Thứ năm 15/01/2026 18:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả phối hợp thi hành án dân sự đối với phạm nhân tại trại giam của Bộ Công an

Bài viết trao đổi một số vấn đề về lý luận và thực tiễn nhằm góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các trại giam thuộc Bộ Công an và cơ quan thi hành án dân sự trong công tác thi hành án phạt tù.

Thi hành án là khâu cuối cùng của quá trình tố tụng nhằm đưa các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được thực thi. Ngoài các vụ việc dân sự phải thi hành án, trong các vụ án hình sự cũng có phần thi hành án dân sự. Đây là nhiệm vụ của cơ quan thi hành án phải thực hiện thường xuyên để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhà nước khi giải quyết các vụ án hình sự. Thi hành án dân sự trong các bản án, quyết định hình sự là một trong những nội dung quan trọng của cơ quan thi hành án. Theo quy định tại Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), những việc phải thi hành án trong bản án, quyết định hình sự thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự bao gồm: Hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền - tài sản thu lời bất chính, xử lý vật chứng, án phí; thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, bồi thường thiệt hại về tài sản.

Theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 368 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), việc chấp hành xong hình phạt bổ sung (hình phạt tiền, án phí, các nghĩa vụ dân sự) là một trong những căn cứ để cơ quan có thẩm quyền xét tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù. Như vậy, thi hành án các khoản tiền do phạm nhân nộp tại các trại giam mặc dù chiếm một tỷ lệ không lớn so với giá trị có điều kiện thi hành trên toàn quốc nhưng lại có vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần triển khai chính sách, pháp luật nhân đạo của Đảng và Nhà nước, đồng thời, bảo đảm hiệu quả lâu dài của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

1. Thực trạng thi hành án dân sự đối với phạm nhân tại các trại giam

Trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT/BTP-BCA-BTC ngày 06/02/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn trình tự, thủ tục thu, nộp, quản lý tiền, giấy tờ của người phải thi hành án dân sự và trả tiền, giấy tờ cho người được thi hành án dân sự là phạm nhân, cơ bản đã mang lại nhiều hiệu quả tích cực trong việc phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự và các trại giam trong thu tiền của người phải thi hành án là phạm nhân. Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng đã chỉ đạo các trại giam thực hiện tốt công tác phối hợp với các cơ quan thi hành án dân sự các cấp trong thi hành án dân sự đối với phạm nhân theo quy định pháp luật. Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng cũng trao đổi với Tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp về việc chuyển thông tin số tiền bồi thường dân sự các trại giam đã thu để đối chiếu làm căn cứ chuyển phí lại thi hành án cho các trại giam.

Mặc dù việc chấp hành xong các hình phạt bổ sung, bao gồm phạt tiền, án phí, các nghĩa vụ dân sự là một trong những căn cứ để xem xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện, tuy nhiên, việc tổ chức thi hành án dân sự tại trại giam đang là điểm nghẽn của công tác thi hành án dân sự, đặc biệt, quan hệ phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự và các trại giam trong việc thu, nộp các khoản tiền thi hành án dân sự trong các bản án hình sự của phạm nhân trong thời gian qua còn một số hạn chế, thiếu sót, cụ thể như sau:

Thứ nhất, sự phối hợp giữa các cơ quan thi hành án dân sự với các trại giam để trao đổi thông tin còn chưa chặt chẽ, kịp thời nên ảnh hưởng đến việc thực hiện giải quyết thu, nộp, quản lý, chuyển giao tiền phạm nhân tự nguyện nộp tại trại để thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự mà Tòa án đã tuyên. Khi nhận được thông báo của trại giam, một số cơ quan thi hành án dân sự chưa kịp thời có văn bản trả lời để cùng phối hợp thực hiện như cung cấp địa chỉ, số tài khoản để các trại giam thực hiện chuyển tiền, gửi biên lai theo quy định và ngược lại; có cơ quan thi hành án dân sự gửi rất chậm hoặc không gửi biên lai, quyết định kết thúc việc thi hành án để trại giam lưu hồ sơ phạm nhân, dẫn đến khó khăn trong việc đôn đốc phạm nhân thực hiện nghĩa vụ và thực hiện các chính sách đối với phạm nhân (xếp loại thi đua chấp hành án, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện...).

Thứ hai, có lúc, có nơi sự phối hợp giữa các cơ quan thi hành án dân sự với các trại giam trong trao đổi thông tin không kịp thời nên có sự chồng chéo trong việc phạm nhân và thân nhân cùng thi hành trách nhiệm dân sự và trả lại tiền cho phạm nhân là người được thi hành án, gây khó khăn cho trại giam và cơ quan thi hành án dân sự trong việc giải quyết khoản tiền đã thu từ phạm nhân nộp tại trại và thân nhân của phạm nhân. Cá biệt có trường hợp phạm nhân đã chết, đã chấp hành xong án phạt tù nhưng cơ quan thi hành án dân sự vẫn có văn bản thông báo đề nghị trại giam cung cấp số tài khoản để chuyển lại tiền thi hành án dân sự để trại giam trả lại cho phạm nhân.

Thứ ba, hiện nay, tài sản, tiền người phải thi hành án do phạm nhân tự nguyện nộp tại trại giam còn tồn đọng, trại giam đã có văn bản thông báo nhưng cơ quan thi hành án dân sự chưa tiếp nhận với những lý do như:

- Người bị hại hoặc thân nhân người bị hại chưa có đơn yêu cầu thi hành án; Tòa án chưa chuyển giao bản án hoặc thời hiệu thi hành án đã hết nên cơ quan thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án.

- Một số phạm nhân bị Tòa án tuyên bồi thường cho bị hại bằng hiện vật mà không định giá bằng tiền nên khi phạm nhân thực hiện nghĩa vụ rất khó khăn do không liên lạc được với bị hại hoặc bị hại không nhận hoặc trường hợp cơ quan thi hành án dân sự gửi tài sản trả lại cho phạm nhân qua bưu điện khiến việc tiếp nhận của trại giam gặp khó khăn, trong khi đó, trại giam không có kho để cất giữ, bảo quản tài sản của phạm nhân để thời gian dài sẽ hư hỏng.

Ngoài ra, một số cơ quan thi hành án dân sự không có văn bản trả lời về việc tiếp nhận khoản tiền do trại giam thu của phạm nhân là người phải thi hành án; một số chấp hành viên nhận được thông báo của trại giam nhưng không kịp thời xử lý, để thất lạc hoặc không bàn giao cho người mới tiếp nhận.

Thứ tư, về thủ tục trả lại tiền, tài sản, giấy tờ cho phạm nhân: Đối với các trường hợp đương sự ở xa, không thể đến nhận tiền, giấy tờ trực tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự thì có thể làm đơn xin nhận tiền, giấy tờ tại trại giam. Tuy nhiên, nhiều phạm nhân có trình độ hiểu biết hạn chế, cá biệt hoặc không biết chữ, việc quy định phạm nhân có đơn xin nhận tiền, giấy tờ trong trại giam trên thực tế là rất khó thực hiện. Về thủ tục ủy quyền của phạm nhân, việc xác nhận giấy ủy quyền này mất khá nhiều thời gian và không phải lúc nào cũng dễ dàng thực hiện, một số trại giam còn yêu cầu thân nhân của phạm nhân phải có xác nhận của chính quyền địa phương mới xác nhận giấy ủy quyền hoặc đòi hỏi những giấy tờ khác nhau, nên người được ủy quyền gặp nhiều khó khăn, thậm chí phải đi lại rất nhiều lần mới có thể xin được giấy ủy quyền tại trại giam.

Thứ năm, còn nhiều trường hợp do Tòa án chưa kịp chuyển giao bản án cho cơ quan thi hành án dân sự nên khi trại giam tiếp nhận tiền của phạm nhân và có văn bản gửi cơ quan thi hành án dân sự thì được trả lời là chưa có quyết định thi hành án. Việc ủy thác thi hành án dân sự giữa các cơ quan thi hành án dân sự liên quan đến nghĩa vụ dân sự của phạm nhân trong bản án hình sự không có văn bản thông báo hoặc thông báo chưa kịp thời cho trại giam nên việc phối hợp hiệu quả chưa cao, gây khó khăn cho trại giam trong việc giải quyết khoản tiền đã thu của phạm nhân.

Thứ sáu, trong phối hợp xét miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù; đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện. Thông thường, cơ quan thi hành án dân sự sẽ cấp giấy xác nhận kết quả thi hành án cho phạm nhân để có căn cứ được miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân. Tuy nhiên, công tác phối hợp giữa các cơ quan thi hành án dân sự và các trại giam có lúc, có nơi, có việc chưa kịp thời, chưa chặt chẽ. Mặt khác, việc phạm nhân vào trại, ra trại, chuyển trại, thậm chí trường hợp phạm nhân chết cũng làm cho việc xác định số liệu liên quan đến phần dân sự tại trại giam khó khăn, số liệu báo cáo thường kỳ chưa sát thực hoặc không cập nhật kịp thời hoặc chênh lệch số liệu giữa cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án hình sự. Việc không kịp thời xác định tình trạng của người phải thi hành án cũng dẫn đến những bất cập trong việc phối hợp xác minh điều kiện thi hành án và tổ chức thi hành án.

Thứ bảy, kinh phí để bảo đảm thực hiện công tác phối hợp giữa trại giam và cơ quan thi hành án dân sự như kinh phí mua văn phòng phẩm, phí chuyển tiền, giấy tờ… chưa được quy định rõ. Việc yêu cầu và xử lý đối với hành vi không chấp hành án, chống đối, cản trở việc thi hành án đã được thực hiện nhưng chưa đáp ứng yêu cầu, chưa có sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp công tác thi hành án dân sự đối với phạm nhân

Một là, tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự và trại giam trong tổ chức thi hành án, đặc biệt là các hoạt động phối hợp cụ thể và thủ tục thực hiện các tác nghiệp khi tổ chức thi hành án đối với phạm nhân. Nghiên cứu bổ sung các quy định mang tính đặc thù trong việc thi hành án đối với phạm nhân, trên cơ sở giảm bớt các thủ tục hành chính, để thuận lợi hơn trong quá trình tổ chức thi hành án. Cần có những quy định cụ thể hơn về việc phối hợp giữa trại giam và cơ quan thi hành án dân sự trong việc đôn đốc, tổ chức thi hành án đối với người phải thi hành án là phạm nhân, cách thức xử lý các khoản tiền này đối với từng trường hợp cụ thể để nâng cao hơn nữa hiệu quả tổ chức thi hành án.

Hai là, xây dựng và hệ thống hóa cơ sở dữ liệu điện tử giữa cơ quan thi hành án dân sự và các trại giam, có thể xem xét xây dựng phần mềm liên thông giữa cơ quan thi hành án dân sự và hệ thống trại giam để hỗ trợ việc tra cứu thông tin của người phải thi hành án là phạm nhân. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho cả cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án hình sự trong việc theo dõi thông tin về việc chấp hành hình phạt tù, cũng như hoàn thành nghĩa vụ dân sự của các đương sự là phạm nhân, giảm bớt các thủ tục hành chính còn rườm rà trong công tác phối hợp giữa hai cơ quan như hiện nay.

Ba là, tiếp tục xây dựng các quy chế phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự và các trại giam trong nhiều công việc khác liên quan đến tổ chức thi hành án đối với đương sự là phạm nhân, cụ thể như về thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, xử lý tài sản lưu ký tại trại giam để thi hành án… góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả thi hành án đối với loại việc này.

Bốn là, các trại giam cần thường xuyên phối hợp với Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh tăng cường tuyên truyền, phổ biến cho phạm nhân về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong quá trình chấp hành án phạt tù. Tổ chức thực hiện việc thu tiền, giấy tờ do thân nhân, phạm nhân tự nguyện nộp tại trại để thi hành phần dân sự trong bản án hình sự bảo đảm đúng theo quy định, cũng như phối hợp với Kho bạc Nhà nước và các cơ quan thi hành án dân sự chuyển các khoản tiền đã thu một cách nhanh chóng và thuận tiện.

Năm là, các trại giam cần tăng cường phối hợp với Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh cùng đại diện thân nhân gia đình người bị hại, thân nhân gia đình các phạm nhân định kỳ, thường xuyên tổ chức hội nghị thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với phạm nhân. Đây là dịp để các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan cùng nhau trao đổi, thảo luận, đóng góp ý kiến và đề xuất các giải pháp để tăng cường công tác phối hợp nâng cao hiệu quả thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với phạm nhân.

Sáu là, tạo điều kiện tốt nhất để các cơ quan thi hành án dân sự đến liên hệ công tác, gặp gỡ phạm nhân để tiến hành thủ tục giải quyết các vấn đề về thi hành án dân sự có liên quan đến phạm nhân, không để xảy ra tình trạng thân nhân, phạm nhân thắc mắc, khiếu nại. Thường xuyên động viên, khuyến khích phạm nhân tích cực học tập, lao động cải tạo tốt, phấn đấu vượt định mức lao động để bản thân có thể thực hiện phần nghĩa vụ dân sự. Qua đó, giúp phạm nhân an tâm tư tưởng, tích cực học tập, lao động, cải tạo tốt để sớm được xét giảm án, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Bảy là, tăng cường kinh phí để bảo đảm thực hiện tốt công tác phối hợp giữa các trại giam và cơ quan thi hành án dân sự trong công tác thi hành án phạt tù như kinh phí mua văn phòng phẩm, phí chuyển tiền, giấy tờ. Tăng cường phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác xử lý đối với hành vi không chấp hành án, chống đối, cản trở việc thi hành án, công tác này phải được thực hiện quyết liệt, triệt để, đáp ứng yêu cầu./.

Thiếu tá, TS. Nguyễn Văn Mạnh

Phó Trưởng Khoa Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Học viện Cảnh sát nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 410), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: