Thứ ba 26/05/2026 11:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Trong thời gian vừa qua, thực tiễn công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại tỉnh Gia Lai đã bộc lộ những bất cập, hạn chế về thể chế và cơ chế thực hiện. Vì vậy, cần thiết phải có những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo hướng hoàn thiện thể chế, đổi mới hoạt động.

Abstract: In recent time, the practice of monitoring law implementation situation in the Gia Lai Province has revealed inadequacies, limitations on theory, institution and implemention regime. Thus, there is a need to have solutions for improving effect of monitoring law implementation situation towards completion of regime and operation innovation.

Theo dõi tình hình thi hành pháp luật là nhu cầu nội thân của quyền lực nhà nước và của các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến cơ sở nhằm xem xét, đánh giá thực trạng quyền lực nhà nước để hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nắm bắt được nhu cầu này, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai đã khẩn trương ban hành kế hoạch hàng năm về theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo quy định tại Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật (Nghị định số 59/2012/NĐ-CP) và Thông tư số 14/2014/TT-BTP ngày 15/5/2014 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật (Thông tư số 14/2014/TT-BTP). Nhìn chung, các nội dung đề ra trong kế hoạch hàng năm đều được các sở, ban, ngành trong tỉnh thực hiện nghiêm chỉnh, bước đầu mang lại những hiệu quả thiết thực trong công tác quản lý nhà nước, góp phần bảo đảm ổn định chính trị và phát triển kinh tế của tỉnh Gia Lai. Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân tỉnh cũng chú trọng chỉ đạo kiểm tra, đánh giá tình hình thi hành pháp luật ở các ngành, địa phương, cơ sở để phục vụ công tác quản lý, điều hành. Tuy nhiên, thực trạng công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật của tỉnh Gia Lai vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế cần nghiên cứu, khắc phục trong thời gian tới.

1. Những bất cập, hạn chế trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại tỉnh Gia Lai hiện nay

Thứ nhất, công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, nhất là việc tổ chức thực hiện các hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo lĩnh vực, ngành, địa bàn quản lý. Tại một số địa phương, cơ sở vẫn đánh giá đây là lĩnh vực công tác mới, văn bản hướng dẫn, quy định còn thiếu nên khó triển khai thực hiện hoặc có thực hiện nhưng hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao. Đặc biệt, tình trạng thi hành pháp luật tại tỉnh Gia Lai chưa nghiêm túc xảy ra trên nhiều lĩnh vực làm giảm hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước.

Nguyên nhân của tình trạng này là do nhận thức về theo dõi tình hình thi hành pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước chưa thống nhất, vai trò của hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong việc nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật chưa được chú trọng. Bên cạnh đó, chưa hình thành đội ngũ người chuyên trách làm công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, chưa có phương pháp kiểm chứng, đánh giá thực tiễn và ứng dụng việc theo dõi tình hình thi hành pháp luật vào công tác quản lý nhà nước tại địa phương.

Thứ hai, lĩnh vực theo dõi tình hình thi hành pháp luật mới được điều chỉnh ở tầm cao nhất là nghị định (Nghị định số 59/2012/NĐ-CP) đối với hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, trong khi đó, mục tiêu theo dõi tình hình thi hành pháp luật là đánh giá thực trạng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu xã hội, tạo động lực phát triển đất nước. Điều này chưa tương xứng về vai trò, vị trí của hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này để thực hiện việc theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong các lĩnh vực khác do Hiến pháp, luật, bộ luật điều chỉnh.

Thứ ba, trong quá trình thực hiện Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, yêu cầu mở rộng công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật đặt ra trách nhiệm thực thi của cả hệ thống chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức và quyền của nhân dân. Ngoài ra, việc cơ quan hành pháp theo dõi tình hình thi hành pháp luật và đối tượng theo dõi cũng chính là cơ quan hành chính nhà nước tạo nên tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”, trong khi thực tiễn thi hành pháp luật bao gồm hoạt động của Nhà nước, nhân dân, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, tổ chức quốc tế.

Trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, nhân dân vừa là chủ thể thực thi pháp luật, vừa là chủ thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc xây dựng pháp luật, giám sát việc thi hành pháp luật và nhân dân tham gia theo dõi tình hình thi hành pháp luật bằng hình thức trực tiếp đến phòng tiếp công dân của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; qua tiếp xúc cử tri của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; gửi ý kiến bằng văn bản hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để phản ánh, cung cấp thông tin về tình hình thi hành pháp luật, tức là nhân dân có quyền phản ánh, cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước (theo Điều 12 Thông tư số 14/2014/TT-BTP), trong khi nhân dân là chủ thể tối cao quyền lực nhà nước nhưng cơ quan hành chính chỉ trao quyền phán ảnh, cung cấp cho người thực thi quyền lực nhà nước hoặc quy định chung chung về “Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tạo điều kiện và khuyến khích sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật” (khoản 2 Điều 6 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP). Thực tế quy định trên chưa mang lại hiệu quả thiết thực trong việc giúp nhân dân nâng cao tối đa khả năng thực hiện quyền làm chủ của mình. Ngoài ra, hiệu quả thi hành pháp luật cũng như tính khả thi của các quy định pháp luật phụ thuộc chính vào đối tượng điều chỉnh lớn nhất đó là nhân dân, nhưng việc xây dựng, tổ chức thi hành các quy định pháp luật, Nhà nước không trao những quyền cụ thể về theo dõi tình hình thi hành pháp luật để nhân dân đánh giá, xem xét, thậm chí yêu cầu cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm việc không khả thi, không hiệu quả của quy định pháp luật hoặc chịu trách nhiệm giải trình, xử lý những phản ánh, thông tin của nhân dân cung cấp.

Thứ tư, theo dõi tình hình thi hành pháp luật do cơ quan nhà nước tiến hành trên cơ sở xem xét, đánh giá 03 nội dung: Tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật, các điều kiện bảo đảm thi hành pháp luật và tình hình tuân thủ pháp luật, thông qua 04 hoạt động cụ thể: Thu thập thông tin; kiểm tra; điều tra, khảo sát; xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật bằng hình thức kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý với mục đích theo dõi tình hình thi hành pháp luật là đảm bảo tính khả thi của quy định pháp luật và tính hiệu quả của các quy định pháp luật trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, nội dung, hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật hiện nay chưa có hệ thống phương pháp, tiêu chuẩn đo lường cụ thể và các công cụ để phân tích hoạt động pháp luật trong đời sống xã hội để xác định tính khả thi, hiệu quả của từng quy định pháp luật nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung theo mục đích đã đặt ra.

Thứ năm, kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật được cơ quan, tổ chức xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo Điều 14 Nghị định số 59/2014/NĐ-CP, gồm các nội dung sau: Sửa đổi, bổ sung, ban hành mới; kịp thời tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật; thực hiện các biện pháp bảo đảm về điều kiện cho thi hành pháp luật. Tuy nhiên, cách thức xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật như trên đã bộc lộ hạn chế, như: Một số bộ, ngành ban hành những văn bản quy phạm pháp luật không xuất phát từ yêu cầu của xã hội, thậm chí trái luật hoặc nợ văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết làm ảnh hưởng quyền, lợi ích của Nhà nước, cá nhân và xã hội, làm hạn chế hiệu quả thi hành pháp luật. Trong khi đó, trách nhiệm của Nhà nước trước nhân dân, trách nhiệm của cán bộ, công chức trong vai trò công bộc của nhân dân lại không rõ ràng và tình trạng cán bộ, công chức, viên chức không dám nhận trách nhiệm khi làm sai dẫn đến hiệu quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật không cao, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của một quốc gia.

Thứ sáu, ngân sách và cơ sở vật chất phục vụ cho công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật chưa được quan tâm bố trí đầy đủ. Một số cơ quan, đơn vị chưa lập dự toán kinh phí cho công tác năm 2016 nên chưa được bố trí ngân sách cho hoạt động này; đa phần trang thiết bị vẫn được sử dụng chung cho nhiều công tác khác nhau, về lâu dài không đáp ứng được yêu cầu bảo đảm thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật[1].

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật

Thứ nhất, cần nghiên cứu nâng tầm lĩnh vực theo dõi tình hình thi hành pháp luật bằng một văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn trên cơ sở tổng kết thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Văn bản quy phạm pháp luật quy định về theo dõi tình hình thi hành pháp luật cần bổ sung, quy định cụ thể từng loại chủ thể và vai trò trong theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Trong đó, chủ thể là Nhà nước gồm các cơ quan, tổ chức trong cả ba nhánh quyền lực nhà nước là lập pháp, hành pháp, tư pháp; chủ thể là nhân dân gồm cá nhân, cộng đồng dân cư, tổ chức. Việc luật hóa hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật của nhân dân nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân đối với hệ thống cơ quan quản lý nhà nước đúng với trách nhiệm của Nhà nước đã cam kết tại Hiến pháp năm 2013.

Thứ hai, cơ chế theo dõi tình hình thi hành pháp luật cần được hoàn thiện bằng những quy định về hệ thống phân tích đánh giá hoạt động pháp luật và các phương pháp, công cụ, tiêu chuẩn nhằm đo lường, đánh giá cụ thể tính khả thi, hiệu quả trong thi hành pháp luật theo hướng kiểm soát, đánh giá được thực trạng của Nhà nước, xã hội, người dân; lượng hóa mức độ tác động, tầm ảnh hưởng của việc thi hành pháp luật đối với đời sống xã hội và Nhà nước trong từng hoạt động.

Thứ ba, hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại nơi có nhiều dân tộc sinh sống như Tây Nguyên, phải bao gồm theo dõi tình hình thi hành hệ thống pháp luật nhà nước và hệ thống luật tục nhằm kiểm chứng được tính hợp lý, tính khả thi của quy phạm pháp luật, quy phạm luật tục nhằm tiến đến tiếp nhận, hợp nhất vào hệ thống pháp luật của Nhà nước hoặc hình thành cơ chế đặc thù để điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội tại những khu vực đặc thù này.

Nhà nước phải tạo hành lang pháp lý cho một tổ chức, cá nhân đại diện người dân tộc thiểu số tham gia vào hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật, nhằm xây dựng hệ thống pháp luật xã hội vừa mang tính nhân dân, tính dân tộc và hiện đại.

Thứ tư, kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật phải quy định trách nhiệm xử lý đến cùng những vi phạm pháp luật qua theo dõi phát hiện. Cụ thể: Trách nhiệm pháp lý, bồi thường thiệt hại, hủy bỏ văn bản tự nguyện hoặc bắt buộc bằng quyết định của Tòa án… nhằm đảm bảo hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, ngày càng hiện đại, minh bạch, nghiêm minh đáp ứng cho mục tiêu phát triển bền vững.

Thứ năm, đẩy mạnh công tác tập huấn, hướng dẫn triển khai nhiệm vụ theo dõi tình hình thi hành pháp luật từ phía Bộ Tư pháp, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc về thể chế, chính sách để bảo đảm triển khai hiệu quả ngay từ những bước đầu tiên của công tác này. Sớm có bộ tiêu chí đánh giá hoạt động công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật và tình hình thi hành pháp luật tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

ThS. Trần Nam Trung

Sở Tư pháp Gia Lai

Tài liệu tham khảo:

[1]. Báo cáo số 145/BC-UBND ngày 04/11/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai về công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Gia Lai năm 2016, tr. 2.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: