữa là sử dụng nhãn hiệu hàng hóa giả hoặc sử dụng trái phép về chỉ dẫn địa lý được in trên nhãn hàng hóa thì xử lý như thế nào.

Cho đến nay, cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thống nhất đường lối xử lý về đối tượng hàng hóa nào được coi là hàng giả về nhãn hiệu và loại hàng hóa nào được coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý. Nhiều quan điểm cho rằng, nếu sản xuất hàng hóa mang nhãn hiệu của cơ sở sản xuất khác hay vi phạm về chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam (chỉ giả về hình thức) nhưng chất lượng hay công dụng của hàng hóa tương đương với hàng thật thì coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Còn trường hợp sản xuất hàng hóa mang nhãn hiệu của cơ sở sản xuất khác hay nguồn gốc hàng hóa, chỉ dẫn địa lý không đúng và về chất lượng hàng hóa (công dụng) không bảo đảm thì phải xử lý về tội sản xuất hàng giả.

Thứ tư, chưa phân định rõ giữa hàng kém chất lượng và hàng giả.

Tại Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT ngày 27/4/2000 của Bộ Thương mại, Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tướng chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả có đưa ra khái niệm về hàng giả và hàng kém chất lượng. Hiện nay, trong các văn bản pháp luật hiện hành không còn ghi nhận về hàng kém chất lượng mà chỉ quy định về hàng giả tại Nghị định số 98/2020/NĐ-CP. Tuy nhiên, trong thực tiễn, cần phân biệt giữa hàng kém chất lượng với hàng giả. Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 đang có hiệu lực thi hành nhưng căn cứ để phân biệt các tội phạm trên chưa rõ ràng, đồng thời với tình hình tội phạm đang diễn ra phức tạp như hiện nay, nếu không có văn bản hướng dẫn thống nhất, sẽ rất khó cho cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử các vụ án về hàng giả.

Thứ năm, vướng mắc khi định tội, định khung tăng nặng.

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thay thế những tình tiết định tính trong Bộ luật Hình sự năm 1999 bằng những tình tiết định lượng. Tuy nhiên, khi nghiên cứu các vụ án về hàng giả, mặc dù áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 thời điểm đó chưa có vấn đề nhưng đến Bộ luật Hình sự năm 2015, nếu áp dụng thì sẽ dẫn đến một số khó khăn, vướng mắc, cụ thể như việc áp dụng các tình tiết: “Hàng giả tương đương với hàng thật”, “thu lợi bất chính” và “gây thiệt hại về tài sản”. Đây không chỉ là các tình tiết định tội mà còn là tình tiết định khung tăng nặng của các tội phạm về hàng giả. Thông thường, trước đây, khi trưng cầu giám định, cơ quan điều tra sẽ gửi công văn yêu cầu mẫu giám định từ đơn vị sản xuất hoặc đơn vị được cấp phép nhập khẩu, lưu hành sản phẩm đó. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các đơn vị này lại có thêm yêu cầu người phạm tội phải bồi thường dân sự do những thiệt hại bởi hành vi của người phạm tội gây ra. Hoặc, cũng có những trường hợp, cơ quan điều tra xác định được hành vi của bị cáo đã thu lợi bất chính. Vậy câu hỏi đặt ra là, trong trường hợp này, nếu áp dụng theo Bộ luật Hình sự năm 2015 thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ căn cứ vào tình tiết nào để khởi tố, truy tố và xét xử.

Thứ sáu, vướng mắc khi xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.

Một điểm mới trong nhóm các tội phạm về hàng giả khi quy định pháp nhân thương mại cũng có thể là chủ thể của tội phạm này. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, khi nào sẽ xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Khi nghiên cứu các vụ án về hàng giả, tác giả nhận thấy, nhiều vụ án người phạm tội đã có hành vi thành lập pháp nhân và nhân danh pháp nhân thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả. Vậy, trong trường hợp nào pháp nhân thương mại sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này?

Theo khoản 2 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân” nên việc các bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự không có sự thay đổi. Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại với ba điều kiện sau: (i) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; (ii) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; (iii) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại. Tuy nhiên, điều kiện hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại hay không thì cần được cân nhắc.

2. Một số kiến nghị

Một là, cần đưa ra khái niệm về hàng giả; hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi. Thực tế hiện nay, để xác định hàng giả, sẽ dựa vào Nghị định số 98/2020/NĐ-CP. Tuy nhiên, đây chỉ là nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính. Để tránh trường hợp vướng mắc giữa các luật khi áp dụng, cần sớm có văn bản hướng dẫn thi hành về nội dung này. Mặt khác, nếu viện dẫn về khái niệm hàng giả như hiện nay thì việc phân biệt với một số tội phạm khác, đặc biệt với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp khá khó khăn khi đối tượng là hàng giả của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả (về hình thức) và hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đều có nội dung giống nhau, đó là sử dụng nhãn hiệu hàng hóa giả hay sử dụng trái phép về chỉ dẫn địa lý được in trên nhãn hàng hóa. Như vậy, trong trường hợp hàng giả về hình thức và hàng xâm phạm sở hữu trí tuệ đối với kiểu dáng công nghiệp và các đối tượng chỉ dẫn thương mại như: Nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý… thì việc xử lý theo tội danh nào chưa được giải quyết.

Theo đó, nếu đưa ra khái niệm hàng giả là đối tượng tác động của các tội phạm về hàng giả, cần quy định cụ thể: “Hàng hóa thuộc một trong các trường hợp sau đây là hàng giả: (i) Trường hợp giả về nội dung: Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dư chất, có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký, không đủ loại dược chất đã đăng ký, có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất, có hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa. (ii) Trường hợp giả về hình thức (giả mạo hàng hóa, bao bì hàng hóa), bao gồm: Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa mà chất lượng không tương xứng với tiêu chuẩn chất lượng hàng thật; hàng hóa giả mạo tên thương mại, tên thương phẩm hàng hóa, mã số đăng ký lưu hành, mã vạch, kiểu dáng công nghiệp, bao bì hàng hóa của thương nhân khác. (iii) Trường hợp các sản phẩm là tem, nhãn, bao bì giả cũng được coi là hàng giả”.

Hai là, cần ban hành văn bản hướng dẫn để phân biệt cả tội phạm về hàng giả hoặc các loại tội phạm khác, đặc biệt đối với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có hiệu lực thi hành nhưng căn cứ để phân biệt các tội phạm trên chưa rõ, đồng thời, với tình hình tội phạm đang diễn ra phức tạp như hiện nay, nếu không có văn bản hướng dẫn thống nhất sẽ rất khó cho cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra truy tố và xét xử các vụ án về hàng giả nói riêng và các loại tội phạm khác nói chung.

Ba là, cần ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất về định lượng giá trị hàng hóa như “hàng giả tương đương với hàng thật”, “thu lợi bất chính” và “gây thiệt hại về tài sản” và trách nhiệm của pháp nhân thương mại trong khi thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả nhằm bảo đảm tính thống nhất trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả.

ThS. Trần Quốc Tuấn

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Báo cáo tổng kết của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, Bộ Công an Việt Nam.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: