Thứ hai 10/08/2026 20:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra của cơ quan điều tra trong Công an nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình hiện nay

Tóm tắt: Nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân có vai trò rất quan trọng đối với công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, đã được Bộ Công an quan tâm, ban hành Đề án tổng thể có cơ sở chính trị, pháp luật và thực tiễn cao, góp phần bảo đảm và nâng cao chất lượng công tác đấu tranh, phòng chống theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của lực lượng Công an nhân dân.

Tóm tắt: Nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân có vai trò rất quan trọng đối với công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, đã được Bộ Công an quan tâm, ban hành Đề án tổng thể có cơ sở chính trị, pháp luật và thực tiễn cao, góp phần bảo đảm và nâng cao chất lượng công tác đấu tranh, phòng chống theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của lực lượng Công an nhân dân.

Abstract: Improving the investigation efficiency of the investigating agency in the People's Public Security, which plays a very important role in the fight and prevention of crime in our country in the current period, has been cared by the Ministry of Public Security, and this Ministry has promulgated a master plan with a high political, legal and practical basis, contributing to ensuring and improving the quality of the fight and prevention work according to the functions, tasks and powers of the public people's security forces.

1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân ở nước ta hiện nay[1]

Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân là một trong những Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền tiến hành hầu hết các loại tội phạm được quy định trong Phần Các tội phạm - Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xuất phát từ thẩm quyền điều tra được quy định tại Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân phải đảm nhiệm công tác điều tra một khối lượng vụ án hình sự rất lớn. Theo thống kê của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra trong giai đoạn từ năm 2018 đến hết tháng 6/2021, Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân phải giải quyết 455.255 việc tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Bên cạnh đó, số liệu thống kê cũng cho thấy, Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân cũng đã khởi tố, điều tra 355.220 vụ án hình sự với 502.026 bị can. Như vậy, xét trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn, Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt trong công tác phát hiện, khởi tố, điều tra, xử lý các loại tội phạm hình sự ở nước ta hiện nay.

Xuất phát từ vai trò rất quan trọng của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân, thời gian qua, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Công an đã thường xuyên quan tâm, có những chỉ đạo kịp thời về điều chỉnh mô hình tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn để bảo đảm và từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan này. Sự quan tâm, chỉ đạo nói trên được cụ thể hóa trong những quy định của pháp luật về mô hình tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân. Theo đó, căn cứ vào đặc điểm tình hình diễn biến, xu hướng phát triển của các loại tội phạm và yêu cầu thực tế của công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong từng thời kỳ, Nhà nước đã sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật quy định về mô hình tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân sao cho phù hợp với tình hình công tác, cụ thể như: Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 1989, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung các năm 2006, 2009) và đặc biệt là Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015. Trong những năm qua, Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân đã hoàn thành tốt nhiệm vụ phát hiện, khởi tố, điều tra các loại tội phạm theo thẩm quyền được giao. Hiệu quả hoạt động của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân được thể hiện trên một số khía cạnh cụ thể như:

Thứ nhất, về kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố: Theo thống kê của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, trong giai đoạn từ 2018 đến hết tháng 6/2021, Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân đã ra quyết định giải quyết 382.558/455.255 việc tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố phải giải quyết (đạt tỉ lệ 84,03%), trong đó có 199.887 quyết định khởi tố vụ án, 117.718 quyết định không khởi tố vụ án.

Thứ hai, về kết quả điều tra: Trong giai đoạn từ năm 2018 đến hết tháng 6/2021, Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân đã thụ lý điều tra 355.220 vụ án hình sự với tổng số 502.026 bị can. Kết quả, Cơ quan điều tra đã kết thúc điều tra 221.139 vụ (đạt tỉ lệ 62,3% số vụ) với 367.605 bị can (đạt tỉ lệ 73,2% số bị can), trong đó, đề nghị truy tố 212.694 (đạt tỉ lệ 96,2% số vụ kết thúc điều tra) với 360.348 bị can (đạt tỉ lệ 98,02% số bị can trong các vụ án đã kết thúc điều tra). Từ những số liệu thống kê nói trên, có thể đánh giá những kết quả mà Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân đã đạt được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã góp phần tích cực trong việc ngăn chặn, kiềm chế hoạt động phạm tội của nhiều loại tội phạm, bảo đảm an ninh trật tự ở nước ta trong thời gian qua.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao, hoạt động của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân vẫn bộc lộ một số thiếu sót nhất định, cụ thể là:

Một là, số lượng tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố bị tạm đình chỉ và tồn đọng từ năm trước sang năm sau vẫn còn chiếm tỉ lệ tương đối cao. Theo số liệu thống kê của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, từ năm 2018 đến hết tháng 6/2021 có tổng số 44.931 trường hợp ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (chiếm tỉ lệ 9,9% tổng số tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải giải quyết), bên cạnh đó, trung bình hàng năm còn tồn đọng 20.778 tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố từ năm trước sang năm sau.

Hai là, quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn vẫn còn nhiều trường hợp Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, số liệu thống kê cũng chỉ ra trong giai đoạn từ năm 2018 đến tháng 6/2021 có 388 trường hợp Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, 466 trường hợp Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam của Cơ quan điều tra.

Ba là, số lượng vụ án bị đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ điều tra, trả hồ sơ để điều tra bổ sung và điều tra lại khá cao, số liệu thống kê của của Văn phòng Cơ quan điều tra cho thấy, trong giai đoạn từ năm 2018 đến hết tháng 6/2021, có 8.455 vụ bị đình chỉ điều tra (chiếm tỉ lệ 3,82% tổng số vụ án Cơ quan điều tra thụ lý), 7.526 bị can bị đình chỉ điều tra (chiếm tỉ lệ 1,41% tổng số bị can bị khởi tố), bên cạnh đó, có 47.599 vụ bị tạm đình chỉ điều tra (chiếm tỉ lệ 13,4% tổng số vụ án Cơ quan điều tra thụ lý), 9.461 bị can được tạm đình chỉ điều tra (chiếm tỉ lệ 1,88% tổng số bị can bị khởi tố), ngoài ra, có 08 vụ án bị trả hồ sơ để điều tra lại, 41 vụ án bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Những số liệu thống kê trên cho thấy, mặc dù Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân có tỉ lệ điều tra, khám phá thành công các vụ án hình sự cao, nhưng trong quá trình hoạt động vẫn bộc lộ những thiếu sót nhất định làm ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được giao.

Trong bối cảnh tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay đang có những diễn biến hết sức phức tạp, gia tăng cả về số vụ và số đối tượng, phương thức, thủ đoạn cũng có xu hướng tinh vi, xảo quyệt hơn, đặc biệt là thủ đoạn sử dụng công nghệ cao, câu kết giữa đối tượng phạm tội trong nước và nước ngoài để hoạt động đã và đang gây ra nhiều khó khăn cho công tác phát hiện, điều tra, xử lý của các cơ quan chức năng, trong đó có Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân. Hơn nữa, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, những quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã đặt ra yêu cầu lớn hơn đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân trong việc bảo đảm tính chính xác, khách quan, toàn diện của hoạt động điều tra hình sự. Những vấn đề thực tiễn và lý luận nói trên đòi hỏi các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung, Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân nói riêng phải không ngừng đổi mới nhằm nâng cao năng lực công tác để đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.

2. Cơ sở pháp lý định hướng nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân

Một là, các quan điểm chỉ đạo của Đảng:

Vấn đề nâng cao năng lực của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân giai đoạn 2021 - 2025 là một chủ trương chỉ đạo kịp thời, đúng đắn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, phù hợp với xu thế, tình hình mới trong lĩnh vực đấu tranh, phòng chống các loại tội phạm ở nước ta. Vấn đề có tính chất chỉ đạo nói trên được thể hiện qua một số văn kiện cụ thể như: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với mục tiêu cụ thể là xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao. Bên cạnh đó, Chỉ thị số 26-CT/TW ngày 09/11/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc với tư tưởng chỉ đạo xuyên xuốt đó là tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó có Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân trong công tác phát hiện, điều tra, xử lý vi phạm pháp luật và tội phạm nhằm mục tiêu cao nhất, quan trọng nhất đó là bảo đảm nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, mọi hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm phải được phát hiện, xử lý kịp thời, chính xác, nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật và quy định của Đảng. Gần đây nhất, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã xác định vấn đề cải cách tư pháp, tăng cường pháp chế là vấn đề then chốt, trọng tâm trong giai đoạn 2021 - 2030. Để thực hiện được mục tiêu nói trên vấn đề đặt ra đó là phải nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó có Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân.

Hai là, các quy định của pháp luật hiện hành:

- Hiến pháp năm 2013 đã có những quy định rất chặt chẽ nhằm bảo vệ các quyền của công dân, hạn chế việc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trong các hoạt động tố tụng hình sự thông qua quy định về kiểm soát quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng và bảo đảm quyền được bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích của bị can, bị cáo, đương sự.

- Những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về bảo đảm cơ chế giám sát của các cơ quan, tổ chức, Viện kiểm sát đối với công tác điều tra vụ án hình sự.

- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định mở rộng các quyền của người bị buộc tội, đặc biệt quyền “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”, bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng quy định về việc tăng cường, bảo đảm hoạt động tranh tụng trong các giai đoạn tố tụng hình sự cũng đòi hỏi phải nâng cao năng lực của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân.

- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng đề ra những quy định mới về sự tham gia của người bào chữa, kiểm sát viên vào các hoạt động tố tụng hình sự và những quy định về tiến hành tố tụng trong điều kiện ghi âm, ghi hình có âm thanh, tiến hành tố tụng trong vụ án có sự tham gia của người dưới 18 tuổi. Điều này đòi hỏi đội ngũ điều tra viên, cán bộ điều tra phải được trang bị, huấn luyện, đào tạo những kỹ năng để có thể tiến hành các hoạt động điều tra vụ án hình sự theo những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 một cách có hiệu quả.

3. Một số phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay

Thứ nhất, cơ quan chức năng thuộc Bộ Công an cần rà soát lại biên chế và nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm đối với đội ngũ cán bộ làm công tác điều tra hình sự.

Thứ hai, cơ quan điều tra các cấp cần chú trọng áp dụng các biện pháp điều tra kết hợp với ứng dụng khoa học công nghệ trong điều tra vụ án hình sự.

Thứ ba, nâng cao năng lực công tác lãnh đạo, chỉ đạo của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp.

Thứ tư, nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp với điều tra viên, cán bộ điều tra, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của điều tra viên, cán bộ điều tra trong thời gian tới.

Thứ năm, Bộ Công an cần nghiên cứu tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật hiện đại để phục vụ hoạt động của Cơ quan điều tra các cấp trong lực lượng Công an nhân dân.

ThS. Bùi Quang Huy & ThS. Nguyễn Hồng Quang
Học viện Cảnh sát nhân dân


[1]. Số liệu sử dụng trong mục này được trích dẫn theo Báo cáo tổng kết năm 2018, 2019, 2020 và 6 tháng đầu năm 2021 của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Bộ Công an.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.

Theo dõi chúng tôi trên: