Chủ nhật 16/08/2026 05:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Trong thời gian vừa qua, thực tiễn công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại tỉnh Gia Lai đã bộc lộ những bất cập, hạn chế về thể chế và cơ chế thực hiện. Vì vậy, cần thiết phải có những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo hướng hoàn thiện thể chế, đổi mới hoạt động.

Abstract: In recent time, the practice of monitoring law implementation situation in the Gia Lai Province has revealed inadequacies, limitations on theory, institution and implemention regime. Thus, there is a need to have solutions for improving effect of monitoring law implementation situation towards completion of regime and operation innovation.

Theo dõi tình hình thi hành pháp luật là nhu cầu nội thân của quyền lực nhà nước và của các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến cơ sở nhằm xem xét, đánh giá thực trạng quyền lực nhà nước để hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nắm bắt được nhu cầu này, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai đã khẩn trương ban hành kế hoạch hàng năm về theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo quy định tại Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật (Nghị định số 59/2012/NĐ-CP) và Thông tư số 14/2014/TT-BTP ngày 15/5/2014 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật (Thông tư số 14/2014/TT-BTP). Nhìn chung, các nội dung đề ra trong kế hoạch hàng năm đều được các sở, ban, ngành trong tỉnh thực hiện nghiêm chỉnh, bước đầu mang lại những hiệu quả thiết thực trong công tác quản lý nhà nước, góp phần bảo đảm ổn định chính trị và phát triển kinh tế của tỉnh Gia Lai. Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân tỉnh cũng chú trọng chỉ đạo kiểm tra, đánh giá tình hình thi hành pháp luật ở các ngành, địa phương, cơ sở để phục vụ công tác quản lý, điều hành. Tuy nhiên, thực trạng công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật của tỉnh Gia Lai vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế cần nghiên cứu, khắc phục trong thời gian tới.

1. Những bất cập, hạn chế trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại tỉnh Gia Lai hiện nay

Thứ nhất, công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, nhất là việc tổ chức thực hiện các hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo lĩnh vực, ngành, địa bàn quản lý. Tại một số địa phương, cơ sở vẫn đánh giá đây là lĩnh vực công tác mới, văn bản hướng dẫn, quy định còn thiếu nên khó triển khai thực hiện hoặc có thực hiện nhưng hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao. Đặc biệt, tình trạng thi hành pháp luật tại tỉnh Gia Lai chưa nghiêm túc xảy ra trên nhiều lĩnh vực làm giảm hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước.

Nguyên nhân của tình trạng này là do nhận thức về theo dõi tình hình thi hành pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước chưa thống nhất, vai trò của hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong việc nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật chưa được chú trọng. Bên cạnh đó, chưa hình thành đội ngũ người chuyên trách làm công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, chưa có phương pháp kiểm chứng, đánh giá thực tiễn và ứng dụng việc theo dõi tình hình thi hành pháp luật vào công tác quản lý nhà nước tại địa phương.

Thứ hai, lĩnh vực theo dõi tình hình thi hành pháp luật mới được điều chỉnh ở tầm cao nhất là nghị định (Nghị định số 59/2012/NĐ-CP) đối với hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, trong khi đó, mục tiêu theo dõi tình hình thi hành pháp luật là đánh giá thực trạng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu xã hội, tạo động lực phát triển đất nước. Điều này chưa tương xứng về vai trò, vị trí của hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này để thực hiện việc theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong các lĩnh vực khác do Hiến pháp, luật, bộ luật điều chỉnh.

Thứ ba, trong quá trình thực hiện Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, yêu cầu mở rộng công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật đặt ra trách nhiệm thực thi của cả hệ thống chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức và quyền của nhân dân. Ngoài ra, việc cơ quan hành pháp theo dõi tình hình thi hành pháp luật và đối tượng theo dõi cũng chính là cơ quan hành chính nhà nước tạo nên tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”, trong khi thực tiễn thi hành pháp luật bao gồm hoạt động của Nhà nước, nhân dân, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, tổ chức quốc tế.

Trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, nhân dân vừa là chủ thể thực thi pháp luật, vừa là chủ thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc xây dựng pháp luật, giám sát việc thi hành pháp luật và nhân dân tham gia theo dõi tình hình thi hành pháp luật bằng hình thức trực tiếp đến phòng tiếp công dân của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; qua tiếp xúc cử tri của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; gửi ý kiến bằng văn bản hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để phản ánh, cung cấp thông tin về tình hình thi hành pháp luật, tức là nhân dân có quyền phản ánh, cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước (theo Điều 12 Thông tư số 14/2014/TT-BTP), trong khi nhân dân là chủ thể tối cao quyền lực nhà nước nhưng cơ quan hành chính chỉ trao quyền phán ảnh, cung cấp cho người thực thi quyền lực nhà nước hoặc quy định chung chung về “Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tạo điều kiện và khuyến khích sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật” (khoản 2 Điều 6 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP). Thực tế quy định trên chưa mang lại hiệu quả thiết thực trong việc giúp nhân dân nâng cao tối đa khả năng thực hiện quyền làm chủ của mình. Ngoài ra, hiệu quả thi hành pháp luật cũng như tính khả thi của các quy định pháp luật phụ thuộc chính vào đối tượng điều chỉnh lớn nhất đó là nhân dân, nhưng việc xây dựng, tổ chức thi hành các quy định pháp luật, Nhà nước không trao những quyền cụ thể về theo dõi tình hình thi hành pháp luật để nhân dân đánh giá, xem xét, thậm chí yêu cầu cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm việc không khả thi, không hiệu quả của quy định pháp luật hoặc chịu trách nhiệm giải trình, xử lý những phản ánh, thông tin của nhân dân cung cấp.

Thứ tư, theo dõi tình hình thi hành pháp luật do cơ quan nhà nước tiến hành trên cơ sở xem xét, đánh giá 03 nội dung: Tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật, các điều kiện bảo đảm thi hành pháp luật và tình hình tuân thủ pháp luật, thông qua 04 hoạt động cụ thể: Thu thập thông tin; kiểm tra; điều tra, khảo sát; xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật bằng hình thức kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý với mục đích theo dõi tình hình thi hành pháp luật là đảm bảo tính khả thi của quy định pháp luật và tính hiệu quả của các quy định pháp luật trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, nội dung, hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật hiện nay chưa có hệ thống phương pháp, tiêu chuẩn đo lường cụ thể và các công cụ để phân tích hoạt động pháp luật trong đời sống xã hội để xác định tính khả thi, hiệu quả của từng quy định pháp luật nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung theo mục đích đã đặt ra.

Thứ năm, kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật được cơ quan, tổ chức xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo Điều 14 Nghị định số 59/2014/NĐ-CP, gồm các nội dung sau: Sửa đổi, bổ sung, ban hành mới; kịp thời tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật; thực hiện các biện pháp bảo đảm về điều kiện cho thi hành pháp luật. Tuy nhiên, cách thức xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật như trên đã bộc lộ hạn chế, như: Một số bộ, ngành ban hành những văn bản quy phạm pháp luật không xuất phát từ yêu cầu của xã hội, thậm chí trái luật hoặc nợ văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết làm ảnh hưởng quyền, lợi ích của Nhà nước, cá nhân và xã hội, làm hạn chế hiệu quả thi hành pháp luật. Trong khi đó, trách nhiệm của Nhà nước trước nhân dân, trách nhiệm của cán bộ, công chức trong vai trò công bộc của nhân dân lại không rõ ràng và tình trạng cán bộ, công chức, viên chức không dám nhận trách nhiệm khi làm sai dẫn đến hiệu quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật không cao, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của một quốc gia.

Thứ sáu, ngân sách và cơ sở vật chất phục vụ cho công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật chưa được quan tâm bố trí đầy đủ. Một số cơ quan, đơn vị chưa lập dự toán kinh phí cho công tác năm 2016 nên chưa được bố trí ngân sách cho hoạt động này; đa phần trang thiết bị vẫn được sử dụng chung cho nhiều công tác khác nhau, về lâu dài không đáp ứng được yêu cầu bảo đảm thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật[1].

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật

Thứ nhất, cần nghiên cứu nâng tầm lĩnh vực theo dõi tình hình thi hành pháp luật bằng một văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn trên cơ sở tổng kết thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Văn bản quy phạm pháp luật quy định về theo dõi tình hình thi hành pháp luật cần bổ sung, quy định cụ thể từng loại chủ thể và vai trò trong theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Trong đó, chủ thể là Nhà nước gồm các cơ quan, tổ chức trong cả ba nhánh quyền lực nhà nước là lập pháp, hành pháp, tư pháp; chủ thể là nhân dân gồm cá nhân, cộng đồng dân cư, tổ chức. Việc luật hóa hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật của nhân dân nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân đối với hệ thống cơ quan quản lý nhà nước đúng với trách nhiệm của Nhà nước đã cam kết tại Hiến pháp năm 2013.

Thứ hai, cơ chế theo dõi tình hình thi hành pháp luật cần được hoàn thiện bằng những quy định về hệ thống phân tích đánh giá hoạt động pháp luật và các phương pháp, công cụ, tiêu chuẩn nhằm đo lường, đánh giá cụ thể tính khả thi, hiệu quả trong thi hành pháp luật theo hướng kiểm soát, đánh giá được thực trạng của Nhà nước, xã hội, người dân; lượng hóa mức độ tác động, tầm ảnh hưởng của việc thi hành pháp luật đối với đời sống xã hội và Nhà nước trong từng hoạt động.

Thứ ba, hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại nơi có nhiều dân tộc sinh sống như Tây Nguyên, phải bao gồm theo dõi tình hình thi hành hệ thống pháp luật nhà nước và hệ thống luật tục nhằm kiểm chứng được tính hợp lý, tính khả thi của quy phạm pháp luật, quy phạm luật tục nhằm tiến đến tiếp nhận, hợp nhất vào hệ thống pháp luật của Nhà nước hoặc hình thành cơ chế đặc thù để điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội tại những khu vực đặc thù này.

Nhà nước phải tạo hành lang pháp lý cho một tổ chức, cá nhân đại diện người dân tộc thiểu số tham gia vào hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật, nhằm xây dựng hệ thống pháp luật xã hội vừa mang tính nhân dân, tính dân tộc và hiện đại.

Thứ tư, kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật phải quy định trách nhiệm xử lý đến cùng những vi phạm pháp luật qua theo dõi phát hiện. Cụ thể: Trách nhiệm pháp lý, bồi thường thiệt hại, hủy bỏ văn bản tự nguyện hoặc bắt buộc bằng quyết định của Tòa án… nhằm đảm bảo hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, ngày càng hiện đại, minh bạch, nghiêm minh đáp ứng cho mục tiêu phát triển bền vững.

Thứ năm, đẩy mạnh công tác tập huấn, hướng dẫn triển khai nhiệm vụ theo dõi tình hình thi hành pháp luật từ phía Bộ Tư pháp, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc về thể chế, chính sách để bảo đảm triển khai hiệu quả ngay từ những bước đầu tiên của công tác này. Sớm có bộ tiêu chí đánh giá hoạt động công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật và tình hình thi hành pháp luật tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

ThS. Trần Nam Trung

Sở Tư pháp Gia Lai

Tài liệu tham khảo:

[1]. Báo cáo số 145/BC-UBND ngày 04/11/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai về công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Gia Lai năm 2016, tr. 2.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.

Theo dõi chúng tôi trên: