Thứ ba 13/01/2026 13:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển du lịch sinh thái tại huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh

Huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và nhiều di sản lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng đặc sắc, đã tạo ra nhiều lợi thế cho phát triển du lịch sinh thái. Bài viết này khái quát thực trạng quản lý và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển du lịch sinh thái tại huyện Cần Giờ trong thời gian tới.


1. Dẫn nhập

Trong sự phát triển của ngành du lịch cả nước nói chung, có sự đóng góp không nhỏ của loại hình du lịch sinh thái. Đây là một xu thế phù hợp với sự phát triển kinh tế xanh, ngành công nghiệp không khói của nhiều nước trên thế giới mà Việt Nam đã và đang khai thác hiệu quả. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển du lịch sinh thái của cả nước, chính quyền huyện Cần Giờ luôn tăng cường quản lý nhà nước phát triển du lịch sinh thái. Mặc dù đạt được một số kết quả nhất định, nhưng công tác quản lý nhà nước về phát triển du lịch sinh thái của huyện vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập chưa khai thác hết các thế mạnh về cảnh quan môi trường rừng, biển, sông, ngòi vốn là lợi thế của du lịch sinh thái so với nhiều địa phương khác trong nước.

Theo Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế, “du lịch sinh thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người địa phương”[1]. Theo pháp luật Việt Nam, “du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường”[2]. Có thể nói, du lịch sinh thái là loại hình du lịch gắn với thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương, đây là sự khác biệt cơ bản giữa du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác vì một phần thu nhập từ hoạt động du lịch được tái đầu tư trực tiếp vào bảo vệ các đối tượng du lịch cũng như nâng cao mức sống cộng đồng địa phương thông qua sự tham gia có tổ chức của họ. Cũng theo Luật Du lịch Việt Nam hiện hành, quản lý nhà nước về du lịch là hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong đó, “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về du lịch; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về du lịch… Các bộ, cơ quan ngang bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc thực hiện quản lý nhà nước về du lịch; Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương, cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương”[3]. Cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực du lịch trong phạm vi cả nước là Tổng cục Du lịch[4]. Đối với chính quyền cấp tỉnh, huyện có cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về du lịch là Sở Du lịch và Phòng kinh tế. Riêng cấp xã thường phân công Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã và công chức văn hóa xã hội phụ trách nội dung này.

2. Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch sinh thái tại huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh

Huyện Cần Giờ có diện tích tự nhiên 71.361 ha, là huyện duy nhất của thành phố tiếp giáp biển với bờ biển dài 23 km, có hệ thống sông ngòi chằng chịt, diện tích rừng ngập mặn 33.917 ha chiếm gần 50% diện tích tự nhiên toàn huyện, được tổ chức UNESCO công nhận là “Khu dự trữ sinh quyển thế giới”. Trên địa bàn huyện có 24 cơ sở thờ tự và 45 cơ sở tín ngưỡng dân gian, có 7 điểm và trung tâm du lịch và 01 lễ hội được công nhận theo quy định.

Trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân huyện Cần Giờ đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản liên quan đến công tác quản lý nhà nước về phát triển du lịch sinh thái, như Kế hoạch số 2572/KH-UBND về phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Cần Giờ giai đoạn 2016 -2020; Đề án số 3020/ĐA-UBND về phát triển du lịch sinh thái huyện Cần Giờ giai đoạn 2017 - 2020 tầm nhìn đến năm 2030. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành Quyết định số 360/QĐ-UBND ngày 08/4/2016 về quy chế phối hợp quản lý nhà nước lĩnh vực du lịch trên địa bàn huyện Cần Giờ[5].

Nhằm thực hiện Quyết định số 360/QĐ-UBND ngày 08/4/2016 về ban hành quy chế phối hợp quản lý nhà nước về lĩnh vực phát triển du lịch trên địa bàn huyện, Ủy ban nhân dân huyện tổ chức thực hiện tốt các nội dung quản lý nhà nước về lĩnh vực du lịch, công khai số điện thoại tại các khu, điểm du lịch, các bến phà, trạm dừng chân và yêu cầu các bộ phận chức năng có trách nhiệm trực 24/24 giờ để tiếp nhận và giải quyết kịp thời những phản ánh, yêu cầu, kiến nghị của khách du lịch và các vấn đề phát sinh. Chính quyền huyện còn chỉ đạo các ngành, các xã, thị trấn tăng cường quản lý, kiểm tra bảo đảm vệ sinh tại các khu vực có nhiều cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, đảm bảo an toàn thực phẩm, giữ vệ sinh đường phố, lòng đường, hè đường..., kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm. Triển khai thực hiện Bộ quy tắc ứng xử văn minh du lịch đến các điểm du lịch để tuyên truyền cho cộng đồng dân cư và khách du lịch khi đến du lịch Cần Giờ. Hàng năm, Ủy ban nhân dân huyện thành lập các đoàn, tổ kiểm tra liên ngành về hoạt động kinh doanh tại các khu du lịch, về an toàn vệ sinh thực phẩm, về buôn bán hàng rong lấn chiếm lòng lề đường...

Có thể nói, so với các quận, huyện của TP. Hồ Chí Minh, thì huyện Cần Giờ được đánh giá là địa phương có vị trí địa lý thuận lợi, có nhiều lợi thế về tài nguyên thiên nhiên phù hợp phát triển du lịch sinh thái. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, phát triển du lịch sinh thái ở huyện Cần Giờ vẫn còn một số bất cập như: Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ, đường thủy phát triển chưa đồng bộ; cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch còn ít, chất lượng phục vụ chưa tốt; bãi biển dài nhưng còn hoang sơ, việc cải tạo bãi biển phục vụ du lịch không được quan tâm đúng mức; các di tích lịch sử, di chỉ khảo cổ học, các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng chưa được đưa vào khai thác du lịch phục vụ du khách; nguồn nhân lực phát triển du lịch sinh thái còn hạn chế về trình độ chuyên môn; công tác quảng bá, xúc tiến giới thiệu du lịch Cần Giờ chưa nhiều[6]...

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển du lịch sinh thái tại huyện Cần Giờ

Thứ nhất, hoàn thiện các văn bản quản lý nhà nước về phát triển du lịch sinh thái của chính quyền huyện gắn chương trình xây dựng huyện nông thôn mới tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện, vận dụng cơ chế, chính sách của trung ương và TP. Hồ Chí Minh với những điều kiện đặc thù của huyện Cần Giờ để phát huy tiềm năng thế mạnh vốn có. Tăng cường quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch, về giá cả, quản lý các đối tượng xã hội, vận động nhân dân tham gia xây dựng nếp sống văn minh đô thị nhằm chấm dứt hành vi chèo kéo, tranh giành khách du lịch, nạn ăn xin, buôn bán hàng rong không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại các điểm du lịch. Đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh du lịch, dịch vụ du lịch. Thành lập Ban Chỉ đạo phát triển du lịch sinh thái huyện Cần Giờ nhằm phát huy tinh thần chủ động, tích cực của các thành viên trong việc triển khai, phối hợp thực hiện các nhiệm vụ phát triển du lịch của huyện.

Thứ hai, tiếp tục củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch nói chung, phát triển du lịch sinh thái nói riêng của huyện, xã, thị trấn gắn với chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan, tăng cường công tác ứng dụng công nghệ thông tin; tăng cường thực hiện các chính sách đãi ngộ, tuyển dụng người có đạo đức, trình độ, năng lực, chuyên môn, kỹ năng nhiệt tình, tâm huyết để phục vụ phát triển du lịch sinh thái. Ủy ban nhân dân huyện cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng đề án, chương trình, kế hoạch để phát triển chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch sinh thái.

Thứ ba, thực hiện tốt công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về phát triển du lịch sinh thái, lợi ích từ phát triển du lịch cho các đối tượng. Tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá phát triển du lịch sinh thái; phối hợp với Sở Du lịch TP. Hồ Chí Minh tổ chức các sự kiện quảng bá du lịch tại huyện và nâng cao chất lượng các hoạt động lễ, hội truyền thống ở Cần Giờ nhằm thu hút du khách. Xây dựng các bài viết quảng bá du lịch Cần Giờ trên các tạp chí, ấn phẩm và các trang mạng xã hội. Tham gia các hội chợ, triển lãm, lễ hội du lịch do thành phố tổ chức; gắn kết chặt chẽ công tác quảng bá xúc tiến du lịch của địa phương với các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.

Thứ tư, tăng cường xây dựng các trạm dừng chân trên đường Rừng Sác để khách du lịch nghỉ ngơi mua sắm đặc sản Cần Giờ, đồng thời, có các phòng giao dịch, đăng ký, bán tour tham quan du lịch trên địa bàn huyện, để khai thác du lịch mang tính chuyên nghiệp, cung cấp sản phẩm du lịch một cách đa dạng, phong phú, làm được điều này cần chung tay của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch lớn của thành phố. Tập trung quy hoạch khai thác chợ đêm tại xã Long Hòa, Cần Thạnh để phục vụ du khách mua sắm, ăn uống, vui chơi, giải trí. Triển khai thực hiện các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, niêm yết giá tại các cơ sở kinh doanh du lịch và yêu cầu cam kết thực hiện theo quy định. Phát triển, quản lý sản phẩm quà tặng du lịch sinh thái đặc trưng của huyện Cần Giờ như xoài, mãng cầu, vườn nhãn trồng theo tiêu chuẩn VietGap góp phần phát triển sản phẩm nông nghiệp gắn kết với du lịch sinh thái vườn. Xây dựng kế hoạch bảo vệ và quảng bá thương hiệu hàng hóa đối với các sản phẩm đã được chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa Cần Giờ, như xoài cát, khô cá dứa, yến sào[7]...

Thứ năm, tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh thực hiện đầy đủ các quy định về bảo vệ môi trường. Thiết lập quy chế bảo vệ môi trường tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn huyện nhằm đảm bảo chất lượng môi trường để phát triển du lịch sinh thái bền vững. Quan tâm xử lý kịp thời theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đối với các hành vi xâm phạm đến môi trường du lịch sinh thái trên địa bàn huyện.

Trong tương lai, cùng với nhiều chủ trương, chính sách thuận lợi, chắc chắn huyện Cần Giờ sẽ trở thành khu đô thị du lịch sinh thái, du lịch đường sông, biển của TP. Hồ Chí Minh kết nối với các vùng trọng điểm về du lịch của cả nước và thế giới.

ThS. Phạm Thanh Bình
Liên đoàn Lao động huyện Cần Giờ


[1]. Phạm Trung Lương (2002) Du lịch sinh thái - Những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, Nxb. Giáo dục.

[2]. Luật Du lịch số 09/2017/QH14, ngày 19/6/2017.

[3]. Luật Du lịch số 09/2017/QH14 ngày 19/6/2017.

[4]. Nghị quyết số 17/2018/NQ-TTg ngày 30/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Tổng cục Du lịch trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

[5]. Ủy ban nhân dân huyện Cần Giờ (2016) Kế hoạch số 2572/KH-UBND của Ủy ban nhân dân huyện ngày 30/6/2016 về phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Cần Giờ giai đoạn 2016 - 2020.

[6]. Nguyễn Thị Phương Kiều (2017) Quản lý nhà nước về phát triển du lịch từ thực tiễn huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội.

[7]. Ủy ban nhân nhân huyện Cần Giờ (2020) Báo cáo phát triển du lịch huyện Cần Giờ năm 2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: