Thứ hai 24/08/2026 07:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật về môi trường tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An

Bài viết bàn về công tác tổ chức thực hiện pháp luật về môi trường tại một số khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An, phân tích một số hạn chế, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất những giải pháp khắc phục.

1. Công tác bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An

Tỉnh Long An là một trong 08 địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, bao gồm 01 thành phố, 01 thị xã, 13 huyện với tổng diện tích là 4.492 km², dân số trên 1,7 triệu người. Long An có vị trí địa lý đặc biệt, là cửa ngõ nối vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Nam Bộ. Phía Đông giáp Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh, phía Bắc giáp tỉnh Svay Rieng (Vương Quốc Campuchia), phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp và phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang. Ngoài vị trí chiến lược, Long An còn có nhiều lợi thế khác như điều kiện tự nhiên thuận lợi; cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện với hệ thống giao thông liên hoàn; các khu công nghiệp đáp ứng cả về số lượng cũng như được đầu tư hoàn thiện về hạ tầng. Hiện nay, toàn tỉnh có 35 khu công nghiệp, 63 cụm công nghiệp, trong đó 16 khu công nghiệp, 22 cụm công nghiệp đang hoạt động với diện tích 2.323,03 ha, tỷ lệ lấp đầy khoảng 87,6%. Các khu công nghiệp đã thu hút được 1.622 dự án đầu tư, trong đó có 793 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư 4.543,6 triệu USD và 829 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư 92.219 tỷ đồng. Tất cả các khu công nghiệp đều đã lắp đặt và vận hành hệ thống quan trắc tự động nước thải và truyền dữ liệu về Sở Tài nguyên và môi trường để theo dõi[1]. Công tác thu gom, xử lý rác thải công nghiệp được các doanh nghiệp thực hiện khá tốt, tỷ lệ thu gom chất thải rắn công nghiệp ước tính đạt khoảng 90% (khoảng 10% chất thải rắn công nghiệp còn lại doanh nghiệp tái sử dụng hoặc lưu kho).

Bên cạnh những kết quả đạt được về kinh tế, xã hội do các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh mang lại thì tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp ngày càng phức tạp hơn. Trong năm 2022, qua thanh, kiểm tra gồm: Vi phạm trong khai thác khoáng sản, tài nguyên nước, bảo vệ môi trường trong sản xuất kinh doanh..., ngành chức năng tỉnh Long An đã ban hành 63 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền xử phạt hơn 4,9 tỷ đồng[2]. Các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của nhiều doanh nghiệp chủ yếu là: Xả thẳng nước thải chưa qua xử lý ra môi trường; nước thải sau xử lý cục bộ không đạt tiêu chuẩn đúng quy định; chưa xử lý khí thải, mùi hôi; các loại rác thải sinh hoạt công nghiệp, chất thải nguy hại chưa được phân loại; chưa đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại; chưa chuyển giao xử lý chất thải nguy hại đúng quy định; khai thác sử dụng các giếng nước ngầm không có giấy phép; lắp đặt đường ống, máy bơm, bơm nước thải chưa qua xử lý ra môi trường… Có thể kể đến “điểm nóng” ô nhiễm môi trường đã được báo chí đăng tải, đó là cụm công nghiệp Hoàng Gia (huyện Đức Hòa, tỉnh Long An)[3].

Trước đây, dự án Khu dân cư Gò Đen cũng là một điểm “nóng”, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, được cử tri kiến nghị nhiều trong các cuộc tiếp xúc với đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội tỉnh. Thế nhưng, với sự chỉ đạo quyết liệt của tỉnh, huyện, địa phương, đến nay tình trạng rác thải sinh hoạt vứt tràn lan tại khu vực này cơ bản đã được giải quyết. Thông tin từ Ủy ban nhân dân xã Phước Lợi, các hội, đoàn thể thường xuyên ra quân quét dọn, thu gom rác, trồng cây xanh và tăng cường tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường[4].

Trong những năm qua, mặc dù các cấp, các ngành nói chung và lực lượng Cảnh sát kinh tế, môi trường nói riêng đã thực hiện rất nhiều các giải pháp để thực hiện bảo vệ môi trường nói chung và tại các khu công nghiệp nói riêng đã đạt nhiều kết quả nhất định. Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp vẫn còn diễn biến phức tạp, có thể kể đến một số nguyên nhân sau:

- Phần lớn các cơ sở sản xuất, tổ chức kinh tế tại các khu công nghiệp chưa quan tâm đầu tư đúng mức đến công tác bảo vệ môi trường, vẫn còn tình trạng chưa chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về công tác bảo vệ môi trường; công nghệ máy móc sản xuất ở một số doanh nghiệp đã lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ, không đủ năng lực tài chính, kỹ thuật để đầu tư công nghệ xử lý chất thải hiện đại.

- Một số quy định của pháp luật về truy cứu trách nhiệm hình sự, thủ tục tố tụng hình sự của pháp nhân thương mại trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành khi triển khai vẫn còn có những vướng mắc (trình tự, thủ tục, điều kiện áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội, phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại, xác định thiệt hại…) nên đến nay chưa có pháp nhân thương mại nào tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An bị xử lý theo thủ tục tố tụng hình sự về hành vi gây ô nhiễm môi trường. Trong các vi phạm pháp luật về môi trường của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp gây ra là thiệt hại về tài sản, sức khỏe của nhân dân sinh sống xung quanh khu công nghiệp. Tuy nhiên, để xác định được thiệt hại, cơ quan có thẩm quyền phải thuê tổ chức giám định thiệt hại, mất chi phí, mất thời gian và không phải trường hợp nào cũng có thể xác định chính xác con số thiệt hại cụ thể… Ngoài ra, Chương XXIX Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân”, các quy định của chương này đều sử dụng thuật ngữ “pháp nhân” mà không phân biệt hay giới hạn loại pháp nhân thương mại hay phi thương mại… những vấn đề này đã gây ra nhiều khó khăn trong công tác phòng, chống tội phạm vi phạm pháp luật về môi trường nói chung và tại các khu công nghiệp của tỉnh Long An nói riêng.

- Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật của các cơ quan, tổ chức tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An đôi lúc chưa đi vào trọng tâm, việc tổ chức còn sơ sài và mang tính hình thức, còn bị động trước tình hình vi phạm pháp luật về môi trường ngày càng diễn biến phức tạp.

- Trình độ, năng lực nhận thức về pháp luật, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học… của một số cán bộ, chiến sỹ thuộc lực lượng Cảnh sát kinh tế, môi trường còn hạn chế, nhất là số cán bộ được tuyển dụng từ các ngành khác và điều chuyển từ các lực lượng nghiệp vụ khác tới nên chưa thật sự đáp ứng yêu cầu công tác.

- Các mặt công tác nghiệp vụ trong phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường tại các khu công nghiệp chưa thật sự được chú trọng, hiệu quả chưa cao.

2. Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp ở Long An

Để chủ động nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp theo chức năng của lực lượng chuyên trách Công an tỉnh Long An trong thời gian tới, tác giả xin đề xuất một số giải pháp trọng tâm sau đây:

Thứ nhất, kiên quyết yêu cầu chủ đầu tư các khu công nghiệp phải đảm bảo đồng bộ hạ tầng trước khi mời gọi doanh nghiệp đầu tư, hoạt động; thường xuyên theo dõi, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường; yêu cầu các công ty, doanh nghiệp trong quá trình đầu tư, sản xuất chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Thứ hai, lực lượng Cảnh sát kinh tế, môi trường tích cực chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chủ doanh nghiệp trong các khu công nghiệp tích cực bảo vệ môi trường.

Để đạt được yêu cầu này, trước hết lực lượng Cảnh sát kinh tế, môi trường cần phải được sự ủng hộ, hỗ trợ từ các cấp ủy Đảng và các tổ chức quần chúng để chủ động phổ biến và tuyên truyền pháp luật cũng như chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường. Việc tuyên truyền, phổ biến có thể bằng nhiều hình thức khác nhau như tổ chức diễn đàn pháp luật về môi trường, ô nhiễm môi trường trên các phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền đến từng hộ dân, từng doanh nghiệp, từng cơ sở sản xuất kinh doanh, kết hợp với các buổi tuyên truyền về an toàn, sức khỏe lao động, chế độ bảo hiểm, tiền lương... tại các khu công nghiệp.

Thứ ba, cần nghiên cứu, quy định thống nhất về “pháp nhân thương mại” giữa Bộ luật Hình sự với Bộ luật Tố tụng hình sự; sớm ban hành các hướng dẫn cụ thể áp dụng một số biện pháp tư pháp về trình tự, thủ tục, điều kiện áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội theo quy định tại Điều 82 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra. Cần chỉnh sửa các quy định theo hướng mức phạt phải luôn cao hơn mức hưởng lợi do vi phạm của các doanh nghiệp; bổ sung quy định bảo vệ quyền lợi người lao động, người thứ ba tham gia giao dịch với pháp nhân thương mại phải chịu các hình phạt chính…

Thứ tư, cần quan tâm bố trí lại số lượng, tỷ lệ giữa các đội nghiệp vụ, ưu tiên cho lực lượng trực tiếp đấu tranh với vi phạm pháp luật về môi trường trong lĩnh vực công nghiệp theo hướng: Đối với cán bộ chiến sỹ đã tốt nghiệp các trường Công an nhân dân thì đưa đi đào tạo chuyên môn về lĩnh vực môi trường; đối với số cán bộ chiến sỹ tuyển từ ngành ngoài vào (nhất là những đơn vị có nhiều cán bộ tuyển từ ngành ngoài vào đã có chuyên môn về môi trường thì đưa đi học nghiệp vụ cảnh sát tại Đại học Cảnh sát hệ tập trung văn bằng 2); đối với cán bộ chiến sỹ được điều động từ những bộ phận khác sang thiếu cả nghiệp vụ điều tra, trinh sát và cả kiến thức về môi trường thì cần gửi đi các lớp tập huấn chuyên sâu cả nghiệp vụ điều tra, trinh sát, cả kiến thức về môi trường, khoa học, kỹ thuật.

Thứ năm, đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tác nghiệp của lực lượng Công an nhân dân. Chú trọng vào thực hiện có hiệu quả công tác điều tra cơ bản, tập trung vào các lĩnh vực và các khâu trọng điểm (vận hành hệ thống xử lý chất thải, phân loại chất thải, vận chuyển chất thải…) cùng các tài liệu cần thu thập: Giấy phép khai thác nước dưới đất, giấy phép xả nước thải vào nguồn nước, bản cam kết bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường... Trong đó, tập trung các biện pháp nghiệp vụ để thu thập thông tin, tài liệu về công tác bảo vệ môi trường tại các cụm công nghiệp và tình trạng ô nhiễm cục bộ các tuyến kênh, rạch trên địa bàn tỉnh.

Đẩy mạnh biện pháp phát động quần chúng, phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh trật tự, tố giác các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Tiến hành phân loại theo định kỳ, tiến hành thanh loại những đối tượng có điều kiện, khả năng vi phạm pháp luật, đồng thời, tập trung nắm tình hình các đối tượng còn biểu hiện nghi vấn. Đặc biệt, chú ý vận động số công nhân, người làm việc tại các khu công nghiệp là chuyên gia nước ngoài làm việc trong các khu công nghiệp có nguồn thải lớn, được xác định là trọng điểm gây ô nhiễm môi trường trong những năm qua để cung cấp thông tin, tài liệu về các hành vi gây ô nhiễm môi trường.

Thứ sáu, tăng cường công tác phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài ngành Công an trong phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường tại các khu công nghiệp bằng cách: Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, báo cáo chuyên đề giữa các đơn vị trong ngành cũng như với các cơ quan chức năng khác để trao đổi kinh nghiệm, thống nhất các biện pháp xử lý nhất là phối hợp với Ban quản lý các khu công nghiệp, với Sở Tài nguyên và môi trường, lực lượng công an tại các Đồn Công an khu công nghiệp… trong việc trao đổi thông tin, thanh tra, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất ở các doanh nghiệp nhằm đảm bảo các doanh nghiệp này tuân thủ theo hồ sơ môi trường được duyệt. Kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, nhất là vi phạm trong xả nước thải, khí thải tại khu công nghiệp, tránh để xảy ra các vụ việc làm mất an ninh trật tự, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và các chính sách ngoại giao của Đảng, Nhà nước ta, góp phần ổn định an ninh trật tự, để tỉnh Long An ngày càng phát triển.

Trung tá, TS. Đinh Anh Tuấn

Trường Đại học cảnh sát nhân dân

[1]. Nguyễn Tân Thuấn (2021), Công tác bảo vệ môi trường tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An, Tạp chí Môi trường, số 3, Hà Nội.

[2]. https://www.sggp.org.vn/long-an-xu-ly-nghiem-cac-sai-pham-tren-linh-vuc-tai-nguyen-va-moi-truong-trong-nam-2023-post675765.html, truy cập ngày 22/11/2023.

[3]. https://baolongan.vn/xu-ly-diem-den-o-nhiem-moi-truong-a114277.html, truy cập ngày 22/11/2023.

[4]. https://baolongan.vn/nguy-co-o-nhiem-moi-truong-tu-du-an-khu-dan-cu-go-den-a152175.html, truy cập ngày 22/11/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 394), tháng 12/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: