Chủ nhật 13/09/2026 11:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả phối hợp thi hành án dân sự đối với phạm nhân tại trại giam của Bộ Công an

Bài viết trao đổi một số vấn đề về lý luận và thực tiễn nhằm góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các trại giam thuộc Bộ Công an và cơ quan thi hành án dân sự trong công tác thi hành án phạt tù.

Thi hành án là khâu cuối cùng của quá trình tố tụng nhằm đưa các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được thực thi. Ngoài các vụ việc dân sự phải thi hành án, trong các vụ án hình sự cũng có phần thi hành án dân sự. Đây là nhiệm vụ của cơ quan thi hành án phải thực hiện thường xuyên để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhà nước khi giải quyết các vụ án hình sự. Thi hành án dân sự trong các bản án, quyết định hình sự là một trong những nội dung quan trọng của cơ quan thi hành án. Theo quy định tại Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), những việc phải thi hành án trong bản án, quyết định hình sự thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự bao gồm: Hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền - tài sản thu lời bất chính, xử lý vật chứng, án phí; thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, bồi thường thiệt hại về tài sản.

Theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 368 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), việc chấp hành xong hình phạt bổ sung (hình phạt tiền, án phí, các nghĩa vụ dân sự) là một trong những căn cứ để cơ quan có thẩm quyền xét tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù. Như vậy, thi hành án các khoản tiền do phạm nhân nộp tại các trại giam mặc dù chiếm một tỷ lệ không lớn so với giá trị có điều kiện thi hành trên toàn quốc nhưng lại có vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần triển khai chính sách, pháp luật nhân đạo của Đảng và Nhà nước, đồng thời, bảo đảm hiệu quả lâu dài của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

1. Thực trạng thi hành án dân sự đối với phạm nhân tại các trại giam

Trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT/BTP-BCA-BTC ngày 06/02/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn trình tự, thủ tục thu, nộp, quản lý tiền, giấy tờ của người phải thi hành án dân sự và trả tiền, giấy tờ cho người được thi hành án dân sự là phạm nhân, cơ bản đã mang lại nhiều hiệu quả tích cực trong việc phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự và các trại giam trong thu tiền của người phải thi hành án là phạm nhân. Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng đã chỉ đạo các trại giam thực hiện tốt công tác phối hợp với các cơ quan thi hành án dân sự các cấp trong thi hành án dân sự đối với phạm nhân theo quy định pháp luật. Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng cũng trao đổi với Tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp về việc chuyển thông tin số tiền bồi thường dân sự các trại giam đã thu để đối chiếu làm căn cứ chuyển phí lại thi hành án cho các trại giam.

Mặc dù việc chấp hành xong các hình phạt bổ sung, bao gồm phạt tiền, án phí, các nghĩa vụ dân sự là một trong những căn cứ để xem xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện, tuy nhiên, việc tổ chức thi hành án dân sự tại trại giam đang là điểm nghẽn của công tác thi hành án dân sự, đặc biệt, quan hệ phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự và các trại giam trong việc thu, nộp các khoản tiền thi hành án dân sự trong các bản án hình sự của phạm nhân trong thời gian qua còn một số hạn chế, thiếu sót, cụ thể như sau:

Thứ nhất, sự phối hợp giữa các cơ quan thi hành án dân sự với các trại giam để trao đổi thông tin còn chưa chặt chẽ, kịp thời nên ảnh hưởng đến việc thực hiện giải quyết thu, nộp, quản lý, chuyển giao tiền phạm nhân tự nguyện nộp tại trại để thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự mà Tòa án đã tuyên. Khi nhận được thông báo của trại giam, một số cơ quan thi hành án dân sự chưa kịp thời có văn bản trả lời để cùng phối hợp thực hiện như cung cấp địa chỉ, số tài khoản để các trại giam thực hiện chuyển tiền, gửi biên lai theo quy định và ngược lại; có cơ quan thi hành án dân sự gửi rất chậm hoặc không gửi biên lai, quyết định kết thúc việc thi hành án để trại giam lưu hồ sơ phạm nhân, dẫn đến khó khăn trong việc đôn đốc phạm nhân thực hiện nghĩa vụ và thực hiện các chính sách đối với phạm nhân (xếp loại thi đua chấp hành án, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện...).

Thứ hai, có lúc, có nơi sự phối hợp giữa các cơ quan thi hành án dân sự với các trại giam trong trao đổi thông tin không kịp thời nên có sự chồng chéo trong việc phạm nhân và thân nhân cùng thi hành trách nhiệm dân sự và trả lại tiền cho phạm nhân là người được thi hành án, gây khó khăn cho trại giam và cơ quan thi hành án dân sự trong việc giải quyết khoản tiền đã thu từ phạm nhân nộp tại trại và thân nhân của phạm nhân. Cá biệt có trường hợp phạm nhân đã chết, đã chấp hành xong án phạt tù nhưng cơ quan thi hành án dân sự vẫn có văn bản thông báo đề nghị trại giam cung cấp số tài khoản để chuyển lại tiền thi hành án dân sự để trại giam trả lại cho phạm nhân.

Thứ ba, hiện nay, tài sản, tiền người phải thi hành án do phạm nhân tự nguyện nộp tại trại giam còn tồn đọng, trại giam đã có văn bản thông báo nhưng cơ quan thi hành án dân sự chưa tiếp nhận với những lý do như:

- Người bị hại hoặc thân nhân người bị hại chưa có đơn yêu cầu thi hành án; Tòa án chưa chuyển giao bản án hoặc thời hiệu thi hành án đã hết nên cơ quan thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án.

- Một số phạm nhân bị Tòa án tuyên bồi thường cho bị hại bằng hiện vật mà không định giá bằng tiền nên khi phạm nhân thực hiện nghĩa vụ rất khó khăn do không liên lạc được với bị hại hoặc bị hại không nhận hoặc trường hợp cơ quan thi hành án dân sự gửi tài sản trả lại cho phạm nhân qua bưu điện khiến việc tiếp nhận của trại giam gặp khó khăn, trong khi đó, trại giam không có kho để cất giữ, bảo quản tài sản của phạm nhân để thời gian dài sẽ hư hỏng.

Ngoài ra, một số cơ quan thi hành án dân sự không có văn bản trả lời về việc tiếp nhận khoản tiền do trại giam thu của phạm nhân là người phải thi hành án; một số chấp hành viên nhận được thông báo của trại giam nhưng không kịp thời xử lý, để thất lạc hoặc không bàn giao cho người mới tiếp nhận.

Thứ tư, về thủ tục trả lại tiền, tài sản, giấy tờ cho phạm nhân: Đối với các trường hợp đương sự ở xa, không thể đến nhận tiền, giấy tờ trực tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự thì có thể làm đơn xin nhận tiền, giấy tờ tại trại giam. Tuy nhiên, nhiều phạm nhân có trình độ hiểu biết hạn chế, cá biệt hoặc không biết chữ, việc quy định phạm nhân có đơn xin nhận tiền, giấy tờ trong trại giam trên thực tế là rất khó thực hiện. Về thủ tục ủy quyền của phạm nhân, việc xác nhận giấy ủy quyền này mất khá nhiều thời gian và không phải lúc nào cũng dễ dàng thực hiện, một số trại giam còn yêu cầu thân nhân của phạm nhân phải có xác nhận của chính quyền địa phương mới xác nhận giấy ủy quyền hoặc đòi hỏi những giấy tờ khác nhau, nên người được ủy quyền gặp nhiều khó khăn, thậm chí phải đi lại rất nhiều lần mới có thể xin được giấy ủy quyền tại trại giam.

Thứ năm, còn nhiều trường hợp do Tòa án chưa kịp chuyển giao bản án cho cơ quan thi hành án dân sự nên khi trại giam tiếp nhận tiền của phạm nhân và có văn bản gửi cơ quan thi hành án dân sự thì được trả lời là chưa có quyết định thi hành án. Việc ủy thác thi hành án dân sự giữa các cơ quan thi hành án dân sự liên quan đến nghĩa vụ dân sự của phạm nhân trong bản án hình sự không có văn bản thông báo hoặc thông báo chưa kịp thời cho trại giam nên việc phối hợp hiệu quả chưa cao, gây khó khăn cho trại giam trong việc giải quyết khoản tiền đã thu của phạm nhân.

Thứ sáu, trong phối hợp xét miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù; đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện. Thông thường, cơ quan thi hành án dân sự sẽ cấp giấy xác nhận kết quả thi hành án cho phạm nhân để có căn cứ được miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân. Tuy nhiên, công tác phối hợp giữa các cơ quan thi hành án dân sự và các trại giam có lúc, có nơi, có việc chưa kịp thời, chưa chặt chẽ. Mặt khác, việc phạm nhân vào trại, ra trại, chuyển trại, thậm chí trường hợp phạm nhân chết cũng làm cho việc xác định số liệu liên quan đến phần dân sự tại trại giam khó khăn, số liệu báo cáo thường kỳ chưa sát thực hoặc không cập nhật kịp thời hoặc chênh lệch số liệu giữa cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án hình sự. Việc không kịp thời xác định tình trạng của người phải thi hành án cũng dẫn đến những bất cập trong việc phối hợp xác minh điều kiện thi hành án và tổ chức thi hành án.

Thứ bảy, kinh phí để bảo đảm thực hiện công tác phối hợp giữa trại giam và cơ quan thi hành án dân sự như kinh phí mua văn phòng phẩm, phí chuyển tiền, giấy tờ… chưa được quy định rõ. Việc yêu cầu và xử lý đối với hành vi không chấp hành án, chống đối, cản trở việc thi hành án đã được thực hiện nhưng chưa đáp ứng yêu cầu, chưa có sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp công tác thi hành án dân sự đối với phạm nhân

Một là, tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự và trại giam trong tổ chức thi hành án, đặc biệt là các hoạt động phối hợp cụ thể và thủ tục thực hiện các tác nghiệp khi tổ chức thi hành án đối với phạm nhân. Nghiên cứu bổ sung các quy định mang tính đặc thù trong việc thi hành án đối với phạm nhân, trên cơ sở giảm bớt các thủ tục hành chính, để thuận lợi hơn trong quá trình tổ chức thi hành án. Cần có những quy định cụ thể hơn về việc phối hợp giữa trại giam và cơ quan thi hành án dân sự trong việc đôn đốc, tổ chức thi hành án đối với người phải thi hành án là phạm nhân, cách thức xử lý các khoản tiền này đối với từng trường hợp cụ thể để nâng cao hơn nữa hiệu quả tổ chức thi hành án.

Hai là, xây dựng và hệ thống hóa cơ sở dữ liệu điện tử giữa cơ quan thi hành án dân sự và các trại giam, có thể xem xét xây dựng phần mềm liên thông giữa cơ quan thi hành án dân sự và hệ thống trại giam để hỗ trợ việc tra cứu thông tin của người phải thi hành án là phạm nhân. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho cả cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án hình sự trong việc theo dõi thông tin về việc chấp hành hình phạt tù, cũng như hoàn thành nghĩa vụ dân sự của các đương sự là phạm nhân, giảm bớt các thủ tục hành chính còn rườm rà trong công tác phối hợp giữa hai cơ quan như hiện nay.

Ba là, tiếp tục xây dựng các quy chế phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự và các trại giam trong nhiều công việc khác liên quan đến tổ chức thi hành án đối với đương sự là phạm nhân, cụ thể như về thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, xử lý tài sản lưu ký tại trại giam để thi hành án… góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả thi hành án đối với loại việc này.

Bốn là, các trại giam cần thường xuyên phối hợp với Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh tăng cường tuyên truyền, phổ biến cho phạm nhân về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong quá trình chấp hành án phạt tù. Tổ chức thực hiện việc thu tiền, giấy tờ do thân nhân, phạm nhân tự nguyện nộp tại trại để thi hành phần dân sự trong bản án hình sự bảo đảm đúng theo quy định, cũng như phối hợp với Kho bạc Nhà nước và các cơ quan thi hành án dân sự chuyển các khoản tiền đã thu một cách nhanh chóng và thuận tiện.

Năm là, các trại giam cần tăng cường phối hợp với Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh cùng đại diện thân nhân gia đình người bị hại, thân nhân gia đình các phạm nhân định kỳ, thường xuyên tổ chức hội nghị thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với phạm nhân. Đây là dịp để các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan cùng nhau trao đổi, thảo luận, đóng góp ý kiến và đề xuất các giải pháp để tăng cường công tác phối hợp nâng cao hiệu quả thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với phạm nhân.

Sáu là, tạo điều kiện tốt nhất để các cơ quan thi hành án dân sự đến liên hệ công tác, gặp gỡ phạm nhân để tiến hành thủ tục giải quyết các vấn đề về thi hành án dân sự có liên quan đến phạm nhân, không để xảy ra tình trạng thân nhân, phạm nhân thắc mắc, khiếu nại. Thường xuyên động viên, khuyến khích phạm nhân tích cực học tập, lao động cải tạo tốt, phấn đấu vượt định mức lao động để bản thân có thể thực hiện phần nghĩa vụ dân sự. Qua đó, giúp phạm nhân an tâm tư tưởng, tích cực học tập, lao động, cải tạo tốt để sớm được xét giảm án, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Bảy là, tăng cường kinh phí để bảo đảm thực hiện tốt công tác phối hợp giữa các trại giam và cơ quan thi hành án dân sự trong công tác thi hành án phạt tù như kinh phí mua văn phòng phẩm, phí chuyển tiền, giấy tờ. Tăng cường phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác xử lý đối với hành vi không chấp hành án, chống đối, cản trở việc thi hành án, công tác này phải được thực hiện quyết liệt, triệt để, đáp ứng yêu cầu./.

Thiếu tá, TS. Nguyễn Văn Mạnh

Phó Trưởng Khoa Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Học viện Cảnh sát nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 410), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: