Thứ sáu 16/01/2026 21:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong thời gian tới

Công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được triển khai đã tạo ra ‘‘cú hích” trong việc triển khai công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại các bộ, ngành trung ương. Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Quốc phòng, Bộ Công thương... đã triển khai mạnh mẽ công tác hỗ trợ pháp luật cho doanh nghiệp trong lĩnh vực, ngành do mình quản lý.

Đánh giá kết quả bước đầu trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ở Việt Nam, nhất là từ thời điểm năm 2008 đến nay, khi Chính phủ ban hành Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 585/QĐ-TTg ngày 05/5/2010 phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2010 - 2014, Giáo sư Steve Van Houten - Chuyên gia tư vấn cao cấp của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tư vấn cho Bộ Tư pháp trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đã cho rằng, công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam đã có tác động mạnh mẽ tới các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp và các doanh nghiệp như sau:

Thứ nhất, đối với bộ, ngành trung ương

Công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được triển khai đã tạo ra ‘‘cú hích” trong việc triển khai công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại các bộ, ngành trung ương. Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Quốc phòng, Bộ Công thương... đã triển khai mạnh mẽ công tác hỗ trợ pháp luật cho doanh nghiệp trong lĩnh vực, ngành do mình quản lý.

Thứ hai, đối với Ủy ban nhân dân, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Trên cơ sở Kế hoạch của Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã triển khai mạnh mẽ công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại các địa phương, thông qua các hoạt động của Chương trình, các địa phương triển khai trọng điểm như: Quảng Bình, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc... đã tích cực triển khai các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại địa phương. Cũng trên cơ sở Chương trình hỗ trợ liên ngành, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương như: TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Khánh Hoà... đã xây dựng và thực hiện Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại địa phương mình.

Thứ ba, đối với các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp

Việc triển khai mạnh mẽ các hoạt động của Chương trình trong năm 2013 đã tạo ra ‘‘một luồng gió mới” trong công tác hỗ trợ pháp lý cho các hội viên của các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp trên cả nước. Thực tế trong thời gian qua, công tác hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp hội viên được các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp coi trọng, nhưng do không có nguồn lực thực hiện, nên chưa được triển khai có hiệu quả. Việc Nhà nước ban hành và tổ chức triển khai Chương trình đã giúp cho các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp được ‘‘tiếp thêm sức mạnh” trong công tác hỗ trợ các hội viên doanh nghiệp của mình thông qua thông tin, bồi dưỡng kiến thức pháp luật kinh doanh cho doanh nghiệp... nâng cao vai trò của các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp. Tiêu biểu như: Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Câu lạc bộ pháp chế doanh nghiệp, Hiệp hội Doanh nghiệp Công nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam...

Thứ tư, đối với các doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp được thụ hưởng các hoạt động của Chương trình (nhất là doanh nghiệp tại các tỉnh làm điểm như Hà Nội, Quảng Bình, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc...) trong năm 2013 vừa qua, doanh nghiệp đã được thông tin, giải đáp pháp luật, góp phần tháo gỡ các khó khăn pháp lý trong quá trình thực hiện pháp luật liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp thông qua các tọa đàm, bồi dưỡng, bản tin hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp... Thông qua các chương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ,... các cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp, cán bộ pháp chế được cập nhật kiến thức về pháp luật kinh doanh, kỹ năng nghiệp vụ trong công tác pháp chế, góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, hạn chế rủi ro pháp lý trong kinh doanh.

1. Sự cần thiết hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp Việt Nam

Doanh nghiệp là cộng đồng quan trọng nhất trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế và năm 2013 là năm doanh nghiệp phải tiếp tục trải qua một năm đầy khó khăn. Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho biết, ước tính năm nay có khoảng 60.737 doanh nghiệp khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động, tăng 12% so với năm trước. Phần lớn trong số này là chọn cách chết một cách ‘‘im lặng” khi có tới 40.116 doanh nghiệp ngừng hoạt động, nhưng không đăng ký. Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng nhất là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo… việc các doanh nghiệp chết và giải thể, phá sản có thể sẽ kéo theo sự thất nghiệp, khó khăn trong việc làm, khó khăn cho nền kinh tế và có thể gây mất ổn định, an ninh, xã hội.

Vẫn biết rằng, việc các doanh nghiệp phá sản cũng là chuyện bình thường. Nếu doanh nghiệp không thích ứng được với những thay đổi của mô hình tăng trưởng mới, không đáp ứng được yêu cầu phát triển mới thì buộc phải phá sản. Đây chính là lúc tốt nhất để loại bỏ những doanh nghiệp không còn phù hợp với nền kinh tế mới. Tuy rằng, nguyên nhân khiến doanh nghiệp phá sản đúng là phần lớn do kinh tế khó khăn, nhưng đây cũng là hệ quả tất yếu khi doanh nghiệp không thích ứng được thì phải chấp nhận ra đi. Tuy nhiên, Nhà nước cần phải có các biện pháp để nhanh chóng tháo gỡ các vướng mắc về mặt thể chế, các vướng mắc pháp lý trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và nhận thức pháp lý của doanh nghiệp, đồng thời tăng cường năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, hạn chế các rủi ro pháp lý trong quá trình sản xuất kinh doanh như hiện nay.

Theo ý kiến của Tổng Giám đốc một Tập đoàn xây dựng tại một cuộc tọa đàm gần đây (do Ban Quản lý Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2010 - 2014 của Bộ Tư pháp tổ chức) đã chia sẻ: “Doanh nghiệp tôi đã thoát “án tử” nhờ được kịp thời tư vấn và hỗ trợ pháp luật”. Khi doanh nghiệp tham gia thị trường thì rất nhiều rủi ro pháp lý, mà doanh nghiệp thường sẽ gặp phải như: Rủi ro trong việc tranh chấp giữa các thành viên công ty; rủi ro trong việc tranh chấp với chính người lao động của doanh nghiệp mình; rủi ro trong việc tổ chức vận hành hoạt động và cơ cấu nội bộ của công ty; rủi ro trong hoạt động kinh doanh; rủi ro trong vay vốn tín dụng… và thực tế là ngay cả khi doanh nghiệp phá sản (chết) thì cũng có rủi ro là “chết nhưng không được chôn”.

Ngoài ra, việc được biết các thông tin pháp lý, các kiến thức pháp luật về kinh doanh đối với doanh nghiệp là rất cần thiết. Rất nhiều doanh nghiệp khi tham gia thị trường, nhưng không nắm rõ quy định của Luật Doanh nghiệp, sự quan trọng của Bản Điều lệ doanh nghiệp, dẫn đến việc tranh chấp thường xảy ra trong nội bộ doanh nghiệp; doanh nghiệp không nắm rõ quy định pháp luật về đấu thầu, nên thường thua thiệt trong hoạt động đấu thầu; doanh nghiệp không nắm rõ quy định pháp luật thương mại quốc tế, nên bị Chính phủ nước ngoài bắt giữ tàu biển, phong tỏa tài khoản ở nước ngoài… đấy là những vấn đề pháp lý rất cần được Nhà nước đặc biệt quan tâm hỗ trợ, bởi bản thân doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa như ở Việt Nam khó có thể tự mình thực hiện được và nhất là trong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay, doanh nghiệp cần hơn hết là sự hỗ trợ về mặt pháp lý từ Nhà nước để tăng cường năng lực cạnh tranh của mình.

2. Đề xuất, kiến nghị triển khai hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam

Kinh nghiệm của một số nước cho thấy, việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa là rất cần thiết. Tại Hàn Quốc, Nhật Bản… công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa được giao cho Bộ Tư pháp hoặc Bộ Lập pháp quản lý. Ở Việt Nam, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đã thống nhất việc thực hiện và triển khai đồng bộ hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên cả nước. Để thúc đẩy hoạt động này, ngày 05/5/2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2010 - 2014 và tiếp sau đó hàng loạt tỉnh, thành phố trên cả nước đã xây dựng và ban hành Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên địa bản tỉnh, thành phố của mình như: Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên địa bàn TP. Hà Nội; Quyết địnhcủa Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh… Đến cuối năm 2013, 100% tỉnh, thành phố trên cả nước đã ban hành các kế hoạch, chương trình trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Điều đó đã thể hiện sự quan tâm tích cực của Nhà nước đối với công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay, tuy nhiên, theo ý kiến của các chuyên gia, thì kết quả trong công tác pháp lý cho doanh nghiệp tại Việt Nam cũng mới đạt được những kết quả đáng khích lệ bước đầu và được cộng đồng doanh nghiệp đón nhận, nhưng hoạt động này cần phải đẩy mạnh hơn nữa trong thời gian tới. Để thực hiện được điều đó, Nhà nước cần quan tâm đẩy mạnh hơn các hoạt động này thông qua việc xây dựng một thiết chế đủ mạnh để thực hiện công tác này trong thời gian tới. Cụ thể như:

Thứ nhất, về phía Nhà nước, mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị định số 66/2008/NĐ-CP và Quyết định số 585/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn năm 2010 - 2014, nhưng công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp mới cũng chỉ đạt được những kết quả bước đầu. Bộ phận quản lý nhà nước về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cần được xây dựng để có đủ cơ sở, vị trí pháp lý thực hiện tốt công tác quản lý hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên phạm vi cả nước. Đầu mối này là đầu mối chung để chỉ đạo hướng dẫn công tác này trên cả nước với tư cách là một Cục Quản lý công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp hoặc Trung tâm hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thuộc Bộ Tư pháp hoặc Bộ Kế hoạch và đầu tư, đầu mối này được giao trách nhiệm thống nhất quản lý công tác này trên cả nước và là đầu mối xây dựng và phát triển Trang thông tin chính thức về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (đề xuất của Luật sư Trương Thanh Đức, nguyên Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam; Báo cáo kết quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp năm 2012 - 2013 và đề xuất của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc… gửi Bộ Tư pháp).

Thứ hai, về phía địa phương, 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong thời gian qua đã xây dựng và ban hành các chương trình, kế hoạch để triển khai mạnh mẽ công tác này, nhiều tỉnh, thành đã ban hành các kế hoạch, chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đến năm 2020. Đặc biệt như Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội đã phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên địa bàn thành phố và bố trí một khoản kinh phí là 6 tỷ đồng dành cho công tác này; TP. Hồ Chí Minh đã phê duyệt Đề án và bố trí hàng chục tỷ đồng dành cho công tác này. Đầu mối triển khai công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ở địa phương được giao cho các Sở Tư pháp và theo đề xuất của các Ủy ban nhân dân và Sở Tư pháp, thì cần có một đầu mối được thành lập như Trung tâm hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp do Sở Tư pháp quản lý để thực hiện hiệu quả công tác này trên địa bàn tỉnh, thành phố (đề xuất của Ủy ban nhân dân TP. Đà Nẵng, tỉnh Đồng Nai… gửi Bộ Tư pháp).

Thứ ba, về kinh phí thực hiện. Trong thời gian qua, kinh phí dành cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp bước đầu đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, tuy nhiên, so với nhu cầu của doanh nghiệp thì “như muối bỏ biển”. Theo ý kiến của chuyên gia, nếu tính tổng kính phí vài chục tỷ đồng Nhà nước dành cho công tác này trên cả nước trong những năm vừa qua thì tính ra mỗi doanh nghiệp đề xuất nhu cầu hỗ trợ cũng chỉ nhận được lợi ích tương đương một cuốn sách pháp luật trị giá 10.000đ (một nửa đôla Mỹ) (sẽ là quá thấp nếu so sánh với mức hỗ trợ pháp lý cho một doanh nghiệp của Chính phủ Hàn Quốc là 2 triệu Won – tương được 2.000 đô la Mỹ/năm). Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, ngoài những gói hỗ trợ hàng chục ngàn tỷ đồng (ví dụ gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng cho thị trường bất động sản…) thì công tác này thực sự vẫn chưa được quan tâm và triển khai mạnh mẽ, trong khi đó lợi ích từ việc doanh nghiệp được tăng cường năng lực thông qua việc hỗ trợ pháp lý là khó có thể tính được, nó góp phần giúp doanh nghiệp vực dậy để phát triển bền vững hoặc chí ít thì “nếu chết cũng được chôn” (hỗ trợ thực hiện phá sản doanh nghiệp)

Trần Minh Sơn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: