Thứ hai 21/09/2026 13:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả xét xử tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Nghệ An là tỉnh nằm ở Bắc Trung bộ, với trục giao thông chính thuận lợi, nhưng địa hình toàn tỉnh phức tạp (ven biển, đồng bằng, trung du, miền núi), trong đó có 3 huyện miền núi giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

1. Thực trạng hoạt động xét xử tội phạm ma túy tại Nghệ An

Nghệ An nằm gần với khu vực “Tam giác vàng”, là một trong ba nơi sản xuất ma túy lớn nhất thế giới, là điểm trung chuyển ma túy từ Bắc và Nam, nên trong những năm qua hoạt động của tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An diễn biễn hết sức phức tạp, trở thành địa bàn trọng điểm về tội phạm ma túy của cả nước[1].

Để bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh, lãnh đạo Ngành Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã chỉ đạo các đơn vị thực hiện nghiêm túc Đề án “3 yên, 3 giảm” và nhiều chương trình, kế hoạch phòng chống tội phạm khác. Trong kế hoạch công tác hàng năm, Ngành Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An chú trọng tổ chức các đợt cao điểm phòng chống tội phạm theo chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao. Qua xét xử, hàng nghìn vụ án ma túy tại tỉnh Nghệ An hay các vụ án xuyên quốc gia, các vụ án liên tỉnh đều được xét xử nghiêm minh, đúng người, đúng tội. Ngành Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An còn tích cực phối hợp với các cấp, các ngành tổ chức mỗi năm từ 150 đến 200 phiên tòa lưu động để xét xử án ma túy tại các địa bàn trọng điểm như các huyện Kỳ Sơn, Quế Phong, Quỳ Châu, Tương Dương và các vùng lân cận. Việc giải quyết các vụ án về ma túy đạt tỷ lệ cao và chất lượng giải quyết ngày càng tiến bộ, đặc biệt là không có án tồn đọng và quá hạn luật định; kết quả xét xử cơ bản bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Công tác phối hợp với các cơ quan như Viện kiểm sát, Công an, Tòa án tại tỉnh Nghệ An cũng đã đi vào chiều sâu và có hiệu quả hơn đáp ứng yêu cầu xử lý tội phạm trong tình hình hiện nay.

Các Tòa án cấp huyện tích cực công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của nhân dân trong đấu tranh phòng chống tội phạm; tổ chức nhiều phiên tòa lưu động xét xử vụ án điểm để tuyên truyền giáo dục pháp luật tại các địa bàn nóng về ma túy. Tòa án tỉnh thường xuyên kiểm tra công tác xét xử, trong đó tập trung vào các Tòa án vùng biên giới; tổ chức học tập, rút kinh nghiệm về hoạt động xét xử. Đồng thời, các Tòa án tích cực phối hợp với các cơ quan chức năng, bạn bè quốc tế trong việc trao đổi thông tin; giao lưu học hỏi các nước trong khu vực nói chung, với những đoàn công tác của Tòa án nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nói riêng về kinh nghiệm phòng ngừa, phát hiện và xét xử các tội phạm xuyên quốc gia.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xét xử tội phạm ma túy vẫn còn một số hạn chế như:

- Việc xét xử vụ án ma túy còn chưa được bảo đảm đúng trình tự, quy định pháp luật. Mặc dù đã có kinh nghiệm trong việc xét xử các vụ án này, nhưng một số phiên tòa vẫn chưa bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng, có trường hợp vi phạm nghiêm trọng (như biên bản xét xử đề liên tục song hội đồng xét xử lại tham gia xét xử ở một vụ án khác; việc tính toán hàm lượng ma túy tinh chất không được áp dụng chính xác[2]), dẫn đến phải hủy án để xét xử lại. Từ đó làm ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật nói chung và Ngành Tòa án nói riêng.

- Vẫn còn tình trạng vụ án khi đưa ra xét xử lại phải trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung để bảo đảm đầy đủ chứng cứ, dẫn đến việc chậm chễ trong quá trình xử lý vụ án. Ngày 17/9/2014, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 234 quy định trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất. Thực hiện Công văn này, Tòa án phải trả hồ sơ rất nhiều vụ án ma túy để yêu cầu giám định hàm lượng mặc dù biết rõ là không còn mẫu tang vật để giám định, như vậy sẽ rất gian nan và không khả thi. Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 về áp dụng quy định về “Các tội phạm về ma túy” sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP về áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999, trong đó có quy định: Chỉ trưng cầu giám định hàm lượng bắt buộc đối với 4 trường hợp cụ thể, gồm: Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch; chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng; xái thuốc phiện; thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần. Ngoài 4 trường hợp này, nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật. Quy định này đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho việc giải quyết các vụ án ma túy còn tồn đọng từ trước đó, song vẫn xảy ra nguy cơ Tòa án yêu cầu giám định bổ sung nếu “xét thấy cần thiết”. Do đó, quy định này cũng cần thiết được hướng dẫn cụ thể hơn để bảo đảm sự thống nhất trong xét xử loại tội phạm này.

- Công tác tuyền truyền, PBGDPL qua các phiên tòa nói chung và đặc biệt là qua các phiên tòa lưu động tuy đã được Ngành Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An quan tâm thực hiện, nhưng hình thức còn chưa phong phú, tác dụng giáo dục ý thức pháp luật cho người dân chưa cao, đặc biệt là đối với tội phạm, người vi phạm pháp luật về ma túy; tình trạng người phạm tội sau khi hoàn thành việc thụ án tù tiếp tục phạm tội trở lại vẫn đang là vấn đề “nóng”, phức tạp trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xét xử đối với tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Dự báo trong những năm tới, tình hình tội phạm ma túy và tệ nạn ma túy của Việt Nam nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng tiếp tục diễn biến phức tạp vì lý do đây là khu vực trung chuyển của khu vực Đông Nam Á và cả thế giới; tình hình ma túy và tệ nạn ma túy trong khu vực Đông Nam Á vẫn có xu hướng gia tăng, đặc biệt ở Lào, Myama, Thái Lan… Do đó, công tác xét xử tội phạm về ma túy tiếp tục đối mặt với những thách thức, trong tình hình mới đòi hỏi phải có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xét xử, cụ thể là:

Thứ nhất, cần tiếp tục tổ chức xét xử công khai, lưu động những vụ vận chuyển, buôn bán, tàng trữ trái phép các chất ma túy tại các địa bàn cơ sở, góp phần tuyên truyền, răn đe, giáo dục mọi người chấp hành nghiêm pháp luật, không phạm tội vận chuyển, buôn bán, tàng trữ trái phép các chất ma túy. Đề nghị đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất cho các cơ quan bảo vệ pháp luật. Tạo điều kiện về kinh phí, địa điểm để Ngành Tòa án tổ chức các phiên tòa lưu động.

Thứ hai, tổ chức thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo về công tác hợp tác với các tỉnh xung quanh, hợp tác quốc tế trong phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy mà Chính phủ, các bộ, ngành, cấp tỉnh đã ban hành trong thời gian qua; thực hiện nghiêm quy chế biên giới giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, đặc biệt là quy chế trong công tác đấu tranh chống tội phạm nói chung, tội phạm về ma túy nói riêng; thường xuyên tổ chức hội nghị giao ban phối hợp phòng chống ma túy với các tỉnh lân cận như Thanh Hóa, Sơn La, Điện Biên và 4 tỉnh của Lào (Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm, Hủa Phăn, Luông Pha Băng).

Thứ ba, chú trọng tăng cường sự phối hợp chặt chẽ với các Ngành Công an, Kiểm sát, Tư pháp... điều này sẽ giúp cho Tòa án tổ chức xét xử tốt các vụ án về ma túy, đặc biệt là công tác xét xử điểm và xét xử lưu động các vụ án về ma túy ở các địa bàn trọng điểm, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương.

Thứ tư, tăng cường công tác tuyên truyền, PBGDPL cho mọi tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh của quần chúng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, xây dựng và phát huy có hiệu quả các tổ an ninh nhân dân để kịp thời phát hiện các hành vi phạm tội.

Thứ năm, cần đầu tư về con người và cơ sở vật chất cho hệ thống Tòa án; tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, thẩm phán về pháp luật, đường lối, chủ trương xét xử tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh và đặc biệt là những biện pháp hiệu quả để đấu tranh phòng, chống loại tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Ngoài ra, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An cần quan tâm chỉ đạo các ngành, các cấp tiến hành các giải pháp đồng bộ về nâng cao đời sống nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội; sớm ban hành và chỉ đạo các ngành thực hiện tốt Đề án “Nâng cao hiệu quả xóa địa bàn phức tạp về ma túy trong giai đoạn 2016 - 2020, có tính đến năm 2025”, góp phần cùng Ngành Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An dần xóa bỏ loại hình tội phạm này trên quy mô của tỉnh.

Bùi Thị Phương Quỳnh

Khoa Luật, Trường Đại học Vinh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Theo số liệu thống kể từ năm 2007 đến năm 2015, Ngành Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã xét xử trên 700 vụ án/năm, chiếm 34% tổng số vụ án đã được giải quyết, với trên 800 bị cáo/năm; 3 tháng đầu năm 2016, Ngành Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã xét xử 435 vụ với 517 bị cáo. Nhiều vụ phạm tội có tổ chức, tinh vi, xảo quyệt, hoạt động xuyên quốc gia; manh động, sử dụng vũ khí nóng, tính nguy hiểm rất cao. Số vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên, phụ nữ và người nước ngoài có xu hướng tăng. Địa bàn xảy ra số vụ phạm tội về ma túy lớn trải khắp từ trung tâm tỉnh (thành phố Vinh) đến các huyện miền núi (huyện Quế Phong, huyện Tương Dương)... Đến nay, 20/20 đơn vị Tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh đều đã thụ lý, giải quyết đối với loại tội phạm này.

[2]. Xem: Hủy án tử hình hai kẻ vận chuyển 60 bánh heroin, nguồn: http://songlamplus.vn/news/tin-xu-nghe/huy-an-tu-hinh-hai-ke-van-chuyen-60-banh-heroin-8601-232-225.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: