Thứ sáu 16/01/2026 22:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả xét xử tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Nghệ An là tỉnh nằm ở Bắc Trung bộ, với trục giao thông chính thuận lợi, nhưng địa hình toàn tỉnh phức tạp (ven biển, đồng bằng, trung du, miền núi), trong đó có 3 huyện miền núi giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

1. Thực trạng hoạt động xét xử tội phạm ma túy tại Nghệ An

Nghệ An nằm gần với khu vực “Tam giác vàng”, là một trong ba nơi sản xuất ma túy lớn nhất thế giới, là điểm trung chuyển ma túy từ Bắc và Nam, nên trong những năm qua hoạt động của tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An diễn biễn hết sức phức tạp, trở thành địa bàn trọng điểm về tội phạm ma túy của cả nước[1].

Để bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh, lãnh đạo Ngành Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã chỉ đạo các đơn vị thực hiện nghiêm túc Đề án “3 yên, 3 giảm” và nhiều chương trình, kế hoạch phòng chống tội phạm khác. Trong kế hoạch công tác hàng năm, Ngành Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An chú trọng tổ chức các đợt cao điểm phòng chống tội phạm theo chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao. Qua xét xử, hàng nghìn vụ án ma túy tại tỉnh Nghệ An hay các vụ án xuyên quốc gia, các vụ án liên tỉnh đều được xét xử nghiêm minh, đúng người, đúng tội. Ngành Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An còn tích cực phối hợp với các cấp, các ngành tổ chức mỗi năm từ 150 đến 200 phiên tòa lưu động để xét xử án ma túy tại các địa bàn trọng điểm như các huyện Kỳ Sơn, Quế Phong, Quỳ Châu, Tương Dương và các vùng lân cận. Việc giải quyết các vụ án về ma túy đạt tỷ lệ cao và chất lượng giải quyết ngày càng tiến bộ, đặc biệt là không có án tồn đọng và quá hạn luật định; kết quả xét xử cơ bản bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Công tác phối hợp với các cơ quan như Viện kiểm sát, Công an, Tòa án tại tỉnh Nghệ An cũng đã đi vào chiều sâu và có hiệu quả hơn đáp ứng yêu cầu xử lý tội phạm trong tình hình hiện nay.

Các Tòa án cấp huyện tích cực công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của nhân dân trong đấu tranh phòng chống tội phạm; tổ chức nhiều phiên tòa lưu động xét xử vụ án điểm để tuyên truyền giáo dục pháp luật tại các địa bàn nóng về ma túy. Tòa án tỉnh thường xuyên kiểm tra công tác xét xử, trong đó tập trung vào các Tòa án vùng biên giới; tổ chức học tập, rút kinh nghiệm về hoạt động xét xử. Đồng thời, các Tòa án tích cực phối hợp với các cơ quan chức năng, bạn bè quốc tế trong việc trao đổi thông tin; giao lưu học hỏi các nước trong khu vực nói chung, với những đoàn công tác của Tòa án nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nói riêng về kinh nghiệm phòng ngừa, phát hiện và xét xử các tội phạm xuyên quốc gia.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xét xử tội phạm ma túy vẫn còn một số hạn chế như:

- Việc xét xử vụ án ma túy còn chưa được bảo đảm đúng trình tự, quy định pháp luật. Mặc dù đã có kinh nghiệm trong việc xét xử các vụ án này, nhưng một số phiên tòa vẫn chưa bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng, có trường hợp vi phạm nghiêm trọng (như biên bản xét xử đề liên tục song hội đồng xét xử lại tham gia xét xử ở một vụ án khác; việc tính toán hàm lượng ma túy tinh chất không được áp dụng chính xác[2]), dẫn đến phải hủy án để xét xử lại. Từ đó làm ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật nói chung và Ngành Tòa án nói riêng.

- Vẫn còn tình trạng vụ án khi đưa ra xét xử lại phải trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung để bảo đảm đầy đủ chứng cứ, dẫn đến việc chậm chễ trong quá trình xử lý vụ án. Ngày 17/9/2014, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 234 quy định trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất. Thực hiện Công văn này, Tòa án phải trả hồ sơ rất nhiều vụ án ma túy để yêu cầu giám định hàm lượng mặc dù biết rõ là không còn mẫu tang vật để giám định, như vậy sẽ rất gian nan và không khả thi. Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 về áp dụng quy định về “Các tội phạm về ma túy” sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP về áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999, trong đó có quy định: Chỉ trưng cầu giám định hàm lượng bắt buộc đối với 4 trường hợp cụ thể, gồm: Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch; chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng; xái thuốc phiện; thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần. Ngoài 4 trường hợp này, nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật. Quy định này đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho việc giải quyết các vụ án ma túy còn tồn đọng từ trước đó, song vẫn xảy ra nguy cơ Tòa án yêu cầu giám định bổ sung nếu “xét thấy cần thiết”. Do đó, quy định này cũng cần thiết được hướng dẫn cụ thể hơn để bảo đảm sự thống nhất trong xét xử loại tội phạm này.

- Công tác tuyền truyền, PBGDPL qua các phiên tòa nói chung và đặc biệt là qua các phiên tòa lưu động tuy đã được Ngành Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An quan tâm thực hiện, nhưng hình thức còn chưa phong phú, tác dụng giáo dục ý thức pháp luật cho người dân chưa cao, đặc biệt là đối với tội phạm, người vi phạm pháp luật về ma túy; tình trạng người phạm tội sau khi hoàn thành việc thụ án tù tiếp tục phạm tội trở lại vẫn đang là vấn đề “nóng”, phức tạp trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xét xử đối với tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Dự báo trong những năm tới, tình hình tội phạm ma túy và tệ nạn ma túy của Việt Nam nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng tiếp tục diễn biến phức tạp vì lý do đây là khu vực trung chuyển của khu vực Đông Nam Á và cả thế giới; tình hình ma túy và tệ nạn ma túy trong khu vực Đông Nam Á vẫn có xu hướng gia tăng, đặc biệt ở Lào, Myama, Thái Lan… Do đó, công tác xét xử tội phạm về ma túy tiếp tục đối mặt với những thách thức, trong tình hình mới đòi hỏi phải có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xét xử, cụ thể là:

Thứ nhất, cần tiếp tục tổ chức xét xử công khai, lưu động những vụ vận chuyển, buôn bán, tàng trữ trái phép các chất ma túy tại các địa bàn cơ sở, góp phần tuyên truyền, răn đe, giáo dục mọi người chấp hành nghiêm pháp luật, không phạm tội vận chuyển, buôn bán, tàng trữ trái phép các chất ma túy. Đề nghị đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất cho các cơ quan bảo vệ pháp luật. Tạo điều kiện về kinh phí, địa điểm để Ngành Tòa án tổ chức các phiên tòa lưu động.

Thứ hai, tổ chức thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo về công tác hợp tác với các tỉnh xung quanh, hợp tác quốc tế trong phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy mà Chính phủ, các bộ, ngành, cấp tỉnh đã ban hành trong thời gian qua; thực hiện nghiêm quy chế biên giới giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, đặc biệt là quy chế trong công tác đấu tranh chống tội phạm nói chung, tội phạm về ma túy nói riêng; thường xuyên tổ chức hội nghị giao ban phối hợp phòng chống ma túy với các tỉnh lân cận như Thanh Hóa, Sơn La, Điện Biên và 4 tỉnh của Lào (Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm, Hủa Phăn, Luông Pha Băng).

Thứ ba, chú trọng tăng cường sự phối hợp chặt chẽ với các Ngành Công an, Kiểm sát, Tư pháp... điều này sẽ giúp cho Tòa án tổ chức xét xử tốt các vụ án về ma túy, đặc biệt là công tác xét xử điểm và xét xử lưu động các vụ án về ma túy ở các địa bàn trọng điểm, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương.

Thứ tư, tăng cường công tác tuyên truyền, PBGDPL cho mọi tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh của quần chúng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, xây dựng và phát huy có hiệu quả các tổ an ninh nhân dân để kịp thời phát hiện các hành vi phạm tội.

Thứ năm, cần đầu tư về con người và cơ sở vật chất cho hệ thống Tòa án; tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, thẩm phán về pháp luật, đường lối, chủ trương xét xử tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh và đặc biệt là những biện pháp hiệu quả để đấu tranh phòng, chống loại tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Ngoài ra, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An cần quan tâm chỉ đạo các ngành, các cấp tiến hành các giải pháp đồng bộ về nâng cao đời sống nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội; sớm ban hành và chỉ đạo các ngành thực hiện tốt Đề án “Nâng cao hiệu quả xóa địa bàn phức tạp về ma túy trong giai đoạn 2016 - 2020, có tính đến năm 2025”, góp phần cùng Ngành Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An dần xóa bỏ loại hình tội phạm này trên quy mô của tỉnh.

Bùi Thị Phương Quỳnh

Khoa Luật, Trường Đại học Vinh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Theo số liệu thống kể từ năm 2007 đến năm 2015, Ngành Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã xét xử trên 700 vụ án/năm, chiếm 34% tổng số vụ án đã được giải quyết, với trên 800 bị cáo/năm; 3 tháng đầu năm 2016, Ngành Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã xét xử 435 vụ với 517 bị cáo. Nhiều vụ phạm tội có tổ chức, tinh vi, xảo quyệt, hoạt động xuyên quốc gia; manh động, sử dụng vũ khí nóng, tính nguy hiểm rất cao. Số vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên, phụ nữ và người nước ngoài có xu hướng tăng. Địa bàn xảy ra số vụ phạm tội về ma túy lớn trải khắp từ trung tâm tỉnh (thành phố Vinh) đến các huyện miền núi (huyện Quế Phong, huyện Tương Dương)... Đến nay, 20/20 đơn vị Tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh đều đã thụ lý, giải quyết đối với loại tội phạm này.

[2]. Xem: Hủy án tử hình hai kẻ vận chuyển 60 bánh heroin, nguồn: http://songlamplus.vn/news/tin-xu-nghe/huy-an-tu-hinh-hai-ke-van-chuyen-60-banh-heroin-8601-232-225.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: