Thứ ba 13/01/2026 13:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Trong thời gian vừa qua, thực tiễn công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại tỉnh Gia Lai đã bộc lộ những bất cập, hạn chế về thể chế và cơ chế thực hiện. Vì vậy, cần thiết phải có những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo hướng hoàn thiện thể chế, đổi mới hoạt động.

Abstract: In recent time, the practice of monitoring law implementation situation in the Gia Lai Province has revealed inadequacies, limitations on theory, institution and implemention regime. Thus, there is a need to have solutions for improving effect of monitoring law implementation situation towards completion of regime and operation innovation.

Theo dõi tình hình thi hành pháp luật là nhu cầu nội thân của quyền lực nhà nước và của các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến cơ sở nhằm xem xét, đánh giá thực trạng quyền lực nhà nước để hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nắm bắt được nhu cầu này, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai đã khẩn trương ban hành kế hoạch hàng năm về theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo quy định tại Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật (Nghị định số 59/2012/NĐ-CP) và Thông tư số 14/2014/TT-BTP ngày 15/5/2014 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật (Thông tư số 14/2014/TT-BTP). Nhìn chung, các nội dung đề ra trong kế hoạch hàng năm đều được các sở, ban, ngành trong tỉnh thực hiện nghiêm chỉnh, bước đầu mang lại những hiệu quả thiết thực trong công tác quản lý nhà nước, góp phần bảo đảm ổn định chính trị và phát triển kinh tế của tỉnh Gia Lai. Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân tỉnh cũng chú trọng chỉ đạo kiểm tra, đánh giá tình hình thi hành pháp luật ở các ngành, địa phương, cơ sở để phục vụ công tác quản lý, điều hành. Tuy nhiên, thực trạng công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật của tỉnh Gia Lai vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế cần nghiên cứu, khắc phục trong thời gian tới.

1. Những bất cập, hạn chế trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại tỉnh Gia Lai hiện nay

Thứ nhất, công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, nhất là việc tổ chức thực hiện các hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo lĩnh vực, ngành, địa bàn quản lý. Tại một số địa phương, cơ sở vẫn đánh giá đây là lĩnh vực công tác mới, văn bản hướng dẫn, quy định còn thiếu nên khó triển khai thực hiện hoặc có thực hiện nhưng hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao. Đặc biệt, tình trạng thi hành pháp luật tại tỉnh Gia Lai chưa nghiêm túc xảy ra trên nhiều lĩnh vực làm giảm hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước.

Nguyên nhân của tình trạng này là do nhận thức về theo dõi tình hình thi hành pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước chưa thống nhất, vai trò của hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong việc nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật chưa được chú trọng. Bên cạnh đó, chưa hình thành đội ngũ người chuyên trách làm công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, chưa có phương pháp kiểm chứng, đánh giá thực tiễn và ứng dụng việc theo dõi tình hình thi hành pháp luật vào công tác quản lý nhà nước tại địa phương.

Thứ hai, lĩnh vực theo dõi tình hình thi hành pháp luật mới được điều chỉnh ở tầm cao nhất là nghị định (Nghị định số 59/2012/NĐ-CP) đối với hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, trong khi đó, mục tiêu theo dõi tình hình thi hành pháp luật là đánh giá thực trạng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu xã hội, tạo động lực phát triển đất nước. Điều này chưa tương xứng về vai trò, vị trí của hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này để thực hiện việc theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong các lĩnh vực khác do Hiến pháp, luật, bộ luật điều chỉnh.

Thứ ba, trong quá trình thực hiện Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, yêu cầu mở rộng công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật đặt ra trách nhiệm thực thi của cả hệ thống chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức và quyền của nhân dân. Ngoài ra, việc cơ quan hành pháp theo dõi tình hình thi hành pháp luật và đối tượng theo dõi cũng chính là cơ quan hành chính nhà nước tạo nên tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”, trong khi thực tiễn thi hành pháp luật bao gồm hoạt động của Nhà nước, nhân dân, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, tổ chức quốc tế.

Trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, nhân dân vừa là chủ thể thực thi pháp luật, vừa là chủ thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc xây dựng pháp luật, giám sát việc thi hành pháp luật và nhân dân tham gia theo dõi tình hình thi hành pháp luật bằng hình thức trực tiếp đến phòng tiếp công dân của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; qua tiếp xúc cử tri của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; gửi ý kiến bằng văn bản hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để phản ánh, cung cấp thông tin về tình hình thi hành pháp luật, tức là nhân dân có quyền phản ánh, cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước (theo Điều 12 Thông tư số 14/2014/TT-BTP), trong khi nhân dân là chủ thể tối cao quyền lực nhà nước nhưng cơ quan hành chính chỉ trao quyền phán ảnh, cung cấp cho người thực thi quyền lực nhà nước hoặc quy định chung chung về “Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tạo điều kiện và khuyến khích sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật” (khoản 2 Điều 6 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP). Thực tế quy định trên chưa mang lại hiệu quả thiết thực trong việc giúp nhân dân nâng cao tối đa khả năng thực hiện quyền làm chủ của mình. Ngoài ra, hiệu quả thi hành pháp luật cũng như tính khả thi của các quy định pháp luật phụ thuộc chính vào đối tượng điều chỉnh lớn nhất đó là nhân dân, nhưng việc xây dựng, tổ chức thi hành các quy định pháp luật, Nhà nước không trao những quyền cụ thể về theo dõi tình hình thi hành pháp luật để nhân dân đánh giá, xem xét, thậm chí yêu cầu cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm việc không khả thi, không hiệu quả của quy định pháp luật hoặc chịu trách nhiệm giải trình, xử lý những phản ánh, thông tin của nhân dân cung cấp.

Thứ tư, theo dõi tình hình thi hành pháp luật do cơ quan nhà nước tiến hành trên cơ sở xem xét, đánh giá 03 nội dung: Tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật, các điều kiện bảo đảm thi hành pháp luật và tình hình tuân thủ pháp luật, thông qua 04 hoạt động cụ thể: Thu thập thông tin; kiểm tra; điều tra, khảo sát; xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật bằng hình thức kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý với mục đích theo dõi tình hình thi hành pháp luật là đảm bảo tính khả thi của quy định pháp luật và tính hiệu quả của các quy định pháp luật trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, nội dung, hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật hiện nay chưa có hệ thống phương pháp, tiêu chuẩn đo lường cụ thể và các công cụ để phân tích hoạt động pháp luật trong đời sống xã hội để xác định tính khả thi, hiệu quả của từng quy định pháp luật nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung theo mục đích đã đặt ra.

Thứ năm, kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật được cơ quan, tổ chức xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo Điều 14 Nghị định số 59/2014/NĐ-CP, gồm các nội dung sau: Sửa đổi, bổ sung, ban hành mới; kịp thời tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật; thực hiện các biện pháp bảo đảm về điều kiện cho thi hành pháp luật. Tuy nhiên, cách thức xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật như trên đã bộc lộ hạn chế, như: Một số bộ, ngành ban hành những văn bản quy phạm pháp luật không xuất phát từ yêu cầu của xã hội, thậm chí trái luật hoặc nợ văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết làm ảnh hưởng quyền, lợi ích của Nhà nước, cá nhân và xã hội, làm hạn chế hiệu quả thi hành pháp luật. Trong khi đó, trách nhiệm của Nhà nước trước nhân dân, trách nhiệm của cán bộ, công chức trong vai trò công bộc của nhân dân lại không rõ ràng và tình trạng cán bộ, công chức, viên chức không dám nhận trách nhiệm khi làm sai dẫn đến hiệu quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật không cao, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của một quốc gia.

Thứ sáu, ngân sách và cơ sở vật chất phục vụ cho công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật chưa được quan tâm bố trí đầy đủ. Một số cơ quan, đơn vị chưa lập dự toán kinh phí cho công tác năm 2016 nên chưa được bố trí ngân sách cho hoạt động này; đa phần trang thiết bị vẫn được sử dụng chung cho nhiều công tác khác nhau, về lâu dài không đáp ứng được yêu cầu bảo đảm thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật[1].

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật

Thứ nhất, cần nghiên cứu nâng tầm lĩnh vực theo dõi tình hình thi hành pháp luật bằng một văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn trên cơ sở tổng kết thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Văn bản quy phạm pháp luật quy định về theo dõi tình hình thi hành pháp luật cần bổ sung, quy định cụ thể từng loại chủ thể và vai trò trong theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Trong đó, chủ thể là Nhà nước gồm các cơ quan, tổ chức trong cả ba nhánh quyền lực nhà nước là lập pháp, hành pháp, tư pháp; chủ thể là nhân dân gồm cá nhân, cộng đồng dân cư, tổ chức. Việc luật hóa hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật của nhân dân nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân đối với hệ thống cơ quan quản lý nhà nước đúng với trách nhiệm của Nhà nước đã cam kết tại Hiến pháp năm 2013.

Thứ hai, cơ chế theo dõi tình hình thi hành pháp luật cần được hoàn thiện bằng những quy định về hệ thống phân tích đánh giá hoạt động pháp luật và các phương pháp, công cụ, tiêu chuẩn nhằm đo lường, đánh giá cụ thể tính khả thi, hiệu quả trong thi hành pháp luật theo hướng kiểm soát, đánh giá được thực trạng của Nhà nước, xã hội, người dân; lượng hóa mức độ tác động, tầm ảnh hưởng của việc thi hành pháp luật đối với đời sống xã hội và Nhà nước trong từng hoạt động.

Thứ ba, hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại nơi có nhiều dân tộc sinh sống như Tây Nguyên, phải bao gồm theo dõi tình hình thi hành hệ thống pháp luật nhà nước và hệ thống luật tục nhằm kiểm chứng được tính hợp lý, tính khả thi của quy phạm pháp luật, quy phạm luật tục nhằm tiến đến tiếp nhận, hợp nhất vào hệ thống pháp luật của Nhà nước hoặc hình thành cơ chế đặc thù để điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội tại những khu vực đặc thù này.

Nhà nước phải tạo hành lang pháp lý cho một tổ chức, cá nhân đại diện người dân tộc thiểu số tham gia vào hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật, nhằm xây dựng hệ thống pháp luật xã hội vừa mang tính nhân dân, tính dân tộc và hiện đại.

Thứ tư, kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật phải quy định trách nhiệm xử lý đến cùng những vi phạm pháp luật qua theo dõi phát hiện. Cụ thể: Trách nhiệm pháp lý, bồi thường thiệt hại, hủy bỏ văn bản tự nguyện hoặc bắt buộc bằng quyết định của Tòa án… nhằm đảm bảo hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, ngày càng hiện đại, minh bạch, nghiêm minh đáp ứng cho mục tiêu phát triển bền vững.

Thứ năm, đẩy mạnh công tác tập huấn, hướng dẫn triển khai nhiệm vụ theo dõi tình hình thi hành pháp luật từ phía Bộ Tư pháp, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc về thể chế, chính sách để bảo đảm triển khai hiệu quả ngay từ những bước đầu tiên của công tác này. Sớm có bộ tiêu chí đánh giá hoạt động công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật và tình hình thi hành pháp luật tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

ThS. Trần Nam Trung

Sở Tư pháp Gia Lai

Tài liệu tham khảo:

[1]. Báo cáo số 145/BC-UBND ngày 04/11/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai về công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Gia Lai năm 2016, tr. 2.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: