Thứ ba 13/01/2026 03:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật về môi trường tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An

Bài viết bàn về công tác tổ chức thực hiện pháp luật về môi trường tại một số khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An, phân tích một số hạn chế, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất những giải pháp khắc phục.

1. Công tác bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An

Tỉnh Long An là một trong 08 địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, bao gồm 01 thành phố, 01 thị xã, 13 huyện với tổng diện tích là 4.492 km², dân số trên 1,7 triệu người. Long An có vị trí địa lý đặc biệt, là cửa ngõ nối vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Nam Bộ. Phía Đông giáp Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh, phía Bắc giáp tỉnh Svay Rieng (Vương Quốc Campuchia), phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp và phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang. Ngoài vị trí chiến lược, Long An còn có nhiều lợi thế khác như điều kiện tự nhiên thuận lợi; cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện với hệ thống giao thông liên hoàn; các khu công nghiệp đáp ứng cả về số lượng cũng như được đầu tư hoàn thiện về hạ tầng. Hiện nay, toàn tỉnh có 35 khu công nghiệp, 63 cụm công nghiệp, trong đó 16 khu công nghiệp, 22 cụm công nghiệp đang hoạt động với diện tích 2.323,03 ha, tỷ lệ lấp đầy khoảng 87,6%. Các khu công nghiệp đã thu hút được 1.622 dự án đầu tư, trong đó có 793 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư 4.543,6 triệu USD và 829 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư 92.219 tỷ đồng. Tất cả các khu công nghiệp đều đã lắp đặt và vận hành hệ thống quan trắc tự động nước thải và truyền dữ liệu về Sở Tài nguyên và môi trường để theo dõi[1]. Công tác thu gom, xử lý rác thải công nghiệp được các doanh nghiệp thực hiện khá tốt, tỷ lệ thu gom chất thải rắn công nghiệp ước tính đạt khoảng 90% (khoảng 10% chất thải rắn công nghiệp còn lại doanh nghiệp tái sử dụng hoặc lưu kho).

Bên cạnh những kết quả đạt được về kinh tế, xã hội do các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh mang lại thì tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp ngày càng phức tạp hơn. Trong năm 2022, qua thanh, kiểm tra gồm: Vi phạm trong khai thác khoáng sản, tài nguyên nước, bảo vệ môi trường trong sản xuất kinh doanh..., ngành chức năng tỉnh Long An đã ban hành 63 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền xử phạt hơn 4,9 tỷ đồng[2]. Các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của nhiều doanh nghiệp chủ yếu là: Xả thẳng nước thải chưa qua xử lý ra môi trường; nước thải sau xử lý cục bộ không đạt tiêu chuẩn đúng quy định; chưa xử lý khí thải, mùi hôi; các loại rác thải sinh hoạt công nghiệp, chất thải nguy hại chưa được phân loại; chưa đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại; chưa chuyển giao xử lý chất thải nguy hại đúng quy định; khai thác sử dụng các giếng nước ngầm không có giấy phép; lắp đặt đường ống, máy bơm, bơm nước thải chưa qua xử lý ra môi trường… Có thể kể đến “điểm nóng” ô nhiễm môi trường đã được báo chí đăng tải, đó là cụm công nghiệp Hoàng Gia (huyện Đức Hòa, tỉnh Long An)[3].

Trước đây, dự án Khu dân cư Gò Đen cũng là một điểm “nóng”, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, được cử tri kiến nghị nhiều trong các cuộc tiếp xúc với đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội tỉnh. Thế nhưng, với sự chỉ đạo quyết liệt của tỉnh, huyện, địa phương, đến nay tình trạng rác thải sinh hoạt vứt tràn lan tại khu vực này cơ bản đã được giải quyết. Thông tin từ Ủy ban nhân dân xã Phước Lợi, các hội, đoàn thể thường xuyên ra quân quét dọn, thu gom rác, trồng cây xanh và tăng cường tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường[4].

Trong những năm qua, mặc dù các cấp, các ngành nói chung và lực lượng Cảnh sát kinh tế, môi trường nói riêng đã thực hiện rất nhiều các giải pháp để thực hiện bảo vệ môi trường nói chung và tại các khu công nghiệp nói riêng đã đạt nhiều kết quả nhất định. Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp vẫn còn diễn biến phức tạp, có thể kể đến một số nguyên nhân sau:

- Phần lớn các cơ sở sản xuất, tổ chức kinh tế tại các khu công nghiệp chưa quan tâm đầu tư đúng mức đến công tác bảo vệ môi trường, vẫn còn tình trạng chưa chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về công tác bảo vệ môi trường; công nghệ máy móc sản xuất ở một số doanh nghiệp đã lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ, không đủ năng lực tài chính, kỹ thuật để đầu tư công nghệ xử lý chất thải hiện đại.

- Một số quy định của pháp luật về truy cứu trách nhiệm hình sự, thủ tục tố tụng hình sự của pháp nhân thương mại trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành khi triển khai vẫn còn có những vướng mắc (trình tự, thủ tục, điều kiện áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội, phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại, xác định thiệt hại…) nên đến nay chưa có pháp nhân thương mại nào tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An bị xử lý theo thủ tục tố tụng hình sự về hành vi gây ô nhiễm môi trường. Trong các vi phạm pháp luật về môi trường của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp gây ra là thiệt hại về tài sản, sức khỏe của nhân dân sinh sống xung quanh khu công nghiệp. Tuy nhiên, để xác định được thiệt hại, cơ quan có thẩm quyền phải thuê tổ chức giám định thiệt hại, mất chi phí, mất thời gian và không phải trường hợp nào cũng có thể xác định chính xác con số thiệt hại cụ thể… Ngoài ra, Chương XXIX Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân”, các quy định của chương này đều sử dụng thuật ngữ “pháp nhân” mà không phân biệt hay giới hạn loại pháp nhân thương mại hay phi thương mại… những vấn đề này đã gây ra nhiều khó khăn trong công tác phòng, chống tội phạm vi phạm pháp luật về môi trường nói chung và tại các khu công nghiệp của tỉnh Long An nói riêng.

- Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật của các cơ quan, tổ chức tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An đôi lúc chưa đi vào trọng tâm, việc tổ chức còn sơ sài và mang tính hình thức, còn bị động trước tình hình vi phạm pháp luật về môi trường ngày càng diễn biến phức tạp.

- Trình độ, năng lực nhận thức về pháp luật, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học… của một số cán bộ, chiến sỹ thuộc lực lượng Cảnh sát kinh tế, môi trường còn hạn chế, nhất là số cán bộ được tuyển dụng từ các ngành khác và điều chuyển từ các lực lượng nghiệp vụ khác tới nên chưa thật sự đáp ứng yêu cầu công tác.

- Các mặt công tác nghiệp vụ trong phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường tại các khu công nghiệp chưa thật sự được chú trọng, hiệu quả chưa cao.

2. Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp ở Long An

Để chủ động nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp theo chức năng của lực lượng chuyên trách Công an tỉnh Long An trong thời gian tới, tác giả xin đề xuất một số giải pháp trọng tâm sau đây:

Thứ nhất, kiên quyết yêu cầu chủ đầu tư các khu công nghiệp phải đảm bảo đồng bộ hạ tầng trước khi mời gọi doanh nghiệp đầu tư, hoạt động; thường xuyên theo dõi, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường; yêu cầu các công ty, doanh nghiệp trong quá trình đầu tư, sản xuất chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Thứ hai, lực lượng Cảnh sát kinh tế, môi trường tích cực chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chủ doanh nghiệp trong các khu công nghiệp tích cực bảo vệ môi trường.

Để đạt được yêu cầu này, trước hết lực lượng Cảnh sát kinh tế, môi trường cần phải được sự ủng hộ, hỗ trợ từ các cấp ủy Đảng và các tổ chức quần chúng để chủ động phổ biến và tuyên truyền pháp luật cũng như chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường. Việc tuyên truyền, phổ biến có thể bằng nhiều hình thức khác nhau như tổ chức diễn đàn pháp luật về môi trường, ô nhiễm môi trường trên các phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền đến từng hộ dân, từng doanh nghiệp, từng cơ sở sản xuất kinh doanh, kết hợp với các buổi tuyên truyền về an toàn, sức khỏe lao động, chế độ bảo hiểm, tiền lương... tại các khu công nghiệp.

Thứ ba, cần nghiên cứu, quy định thống nhất về “pháp nhân thương mại” giữa Bộ luật Hình sự với Bộ luật Tố tụng hình sự; sớm ban hành các hướng dẫn cụ thể áp dụng một số biện pháp tư pháp về trình tự, thủ tục, điều kiện áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội theo quy định tại Điều 82 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra. Cần chỉnh sửa các quy định theo hướng mức phạt phải luôn cao hơn mức hưởng lợi do vi phạm của các doanh nghiệp; bổ sung quy định bảo vệ quyền lợi người lao động, người thứ ba tham gia giao dịch với pháp nhân thương mại phải chịu các hình phạt chính…

Thứ tư, cần quan tâm bố trí lại số lượng, tỷ lệ giữa các đội nghiệp vụ, ưu tiên cho lực lượng trực tiếp đấu tranh với vi phạm pháp luật về môi trường trong lĩnh vực công nghiệp theo hướng: Đối với cán bộ chiến sỹ đã tốt nghiệp các trường Công an nhân dân thì đưa đi đào tạo chuyên môn về lĩnh vực môi trường; đối với số cán bộ chiến sỹ tuyển từ ngành ngoài vào (nhất là những đơn vị có nhiều cán bộ tuyển từ ngành ngoài vào đã có chuyên môn về môi trường thì đưa đi học nghiệp vụ cảnh sát tại Đại học Cảnh sát hệ tập trung văn bằng 2); đối với cán bộ chiến sỹ được điều động từ những bộ phận khác sang thiếu cả nghiệp vụ điều tra, trinh sát và cả kiến thức về môi trường thì cần gửi đi các lớp tập huấn chuyên sâu cả nghiệp vụ điều tra, trinh sát, cả kiến thức về môi trường, khoa học, kỹ thuật.

Thứ năm, đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tác nghiệp của lực lượng Công an nhân dân. Chú trọng vào thực hiện có hiệu quả công tác điều tra cơ bản, tập trung vào các lĩnh vực và các khâu trọng điểm (vận hành hệ thống xử lý chất thải, phân loại chất thải, vận chuyển chất thải…) cùng các tài liệu cần thu thập: Giấy phép khai thác nước dưới đất, giấy phép xả nước thải vào nguồn nước, bản cam kết bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường... Trong đó, tập trung các biện pháp nghiệp vụ để thu thập thông tin, tài liệu về công tác bảo vệ môi trường tại các cụm công nghiệp và tình trạng ô nhiễm cục bộ các tuyến kênh, rạch trên địa bàn tỉnh.

Đẩy mạnh biện pháp phát động quần chúng, phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh trật tự, tố giác các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Tiến hành phân loại theo định kỳ, tiến hành thanh loại những đối tượng có điều kiện, khả năng vi phạm pháp luật, đồng thời, tập trung nắm tình hình các đối tượng còn biểu hiện nghi vấn. Đặc biệt, chú ý vận động số công nhân, người làm việc tại các khu công nghiệp là chuyên gia nước ngoài làm việc trong các khu công nghiệp có nguồn thải lớn, được xác định là trọng điểm gây ô nhiễm môi trường trong những năm qua để cung cấp thông tin, tài liệu về các hành vi gây ô nhiễm môi trường.

Thứ sáu, tăng cường công tác phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài ngành Công an trong phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường tại các khu công nghiệp bằng cách: Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, báo cáo chuyên đề giữa các đơn vị trong ngành cũng như với các cơ quan chức năng khác để trao đổi kinh nghiệm, thống nhất các biện pháp xử lý nhất là phối hợp với Ban quản lý các khu công nghiệp, với Sở Tài nguyên và môi trường, lực lượng công an tại các Đồn Công an khu công nghiệp… trong việc trao đổi thông tin, thanh tra, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất ở các doanh nghiệp nhằm đảm bảo các doanh nghiệp này tuân thủ theo hồ sơ môi trường được duyệt. Kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, nhất là vi phạm trong xả nước thải, khí thải tại khu công nghiệp, tránh để xảy ra các vụ việc làm mất an ninh trật tự, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và các chính sách ngoại giao của Đảng, Nhà nước ta, góp phần ổn định an ninh trật tự, để tỉnh Long An ngày càng phát triển.

Trung tá, TS. Đinh Anh Tuấn

Trường Đại học cảnh sát nhân dân

[1]. Nguyễn Tân Thuấn (2021), Công tác bảo vệ môi trường tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An, Tạp chí Môi trường, số 3, Hà Nội.

[2]. https://www.sggp.org.vn/long-an-xu-ly-nghiem-cac-sai-pham-tren-linh-vuc-tai-nguyen-va-moi-truong-trong-nam-2023-post675765.html, truy cập ngày 22/11/2023.

[3]. https://baolongan.vn/xu-ly-diem-den-o-nhiem-moi-truong-a114277.html, truy cập ngày 22/11/2023.

[4]. https://baolongan.vn/nguy-co-o-nhiem-moi-truong-tu-du-an-khu-dan-cu-go-den-a152175.html, truy cập ngày 22/11/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 394), tháng 12/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.

Theo dõi chúng tôi trên: