Thứ sáu 13/03/2026 16:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả xử lý hành vi vi phạm và tội phạm trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động

Bài viết tập trung phân tích một số vướng mắc trong xử lý các vi phạm và tội phạm trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xử lý đối với các hành vi này.

1. Nhận diện hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động

Theo quy định pháp luật hiện hành tại Việt Nam, việc người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên. Đồng thời, khoản 1 Điều 168 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định, người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; người lao động được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Như vậy, các đơn vị có sử dụng lao động buộc phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp theo quy định.

Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội (Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014) nhằm bảo đảm ổn định đời sống cho họ và an toàn xã hội.

Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế hiện hành để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện.

Bảo hiểm thất nghiệp được hiểu là khoản hỗ trợ tài chính tạm thời để trợ giúp kịp thời cho những người thất nghiệp trong thời gian chưa tìm được việc làm và tạo cơ hội cho họ học nghề, tìm kiếm công việc mới. Dưới góc độ pháp lý, chế độ bảo hiểm thất nghiệp là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định việc đóng góp và sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp, chi trả trợ cấp thất nghiệp để bù đắp thu nhập cho người lao động bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp đưa người thất nghiệp trở lại làm việc.

Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) đã hình sự hóa những hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm và quy định cụ thể tại Mục 1. Các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, bao gồm 04 điều luật quy định các tội danh là Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm (Điều 213); Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (Điều 214); Tội gian lận bảo hiểm y tế (Điều 215); Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (Điều 216).

Theo Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015, người nào có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp sau đây, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm: Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động.

Điều 2 Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP ngày 15/8/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 214 về Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, Điều 215 về Tội gian lận bảo hiểm y tế và Điều 216 về Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động của Bộ luật Hình sự (Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP) hướng dẫn về một số thuật ngữ được sử dụng trong quy định về Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp như sau: (i) Trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là hành vi của người sử dụng lao động có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc đóng không đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. (ii) Gian dối để không đóng, không đóng đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là trường hợp cố ý không kê khai hoặc kê khai không đúng thực tế việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với cơ quan có thẩm quyền. (iii) Không đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là trường hợp người sử dụng lao động không gửi hồ sơ đăng ký đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động hoặc có gửi hồ sơ và đã xác định rõ, đầy đủ số người phải đóng hoặc các khoản phải đóng, lập chứng từ, hồ sơ quyết toán lương cho người lao động, thu nhập doanh nghiệp, nhưng không đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho cơ quan bảo hiểm xã hội theo quy định. (iv) Không đóng đầy đủ tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là việc người sử dụng lao động đã xác định rõ, đầy đủ số người phải đóng hoặc các khoản phải đóng, lập chứng từ, hồ sơ quyết toán lương cho người lao động, thu nhập doanh nghiệp nhưng chỉ đóng một phần tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho cơ quan bảo hiểm xã hội theo quy định.

Như vậy, Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động là hành vi cố ý của các chủ thể tham gia vào quan hệ bảo hiểm, nhằm trốn đóng hoặc đóng không đầy đủ mức đóng bảo hiểm theo quy định làm thâm hụt về quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp gây rối loạn trong lĩnh vực bảo hiểm.

Theo Báo cáo của lực lượng Cảnh sát kinh tế, trong thời gian từ năm 2018 đến nay, lực lượng Cảnh sát kinh tế đã phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp tiến hành 835 cuộc thanh tra, kiểm tra, xác minh liên ngành tại 3.308 đơn vị (trong đó, có 3.148 đơn vị sử dụng lao động và 160 cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế); phối hợp xác minh làm rõ 270 hồ sơ, vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật với những vi phạm chủ yếu như: Gian lận trong kinh doanh bảo hiểm; gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động; trục lợi tiền bảo hiểm y tế tại các cơ sở khám, chữa bệnh; thông đồng với người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để giải quyết bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm trái pháp luật… Trên cơ sở đó, đã khởi tố 13 vụ án trong lĩnh vực bảo hiểm với 17 bị can; đề nghị xử lý vi phạm hành chính 185 đối tượng, 24 pháp nhân, qua đó góp phần truy thu hơn 60 tỷ đồng cho Nhà nước. Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2018 đến nay, trên địa bàn cả nước chưa có vụ án nào về Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động được cơ quan điều tra khởi tố, điều tra, mặc dù tính đến tháng 8/2022, bảo hiểm xã hội các cấp đã có tổng số 353 kiến nghị khởi tố gửi Cơ quan điều tra về Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động ở nhiều doanh nghiệp, tổ chức. Kết quả là trong 353 kiến nghị khởi tố của bảo hiểm xã hội, Cơ quan điều tra các cấp đã xác minh: Ra quyết định không khởi tố với 173 kiến nghị khởi tố của Cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp; không thụ lý giải quyết 56 vụ; đang trong thời gian giải quyết 122 vụ và tạm đình chỉ giải quyết kiến nghị 02 vụ.

Bên cạnh mặt tích cực của lĩnh vực bảo hiểm, tình trạng trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm, làm giả hồ sơ để trục lợi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… diễn ra dưới nhiều hình thức, nhiều mức độ khác nhau và có chiều hướng ngày càng gia tăng với diễn biến ngày càng phức tạp ảnh hưởng lớn đến quyền lợi người lao động, người bệnh, ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, của ngành Bảo hiểm, ảnh hưởng đến chính sách nhân văn của Nhà nước ta. Đối với Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động, thủ đoạn chủ yếu của một số doanh nghiệp là lập và sử dụng hai hệ thống thang, bảng lương khác nhau. Một hệ thống lương dùng để chi trả lương thực tế cho người lao động; một hệ thống lương khác, chỉ bằng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu vùng đã được doanh nghiệp dùng để đăng ký tham gia và làm cơ sở tính mức đóng bảo hiểm xã hội. Với thủ đoạn này, các doanh nghiệp đã trốn đóng một khoản chênh lệch không nhỏ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động.

Lợi dụng cơ chế, chính sách bảo hiểm xã hội còn có “kẽ hở”, quy định mức phạt lãi suất chậm đóng bảo hiểm xã hội và mức phạt tối đa đối với hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội thấp nên nhiều doanh nghiệp đã cố tình chây ỳ, trốn đóng hoặc chiếm dụng tiền bảo hiểm xã hội của người lao động, sử dụng số tiền đó để đầu tư trở lại sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, doanh nghiệp, người sử dụng lao động ký liên tiếp chuỗi hợp đồng theo thời vụ hoặc chuỗi hợp đồng lao động có thời hạn dưới 03 tháng, kéo dài thời gian thử việc... để không phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

2. Vướng mắc trong xử lý hành vi vi phạm và tội phạm trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động

Thứ nhất, hướng dẫn tại Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP đã phần nào giải quyết được những khó khăn, vướng mắc mà cơ quan nhà nước đang gặp phải như: Thế nào là “gian dối”, “thủ đoạn khác”, “không đóng”, “không đóng đầy đủ”, “trốn đóng”; 06 tháng trở lên là phải liên tục hay cộng dồn hay cả hai và liên quan đến vấn đề chỉ bị xử lý hình sự khi đã xử phạt vi phạm hành chính… Tuy nhiên, việc xác định những hành vi trên vẫn còn những vướng mắc nhất định, bởi thực tế cho thấy, khi một tổ chức, cá nhân nợ bảo hiểm xã hội, việc phân biệt có sự “gian dối” hay không (hay đơn thuần là nợ vì khó khăn khách quan) không dễ để có thể xác định; việc xử lý hình sự các doanh nghiệp trốn đóng bảo hiểm xã hội đến nay chưa được thực hiện do việc thu thập hồ sơ, tài liệu xác định tội danh hình sự về trốn đóng bảo hiểm xã hội gặp nhiều khó khăn như: Báo cáo tài chính của đơn vị chưa sát đúng với thực trạng hoạt động của đơn vị, đơn vị không phối hợp cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu...

Bên cạnh đó, Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động là tội danh mới được đưa vào Bộ luật Hình sự năm 2015 nên chưa có án lệ; mặt khác, yếu tố chủ quan của Điều 216 quy định chủ thể tội phạm phải “gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác” để trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế. Để gỡ vướng cho cách hiểu còn khác nhau trong tiếp nhận và xử lý tội danh trên, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP, trong đó, xác định cụ thể các hành vi gian dối. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy, vướng mắc chủ yếu là việc xác định “thủ đoạn khác”, trường hợp “chậm đóng bảo hiểm xã hội” vì lý do khách quan, hay việc áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội theo Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015), do đó, kết quả cho thấy, có rất nhiều vụ việc mà Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố.

Thứ hai, từ kết quả xác minh điều tra của Cơ quan điều tra đối với 353 kiến nghị khởi tố của các cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp trong thời gian qua cho thấy, việc xử lý hình sự đối với các hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho người lao động của cơ quan chức năng chưa thực sự hiệu quả và chưa đủ tính răn đe. Từ đó, dẫn đến tổng số dư nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên cả nước ngày càng tăng, từ 12.000 tỷ đồng (năm 2020) tăng lên 16.000 tỷ đồng (năm 2022). Việc dư nợ bảo hiểm xã hội lớn sẽ gây ra những hậu quả khó lường đối với quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế như: Người lao động không được bảo hiểm xã hội chi trả các chế độ ốm đau, thai sản, hưu trí, tử tuất; không nhận được trợ cấp thất nghiệp... ảnh hưởng đến số tháng, số tiền hưởng các gói hỗ trợ của Chính phủ (như các chính sách hỗ trợ tại Nghị quyết số 68/2021/NQ-CP ngày 01/7/2021 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, Nghị quyết số 116/2021/NQ-CP ngày 24/9/2021 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp, Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động); ảnh hưởng đến việc sử dụng và điều tiết quỹ bảo hiểm xã hội chung của cơ quan bảo hiểm xã hội.

Thứ ba, đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm, các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm chỉ xử phạt các công ty là pháp nhân, do đó, người đại diện theo pháp luật không bị coi là bị xử lý hành chính nên rất khó xử lý hình sự đối với người đại diện theo pháp luật của các công ty trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bởi vì họ chưa từng bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi này. Do vậy, tình trạng trốn đóng bảo hiểm hiện nay vẫn còn diễn ra phổ biến, gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước.

Thứ tư, bảo hiểm là lĩnh vực rộng, liên quan đến hoạt động của nhiều doanh nghiệp và người lao động, nhiều ngành khác nhau, dẫn đến việc khó kiểm tra, kiểm soát các hành vi vi phạm tại các đơn vị sử dụng lao động. Trên thực tế, cơ quan bảo hiểm xã hội cũng chưa có số liệu thống kê chính xác số lượng doanh nghiệp có sử dụng lao động thuộc đối tượng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; số liệu thống kê về số lượng doanh nghiệp đang hoạt động còn có sự khác nhau giữa các cơ quan quản lý (cơ quan thuế, cơ quan đăng ký và quản lý thành lập doanh nghiệp...); cơ quan bảo hiểm xã hội chỉ kiểm soát được các doanh nghiệp tự giác khai báo lao động tham gia bảo hiểm xã hội.

Thứ năm, thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, việc khởi kiện doanh nghiệp sử dụng lao động vi phạm về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là do tổ chức công đoàn thực hiện. Tuy nhiên, hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn về quy trình, thủ tục thực hiện. Ngoài ra, để khởi kiện được doanh nghiệp sử dụng lao động vi phạm thì phải được sự đồng ý của toàn bộ người lao động trong doanh nghiệp đó, trong khi người lao động vì nhiều lý do khác nhau (như sợ mất việc làm) nên không đề nghị khởi kiện đối với doanh nghiệp.

Thứ sáu, kể từ khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP, các cơ quan, đơn vị hữu quan đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học với sự tham gia của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra các cấp, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để đánh giá tình hình hoạt động của lĩnh vực bảo hiểm, kết quả phối hợp, đấu tranh với các vi phạm trong lĩnh vực này. Giữa Cơ quan điều tra, Cơ quan bảo hiểm xã hội, Cơ quan thanh tra và các lực lượng chức năng khác trong phòng ngừa, điều tra, xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm đã triển khai các hình thức phối hợp nhất định, nhất là trong kiến nghị xử lý những vi phạm nguy hiểm, có tính chất, mức độ đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, công tác phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan thực thi pháp luật đối với các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn, nhất là xử lý hình sự. Điều này xâm phạm quyền lợi chính đáng của người lao động, ảnh hưởng đến an ninh trật tự và môi trường kinh doanh.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xử lý hành vi vi phạm và tội phạm trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách pháp luật trong xử lý hình sự đối với Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động. Trước mắt, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về 04 yếu tố cấu thành của Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015, trong đó, cụ thể hóa, làm rõ hành vi “gian dối” hoặc bằng “thủ đoạn khác” để “không đóng” hoặc “không đóng đầy đủ” là như thế nào. Ngoài ra, về lâu dài, cần đưa hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho người lao động trong khi đã trích lập tiền lương của người lao động vào Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015 để nâng cao hiệu quả tính răn đe. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang vận hành theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xu hướng cổ phần hóa doanh nghiệp đang diễn ra nhanh chóng, Nhà nước dần không nắm cổ phần chi phối tại các tập đoàn lớn, vì vậy, để bảo đảm quyền lợi của người lao động thì cần tăng khung hình phạt của Điều 216 lên mức nghiêm trọng, rất nghiêm trọng; mức độ hoàn thành của tội phạm lên sớm hơn như về thời gian trốn đóng, mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.

Thứ hai, cần quy định rõ hơn về hình thức phạt tiền tại Điều 38 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/3/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, cụ thể, ngoài phạt tiền đối với tổ chức vi phạm, cần quy định rõ việc đồng thời phạt tiền đối với người đứng đầu hoặc người đại diện theo pháp luật của tổ chức đó ở mức độ phù hợp để gắn với trách nhiệm của cá nhân trong việc chấp hành pháp luật, tạo hành lang pháp lý làm căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với cá nhân khi thỏa mãn cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015 về dấu hiệu “… đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm…”.

Thứ ba, phát huy vai trò của các tổ chức, đoàn thể trong cơ quan, doanh nghiệp, đặc biệt, cần phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong bảo vệ quyền lợi của người lao động và thực hiện tố giác tội phạm đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm của cơ quan, tổ chức. Trên thực tế, đã có văn bản hướng dẫn về việc tổ chức công đoàn có vai trò trong việc khởi kiện, bảo vệ quyền lợi của người lao động trong việc người sử dụng lao động chậm nộp, trốn nộp bảo hiểm cho người lao động, tuy nhiên, dưới góc độ tố tụng hình sự, tổ chức công đoàn và người lao động chưa phát huy hết hiệu quả trong việc tố giác tội phạm, vì vậy, cần tăng cường phát huy vai trò của các lực lượng này trong thời gian tới.

Thứ tư, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả quy chế phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp trong việc kịp thời trao đổi thông tin, thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, hỗ trợ xác minh. Nhanh chóng xác minh, điều tra làm rõ, kịp thời xử lý nghiêm những hành vi vi phạm, thu hồi triệt để tài sản thiệt hại để bảo đảm tính hiệu quả của chính sách, pháp luật; kết hợp với việc tuyên truyền về công tác xử lý các vụ việc, vi phạm điển hình để người sử dụng lao động và người lao động nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Bên cạnh đó, cần tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra với Cơ quan thanh tra bảo hiểm xã hội nhằm góp phần nâng cao hiệu quả phân loại nguồn tin ban đầu, sớm phân loại và xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm để tập trung xác minh giải quyết, nâng cao vai trò của Cơ quan thanh tra bảo hiểm xã hội trong thực hiện các nhiệm vụ cụ thể.

Thứ năm, đẩy mạnh hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và hoạt động điều tra trong xử lý các vi phạm và tội phạm trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho người lao động. Đồng thời, tăng cường công tác điều tra, xử lý đối với Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là một tội danh mới, việc điều tra, xử lý đối với loại tội phạm này trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Vì vậy, trong thời gian tới, các cơ quan tư pháp tại địa phương cần có giải pháp tháo gỡ vướng mắc, định hướng điều tra, giải quyết vụ án cụ thể làm căn cứ điển hình, nhân rộng đến các địa phương khác.

Thứ sáu, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền đối với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người lao động, trong đó, tập trung tuyên truyền quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trách nhiệm và quyền lợi khi đóng bảo hiểm xã hội; phương thức, thủ đoạn cũng như hậu quả, tác hại của việc trốn đóng bảo hiểm xã hội…; đồng thời kết hợp với việc thống kê thông báo rộng rãi đối với các đơn vị chậm nộp bảo hiểm xã hội để đạt được hiệu quả “kép” trong hoạt động tuyên truyền./.

TS. Ngô Phan Nhân

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 403), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: