Thứ ba 10/02/2026 18:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả ở Việt Nam hiện nay

Nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả ở Việt Nam hiện nay

Trong bài viết này, tác giả nêu lên những khó khăn, vướng mắc trong đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả ở Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này trong thời gian tới.

Theo báo cáo của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, Bộ Công an, từ năm 2012 đến năm 2022, lực lượng Cảnh sát kinh tế đã phát hiện, xử lý 9.716 vụ sản xuất, buôn bán hàng giả với 11.971 đối tượng; trong đó, đã khởi tố 3.186 vụ với 4.401 bị can; đã xử lý hành chính 6.281 vụ với 7.036 đối tượng; 349 vụ với 534 đối tượng đã được chuyển cho lực lượng khác xử lý. Số lượng hàng hóa bị thu giữ ước tính trị giá trên 338 tỷ đồng[1]. Trong những năm qua, lực lượng Cảnh sát kinh tế đã tích cực, chủ động tiến hành nhiều hoạt động phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả. Tuy nhiên, trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả vẫn còn gặp không ít khó khăn, vướng mắc, đòi hòi cần phải nghiên cứu giải pháp khắc phục.

1. Một số vướng mắc, bất cập trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, chưa có khái niệm cụ thể về hàng giả, tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả.

Hiện nay, để xác định hàng giả, có thể tham khảo tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Nghị định số 98/2020/NĐ-CP) dưới dạng 06 nhóm về hàng giả. Tuy nhiên, đây chỉ là nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính. Bên cạnh đó, tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả chỉ mới được quy định tại Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015), mà chưa có khái niệm cụ thể cho tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả.

Thứ hai, chưa có sự thống nhất khi định lượng giá trị hàng hóa.

Khi xác định tội sản xuất, buôn bán hàng giả và tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi cũng như định khung hình phạt đối với các tội phạm này và tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh thì một trong những yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng là xác định số lượng và giá trị hàng giả tương đương với hàng thật là bao nhiêu. Phần lớn việc xác định số lượng hàng giả dựa vào số lượng hàng mà cơ quan điều tra thu giữ được, sau đó có sự đối chiếu với bảng báo giá của nhà sản xuất hoặc đại diện của nhà sản xuất tại Việt Nam để định giá. Tuy nhiên, trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả và tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi, việc xác định số lượng hàng giả trong một số vụ án còn chưa có sự thống nhất.

Thứ ba, còn tình trạng nhầm lẫn với một số tội phạm khác.

- Nhầm lẫn với tội lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản: Vì tính chất của các hành vi phạm tội ở hai tội này đều là tính chất gian dối, chính vì vậy, trong lý luận cũng như trong thực tiễn, việc phân biệt hai hành vi này là cần thiết.

- Nhầm lẫn với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp: Từ trước đến nay, phân biệt các tội về hàng giả với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp luôn là vấn đề còn nhiều tranh cãi. Trên cơ sở khái niệm về hàng giả được quy định tại khoản 7 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, có thể phân loại thành ba loại sau: (i) Hàng giả về nội dung (hay giả về chất lượng, giá trị sử dụng của hàng hóa); (ii) Hàng giả về hình thức (giả về kiểu dáng, nhãn hiệu, tên gọi, xuất xứ… hàng hóa); (iii) Hàng giả cả về nội dung và hình thức.

Đối tượng tác động của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam. Đối tượng tác động của các tội phạm về hàng giả đương nhiên là hàng giả. Tuy nhiên, như vậy, đã có sự chồng chéo khi có trường hợp hành vi phạm tội giả về hình thức hoặc giả cả về nội dung và hình thức, mà cụ thể hơn nữa là sử dụng nhãn hiệu hàng hóa giả hoặc sử dụng trái phép về chỉ dẫn địa lý được in trên nhãn hàng hóa thì xử lý như thế nào.

Cho đến nay, cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thống nhất đường lối xử lý về đối tượng hàng hóa nào được coi là hàng giả về nhãn hiệu và loại hàng hóa nào được coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý. Nhiều quan điểm cho rằng, nếu sản xuất hàng hóa mang nhãn hiệu của cơ sở sản xuất khác hay vi phạm về chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam (chỉ giả về hình thức) nhưng chất lượng hay công dụng của hàng hóa tương đương với hàng thật thì coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Còn trường hợp sản xuất hàng hóa mang nhãn hiệu của cơ sở sản xuất khác hay nguồn gốc hàng hóa, chỉ dẫn địa lý không đúng và về chất lượng hàng hóa (công dụng) không bảo đảm thì phải xử lý về tội sản xuất hàng giả.

Thứ tư, chưa phân định rõ giữa hàng kém chất lượng và hàng giả.

Tại Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT ngày 27/4/2000 của Bộ Thương mại, Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tướng chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả có đưa ra khái niệm về hàng giả và hàng kém chất lượng. Hiện nay, trong các văn bản pháp luật hiện hành không còn ghi nhận về hàng kém chất lượng mà chỉ quy định về hàng giả tại Nghị định số 98/2020/NĐ-CP. Tuy nhiên, trong thực tiễn, cần phân biệt giữa hàng kém chất lượng với hàng giả. Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 đang có hiệu lực thi hành nhưng căn cứ để phân biệt các tội phạm trên chưa rõ ràng, đồng thời với tình hình tội phạm đang diễn ra phức tạp như hiện nay, nếu không có văn bản hướng dẫn thống nhất, sẽ rất khó cho cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử các vụ án về hàng giả.

Thứ năm, vướng mắc khi định tội, định khung tăng nặng.

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thay thế những tình tiết định tính trong Bộ luật Hình sự năm 1999 bằng những tình tiết định lượng. Tuy nhiên, khi nghiên cứu các vụ án về hàng giả, mặc dù áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 thời điểm đó chưa có vấn đề nhưng đến Bộ luật Hình sự năm 2015, nếu áp dụng thì sẽ dẫn đến một số khó khăn, vướng mắc, cụ thể như việc áp dụng các tình tiết: “Hàng giả tương đương với hàng thật”, “thu lợi bất chính” và “gây thiệt hại về tài sản”. Đây không chỉ là các tình tiết định tội mà còn là tình tiết định khung tăng nặng của các tội phạm về hàng giả. Thông thường, trước đây, khi trưng cầu giám định, cơ quan điều tra sẽ gửi công văn yêu cầu mẫu giám định từ đơn vị sản xuất hoặc đơn vị được cấp phép nhập khẩu, lưu hành sản phẩm đó. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các đơn vị này lại có thêm yêu cầu người phạm tội phải bồi thường dân sự do những thiệt hại bởi hành vi của người phạm tội gây ra. Hoặc, cũng có những trường hợp, cơ quan điều tra xác định được hành vi của bị cáo đã thu lợi bất chính. Vậy câu hỏi đặt ra là, trong trường hợp này, nếu áp dụng theo Bộ luật Hình sự năm 2015 thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ căn cứ vào tình tiết nào để khởi tố, truy tố và xét xử.

Thứ sáu, vướng mắc khi xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.

Một điểm mới trong nhóm các tội phạm về hàng giả khi quy định pháp nhân thương mại cũng có thể là chủ thể của tội phạm này. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, khi nào sẽ xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Khi nghiên cứu các vụ án về hàng giả, tác giả nhận thấy, nhiều vụ án người phạm tội đã có hành vi thành lập pháp nhân và nhân danh pháp nhân thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả. Vậy, trong trường hợp nào pháp nhân thương mại sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này?

Theo khoản 2 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân” nên việc các bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự không có sự thay đổi. Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại với ba điều kiện sau: (i) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; (ii) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; (iii) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại. Tuy nhiên, điều kiện hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại hay không thì cần được cân nhắc.

2. Một số kiến nghị

Một là, cần đưa ra khái niệm về hàng giả; hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi. Thực tế hiện nay, để xác định hàng giả, sẽ dựa vào Nghị định số 98/2020/NĐ-CP. Tuy nhiên, đây chỉ là nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính. Để tránh trường hợp vướng mắc giữa các luật khi áp dụng, cần sớm có văn bản hướng dẫn thi hành về nội dung này. Mặt khác, nếu viện dẫn về khái niệm hàng giả như hiện nay thì việc phân biệt với một số tội phạm khác, đặc biệt với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp khá khó khăn khi đối tượng là hàng giả của hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả (về hình thức) và hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đều có nội dung giống nhau, đó là sử dụng nhãn hiệu hàng hóa giả hay sử dụng trái phép về chỉ dẫn địa lý được in trên nhãn hàng hóa. Như vậy, trong trường hợp hàng giả về hình thức và hàng xâm phạm sở hữu trí tuệ đối với kiểu dáng công nghiệp và các đối tượng chỉ dẫn thương mại như: Nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý… thì việc xử lý theo tội danh nào chưa được giải quyết.

Theo đó, nếu đưa ra khái niệm hàng giả là đối tượng tác động của các tội phạm về hàng giả, cần quy định cụ thể: “Hàng hóa thuộc một trong các trường hợp sau đây là hàng giả: (i) Trường hợp giả về nội dung: Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dư chất, có dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký, không đủ loại dược chất đã đăng ký, có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất, có hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa. (ii) Trường hợp giả về hình thức (giả mạo hàng hóa, bao bì hàng hóa), bao gồm: Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa mà chất lượng không tương xứng với tiêu chuẩn chất lượng hàng thật; hàng hóa giả mạo tên thương mại, tên thương phẩm hàng hóa, mã số đăng ký lưu hành, mã vạch, kiểu dáng công nghiệp, bao bì hàng hóa của thương nhân khác. (iii) Trường hợp các sản phẩm là tem, nhãn, bao bì giả cũng được coi là hàng giả”.

Hai là, cần ban hành văn bản hướng dẫn để phân biệt cả tội phạm về hàng giả hoặc các loại tội phạm khác, đặc biệt đối với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có hiệu lực thi hành nhưng căn cứ để phân biệt các tội phạm trên chưa rõ, đồng thời, với tình hình tội phạm đang diễn ra phức tạp như hiện nay, nếu không có văn bản hướng dẫn thống nhất sẽ rất khó cho cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra truy tố và xét xử các vụ án về hàng giả nói riêng và các loại tội phạm khác nói chung.

Ba là, cần ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất về định lượng giá trị hàng hóa như “hàng giả tương đương với hàng thật”, “thu lợi bất chính” và “gây thiệt hại về tài sản” và trách nhiệm của pháp nhân thương mại trong khi thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả nhằm bảo đảm tính thống nhất trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả.

ThS. Trần Quốc Tuấn

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Báo cáo tổng kết của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, Bộ Công an Việt Nam.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: