Thứ ba 26/05/2026 03:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế đất và thực hiện quyền sử dụng đất tại các cơ sở giáo dục công lập[1]

Trong xu hướng cơ sở giáo dục công lập tự chủ hoàn toàn về tài chính, việc quản lý, sử dụng đất đai một cách có hiệu quả là phù hợp với điều kiện hiện nay. Bài viết đề cập đến vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế đất và thực hiện quyền sử dụng đất của các cơ sở giáo dục công lập.

1. Đặt vấn đề

Một trong những điểm mới quan trọng của Luật Đất đai năm 2024 được cơ sở giáo dục công lập - với tư cách là “người sử dụng đất”[2] quan tâm chính là sự ghi nhận “đơn vị sự nghiệp công lập được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập có nhu cầu sử dụng một phần hoặc toàn bộ diện tích được giao để sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ thì được lựa chọn chuyển sang hình thức Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hằng năm đối với phần diện tích đó” (khoản 3 Điều 30); “đơn vị sự nghiệp công lập lựa chọn hình thức thuê đất theo quy định tại khoản 3 Điều 30 của Luật này” (điểm c khoản 3 Điều 120); đồng thời, theo Điều 9 đất đai gồm nhiều loại khác nhau, trong đó có loại đất “giáo dục và đào tạo” thuộc nhóm đất phi nông nghiệp (điểm d khoản 3) và theo khoản 2 Điều 13 thì đất đai có thể được chuyển mục đích sử dụng khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Chính vì những quy định mới này, nên việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế đất cũng như thực hiện quyền sử dụng vốn đất đai tại các cơ sở giáo dục công lập, nhất là trong điều kiện tự chủ hóa các cơ sở giáo dục công lập là thực sự cần thiết.

Hiện nay, ở Việt Nam, cơ chế tự chủ hoàn toàn về tài chính đối với các cơ sở giáo dục công lập đang là một xu thế. Trong hoàn cảnh đó, các cơ sở giáo dục công lập rất cần có một sự “trợ lực” và phải tận dụng tối đa mọi nguồn lực, tiềm năng mà Nhà nước trao cho trong đó có đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị trong khuôn khổ của pháp luật nhằm khai thác có hiệu quả hơn nữa, nâng cao đời sống, vật chất, tinh thần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục, đào tạo phát triển. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tiếp cận dưới giác độ phát huy tối đa nguồn lực vô cùng quan trọng là vốn đất đai (đất đai là vốn) góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về kinh tế đất, cũng như thực hiện quyền sử dụng đất đai tại các cơ sở giáo dục công lập trong xu thế tự chủ hoàn toàn về tài chính góp phần đem lại lợi ích cho chính các cơ sở giáo dục công lập và người học.

2. Quản lý hành chính nhà nước về kinh tế đất và thực hiện quyền sử dụng đất tại các cơ sở giáo dục công lập

2.1. Quy định của pháp luật đất đai

Các cơ sở giáo dục công lập (là một loại hình đơn vị sự nghiệp công lập) được xác định là “người sử dụng đất” theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Đất đai năm 2024 với tư cách chủ thể là một loại tổ chức trong nước sử dụng đất. Loại đất mà các cơ sở giáo dục công lập đang quản lý, sử dụng trong nhóm đất phi nông nghiệp theo khoản 1 và điểm d khoản 3 Điều 9 Luật Đất đai 2024 và có thể được “chuyển mục đích sử dụng” sang loại đất khác như: Đất nông nghiệp; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp… khi “được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép” theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật Đất đai năm 2024. Như vậy, các cơ sở giáo dục công lập có quyền sử dụng đất “giáo dục và đào tạo” như những quy định trước đây và còn có thể sử dụng đồng thời nhiều loại đất với nhiều mục đích khác nhau nếu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng.

Theo Luật Đất đai năm 2024, các cơ sở giáo dục công lập được xác định tư cách là “người sử dụng đất” nên được hưởng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ chung của người sử dụng đất quy định tại Điều 26, Điều 27 và Điều 31; ngoài ra còn có các quyền và nghĩa vụ riêng được quy định tại các điều 32, 33, 34. Tuy nhiên, Nhà nước vẫn là đại diện chủ sở hữu về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai. Hình thức sử dụng đất của các cơ sở giáo dục công lập là thông qua việc Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất (Điều 32) hoặc Nhà nước cho thuê đất có thu tiền sử dụng đất (Điều 33, Điều 34) mà không bàn về việc các cơ sở giáo dục công lập có tự chủ tài chính hay không. Đây là quy định mới của Luật Đất đai năm 2024, giúp các chủ thể sử dụng đất bình đẳng như nhau. Trước đây, Luật Đất đai năm 2013 quy định: Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với các cơ sở giáo dục công lập chưa tự chủ hoàn toàn về tài chính nhằm để xây dựng công trình sự nghiệp. Mặc dù, có thể nói, đây là “ưu ái” đối với các cơ sở giáo dục công lập nhưng trên thực tế lại có hạn chế nhất định trong việc thực hiện quyền sử dụng đất nên cũng chưa thực sự phát huy được “sức mạnh” của nguồn lực đất đai hay nói cách khác là còn hạn chế khả năng của kinh tế đất. Bên cạnh đó, các cơ sở giáo dục công lập dù có sử dụng đất dưới hình thức thuê trả tiền hàng năm hoặc thuê đất mà tiền trả thuê đất có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước thì cũng không được thực hiện đầy đủ quyền sử dụng đất đó. Luật Đất đai năm 2024 đã mở ra một khả năng mới về kinh tế đất như khoản 3 Điều 30 quy định là được phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất nếu cơ sở giáo dục công lập mong muốn và phải thực hiện thủ tục hành chính tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đồng thời, Luật Đất đai năm 2024 không còn sự phân biệt “nhóm” quyền và nghĩa vụ cụ thể cho từng loại đơn vị mà chỉ quy định quyền và nghĩa vụ chung, quyền và nghĩa vụ cụ thể cho từng loại chủ thể không loại trừ các cơ sở giáo dục công lập, điều này cho thấy được tính minh bạch, công bằng với tất cả các chủ thể sử dụng đất.

2.2. Quản lý hành chính nhà nước về kinh tế đất đối với đất đã giao quyền sử dụng cho các cơ sở giáo dục công lập

Đất đai được xem như một loại “vốn đặc biệt” của các cơ sở giáo dục công lập. Vốn, giống như năng lượng, cũng là “một giá trị đang nằm ngủ”. Đưa vốn vào cuộc sống đòi hỏi phải đi xa hơn việc nhìn các tài sản như chúng đang tồn tại, mà phải suy nghĩ một cách năng động về tiềm năng của chúng[3]. Vốn đất đai của các cơ sở giáo dục công lập đang quản lý, sử dụng được điều chỉnh bởi Luật Đất đai và Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2022 (Luật Quản lý, sử dụng tài sản công). Theo đó, khoản 3 Điều 5 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công quy định: Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước thực hiện: Đầu tư vốn, khoa học và công nghệ để phát triển tài sản công và hiện đại hóa công tác quản lý tài sản công theo quy định của pháp luật; nhận chuyển giao quyền đầu tư, khai thác hoặc thuê quyền khai thác tài sản công theo quy định của pháp luật; cung cấp dịch vụ về tài sản công theo quy định của pháp luật. Tuy vậy, trong trường hợp quyền sử dụng đất được sử dụng vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết mà tiền thuê đất đã được trả một lần cho cả thời gian thuê không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận thì các cơ sở giáo dục công lập có thể thực hiện các biện pháp nhằm huy động nguồn lực là vốn đất đai. Việc sử dụng vốn đất đai vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết phải bảo đảm tất cả các yêu cầu: Được cơ quan, người có thẩm quyền cho phép; không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ sở giáo dục công lập được Nhà nước giao; không làm mất quyền sở hữu về tài sản công; bảo toàn và phát triển vốn, tài sản Nhà nước giao; sử dụng tài sản đúng mục đích được giao, được đầu tư xây dựng, mua sắm; phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị; phát huy công suất và hiệu quả sử dụng tài sản; tính đủ khấu hao tài sản cố định, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế, phí, lệ phí và các nghĩa vụ tài chính khác với Nhà nước theo quy định của pháp luật; Nhà nước không cấp kinh phí bảo dưỡng đối với tài sản công chỉ được sử dụng vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết; thực hiện theo cơ chế thị trường và tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan[4].

Mặt khác, Luật Đất đai năm 2024 cũng quy định: “Đối với đất đơn vị sự nghiệp công lập được Nhà nước cho thuê đất thì được phép chủ động khai thác, sử dụng kết hợp đa mục đích theo phương án được cơ quan chủ quản phê duyệt phù hợp với quy định của Luật này và pháp luật có liên quan; trường hợp có đầu tư xây dựng công trình trên đất phải phù hợp với pháp luật về xây dựng. Việc khai thác, sử dụng đất kết hợp đa mục đích phải được hạch toán theo quy định của pháp luật” và “đối với đất do đơn vị sự nghiệp công lập đang sử dụng mà có nhu cầu cho thuê, liên doanh, liên kết với tổ chức kinh tế thì phải có đề án sử dụng tài sản công vào mục đích cho thuê, liên doanh, liên kết được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công” (điểm a, điểm b khoản 2 Điều 34).

Như vậy, việc lập đề án để sử dụng đất đai vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết là phải do cơ quan chủ quản phê duyệt; các cơ sở giáo dục công lập chỉ tổ chức thực hiện theo đề án đã được phê duyệt, có nghĩa vụ cập nhật thông tin việc sử dụng đất đai vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết và thực hiện đầy đủ tất cả các yêu cầu tại Điều 55 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công. Số tiền thu được từ hoạt động kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết phải được hạch toán riêng và kế toán đầy đủ theo quy định của pháp luật về kế toán và được quản lý, sử dụng để chi trả các chi phí liên quan, trả nợ vốn vay (nếu có), vốn đã huy động được (nếu có), thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; phần còn lại được quản lý, sử dụng theo quy định và cần được luật hóa.

2.3. Thực hiện quyền sử dụng đất của các cơ sở giáo dục công lập

Hiện nay, các cơ sở giáo dục công lập đang sử dụng một nguồn vốn là đất đai rất lớn, cả về diện tích, vị trí và giá trị. Tuy nhiên, các cơ sở giáo công lập vẫn chưa phát huy được hết giá trị kinh tế đất, sử dụng đất chưa hiệu quả, thậm chí còn lãng phí do bỏ hoang, chưa khai thác tối đa công năng của đất... Một trong những nguyên nhân của thực trạng này là do các quy định chưa cụ thể của pháp luật đất đai, pháp luật về đầu tư công, quản lý tài sản công, pháp luật về ngân sách nhà nước... cơ sở pháp lý của việc tự chủ nguồn lực về đất đai tại các cơ sở giáo dục công lập hiện nay vẫn còn chưa cụ thể và nằm rải rác trong các văn bản như: Luật Đất đai, Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học, Luật Giáo dục, Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Ngân sách nhà nước, các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành… Cùng với đó, tâm lý thận trọng, đã quen “bầu sữa ngân sách” nên các cơ sở giáo dục công lập còn chưa thực sự tích cực, chủ động với vấn đề tự chủ hoàn toàn về tài chính, lựa chọn hướng tiếp cận tự chủ từng bước và rất ít quan tâm đến kinh tế đất với tư cách đất đai là một nguồn vốn.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế đất và thực hiện quyền sử dụng đất tại các cơ sở giáo dục công lập trong điều kiện tự chủ hoàn toàn về tài chính

Từ thực trạng tự chủ hoàn toàn về tài chính; quản lý nhà nước, sử dụng vốn đất đai của các cơ sở giáo dục công lập, tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế đất và thực hiện quyền sử dụng đất tại các cơ sở giáo dục công lập cụ thể như sau:

Một là, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường cần sớm xây dựng thông tư hướng dẫn cụ thể việc quản lý nhà nước về kinh tế đất, cũng như thực hiện quyền sử dụng đất tại các cơ sở giáo dục công lập trong điều kiện tự chủ hoàn toàn về tài chính phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 2024. Từ đó, vốn đất đai được nhìn nhận với quan niệm “kinh tế đất”, để sớm tổ chức thực hiện quyền sử dụng đất tại các cơ sở giáo dục công lập hiệu quả hơn, giúp hình thành các mô hình liên kết, khai thác, liên doanh với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước.

Hai là, các cơ sở giáo dục công lập cần quan tâm hơn nữa đến việc nâng cao chất lượng, sáng tạo trong quản lý tài sản công, đặc biệt là chủ động thực hiện quyền sử dụng đất đai. Rà soát sửa đổi, bổ sung quy chế quản lý tài chính, tài sản công, đất đai, xác định đúng thẩm quyền, trách nhiệm của từng đơn vị. Củng cố bộ phận tham mưu, tư vấn có chất lượng cho hội đồng trường, hiệu trưởng, người đứng đầu các cơ sở giáo dục công lập trong điều kiện tự chủ hoàn toàn về tài chính để ban hành những quyết định theo đúng quy định của pháp luật về tài chính, tài sản công, đất đai giúp phát huy tối đa giá trị của đất đai với tư cách đất đai là một nguồn vốn.

Ba là, cần tránh việc hành chính hóa các nhiệm vụ được giao, phải có sự tách bạch giữa nhiệm vụ được giao (nếu có) với hoạt động giáo dục và đào tạo mang tính dịch vụ của các cơ sở giáo dục công lập. Ở góc độ hoạt động dịch vụ, cần xem như hoạt động kinh doanh và có tính cạnh tranh nhằm đem lại lợi ích chính đáng cho người học và xã hội. Các đề án sử dụng tài sản công, trong đó có đất đai, rất cần được các cơ quan chủ quản, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quan tâm hướng dẫn; xác định rõ hơn về giá trị của quyền sử dụng đất với khái niệm “kinh tế đất”./.

ThS. Nguyễn Duy Quốc

Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Luật miền Nam

[1]. Bài viết này chỉ đề cập đến các cơ sở giáo dục là trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề và cơ sở giáo dục đại học công lập.

Khái niệm “kinh tế đất” được hiểu là những vấn đề kinh tế trong các quyết định sử dụng đất nhằm khai thác một cách hợp lý, có hiệu quả nguồn lực đất đai để gia tăng nguồn lợi mang lại từ đất; lượng hóa lợi ích các giá trị kinh tế mang lại từ đất và sử dụng các công cụ kinh tế điều tiết lợi ích một cách phù hợp để một mặt giải quyết hài hòa lợi ích giữa các chủ thể có liên quan trong mối quan hệ về đất đai đồng thời khuyến khích các hoạt động sử dụng đất một cách tiết kiệm, hiệu quả, biến nguồn lực đất đai thành nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội; sử dụng các công cụ thị trường để giải quyết các quyền lợi, nghĩa vụ và lợi ích trong các thay đổi quan hệ sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất và quản lý các giao dịch, cung - cầu và giá cả trong thị trường đất đai (xem Sách chuyên khảo: Quản lý kinh tế đất theo cơ chế thị trường ở Việt Nam, GS.TS. Hoàng Văn Cường (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 11 - 12).

[2]. Xem điểm a khoản 1 Điều 4 Luật Đất đai năm 2024.

[3]. Hernando de Soto, Bí ẩn của vốn (2023), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật (xuất bản lần thứ 5), tr. 64.

[4]. Điều 55 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 407), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: