Thứ bảy 24/10/2026 04:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả xử lý hành vi vi phạm và tội phạm trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động

Bài viết tập trung phân tích một số vướng mắc trong xử lý các vi phạm và tội phạm trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xử lý đối với các hành vi này.

1. Nhận diện hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động

Theo quy định pháp luật hiện hành tại Việt Nam, việc người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên. Đồng thời, khoản 1 Điều 168 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định, người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; người lao động được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Như vậy, các đơn vị có sử dụng lao động buộc phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp theo quy định.

Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội (Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014) nhằm bảo đảm ổn định đời sống cho họ và an toàn xã hội.

Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế hiện hành để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện.

Bảo hiểm thất nghiệp được hiểu là khoản hỗ trợ tài chính tạm thời để trợ giúp kịp thời cho những người thất nghiệp trong thời gian chưa tìm được việc làm và tạo cơ hội cho họ học nghề, tìm kiếm công việc mới. Dưới góc độ pháp lý, chế độ bảo hiểm thất nghiệp là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định việc đóng góp và sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp, chi trả trợ cấp thất nghiệp để bù đắp thu nhập cho người lao động bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp đưa người thất nghiệp trở lại làm việc.

Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) đã hình sự hóa những hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm và quy định cụ thể tại Mục 1. Các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, bao gồm 04 điều luật quy định các tội danh là Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm (Điều 213); Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (Điều 214); Tội gian lận bảo hiểm y tế (Điều 215); Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (Điều 216).

Theo Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015, người nào có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp sau đây, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm: Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động.

Điều 2 Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP ngày 15/8/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 214 về Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, Điều 215 về Tội gian lận bảo hiểm y tế và Điều 216 về Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động của Bộ luật Hình sự (Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP) hướng dẫn về một số thuật ngữ được sử dụng trong quy định về Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp như sau: (i) Trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là hành vi của người sử dụng lao động có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc đóng không đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. (ii) Gian dối để không đóng, không đóng đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là trường hợp cố ý không kê khai hoặc kê khai không đúng thực tế việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với cơ quan có thẩm quyền. (iii) Không đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là trường hợp người sử dụng lao động không gửi hồ sơ đăng ký đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động hoặc có gửi hồ sơ và đã xác định rõ, đầy đủ số người phải đóng hoặc các khoản phải đóng, lập chứng từ, hồ sơ quyết toán lương cho người lao động, thu nhập doanh nghiệp, nhưng không đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho cơ quan bảo hiểm xã hội theo quy định. (iv) Không đóng đầy đủ tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là việc người sử dụng lao động đã xác định rõ, đầy đủ số người phải đóng hoặc các khoản phải đóng, lập chứng từ, hồ sơ quyết toán lương cho người lao động, thu nhập doanh nghiệp nhưng chỉ đóng một phần tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho cơ quan bảo hiểm xã hội theo quy định.

Như vậy, Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động là hành vi cố ý của các chủ thể tham gia vào quan hệ bảo hiểm, nhằm trốn đóng hoặc đóng không đầy đủ mức đóng bảo hiểm theo quy định làm thâm hụt về quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp gây rối loạn trong lĩnh vực bảo hiểm.

Theo Báo cáo của lực lượng Cảnh sát kinh tế, trong thời gian từ năm 2018 đến nay, lực lượng Cảnh sát kinh tế đã phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp tiến hành 835 cuộc thanh tra, kiểm tra, xác minh liên ngành tại 3.308 đơn vị (trong đó, có 3.148 đơn vị sử dụng lao động và 160 cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế); phối hợp xác minh làm rõ 270 hồ sơ, vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật với những vi phạm chủ yếu như: Gian lận trong kinh doanh bảo hiểm; gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động; trục lợi tiền bảo hiểm y tế tại các cơ sở khám, chữa bệnh; thông đồng với người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để giải quyết bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm trái pháp luật… Trên cơ sở đó, đã khởi tố 13 vụ án trong lĩnh vực bảo hiểm với 17 bị can; đề nghị xử lý vi phạm hành chính 185 đối tượng, 24 pháp nhân, qua đó góp phần truy thu hơn 60 tỷ đồng cho Nhà nước. Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2018 đến nay, trên địa bàn cả nước chưa có vụ án nào về Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động được cơ quan điều tra khởi tố, điều tra, mặc dù tính đến tháng 8/2022, bảo hiểm xã hội các cấp đã có tổng số 353 kiến nghị khởi tố gửi Cơ quan điều tra về Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động ở nhiều doanh nghiệp, tổ chức. Kết quả là trong 353 kiến nghị khởi tố của bảo hiểm xã hội, Cơ quan điều tra các cấp đã xác minh: Ra quyết định không khởi tố với 173 kiến nghị khởi tố của Cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp; không thụ lý giải quyết 56 vụ; đang trong thời gian giải quyết 122 vụ và tạm đình chỉ giải quyết kiến nghị 02 vụ.

Bên cạnh mặt tích cực của lĩnh vực bảo hiểm, tình trạng trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm, làm giả hồ sơ để trục lợi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… diễn ra dưới nhiều hình thức, nhiều mức độ khác nhau và có chiều hướng ngày càng gia tăng với diễn biến ngày càng phức tạp ảnh hưởng lớn đến quyền lợi người lao động, người bệnh, ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, của ngành Bảo hiểm, ảnh hưởng đến chính sách nhân văn của Nhà nước ta. Đối với Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động, thủ đoạn chủ yếu của một số doanh nghiệp là lập và sử dụng hai hệ thống thang, bảng lương khác nhau. Một hệ thống lương dùng để chi trả lương thực tế cho người lao động; một hệ thống lương khác, chỉ bằng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu vùng đã được doanh nghiệp dùng để đăng ký tham gia và làm cơ sở tính mức đóng bảo hiểm xã hội. Với thủ đoạn này, các doanh nghiệp đã trốn đóng một khoản chênh lệch không nhỏ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động.

Lợi dụng cơ chế, chính sách bảo hiểm xã hội còn có “kẽ hở”, quy định mức phạt lãi suất chậm đóng bảo hiểm xã hội và mức phạt tối đa đối với hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội thấp nên nhiều doanh nghiệp đã cố tình chây ỳ, trốn đóng hoặc chiếm dụng tiền bảo hiểm xã hội của người lao động, sử dụng số tiền đó để đầu tư trở lại sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, doanh nghiệp, người sử dụng lao động ký liên tiếp chuỗi hợp đồng theo thời vụ hoặc chuỗi hợp đồng lao động có thời hạn dưới 03 tháng, kéo dài thời gian thử việc... để không phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

2. Vướng mắc trong xử lý hành vi vi phạm và tội phạm trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động

Thứ nhất, hướng dẫn tại Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP đã phần nào giải quyết được những khó khăn, vướng mắc mà cơ quan nhà nước đang gặp phải như: Thế nào là “gian dối”, “thủ đoạn khác”, “không đóng”, “không đóng đầy đủ”, “trốn đóng”; 06 tháng trở lên là phải liên tục hay cộng dồn hay cả hai và liên quan đến vấn đề chỉ bị xử lý hình sự khi đã xử phạt vi phạm hành chính… Tuy nhiên, việc xác định những hành vi trên vẫn còn những vướng mắc nhất định, bởi thực tế cho thấy, khi một tổ chức, cá nhân nợ bảo hiểm xã hội, việc phân biệt có sự “gian dối” hay không (hay đơn thuần là nợ vì khó khăn khách quan) không dễ để có thể xác định; việc xử lý hình sự các doanh nghiệp trốn đóng bảo hiểm xã hội đến nay chưa được thực hiện do việc thu thập hồ sơ, tài liệu xác định tội danh hình sự về trốn đóng bảo hiểm xã hội gặp nhiều khó khăn như: Báo cáo tài chính của đơn vị chưa sát đúng với thực trạng hoạt động của đơn vị, đơn vị không phối hợp cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu...

Bên cạnh đó, Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động là tội danh mới được đưa vào Bộ luật Hình sự năm 2015 nên chưa có án lệ; mặt khác, yếu tố chủ quan của Điều 216 quy định chủ thể tội phạm phải “gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác” để trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế. Để gỡ vướng cho cách hiểu còn khác nhau trong tiếp nhận và xử lý tội danh trên, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP, trong đó, xác định cụ thể các hành vi gian dối. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy, vướng mắc chủ yếu là việc xác định “thủ đoạn khác”, trường hợp “chậm đóng bảo hiểm xã hội” vì lý do khách quan, hay việc áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội theo Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015), do đó, kết quả cho thấy, có rất nhiều vụ việc mà Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố.

Thứ hai, từ kết quả xác minh điều tra của Cơ quan điều tra đối với 353 kiến nghị khởi tố của các cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp trong thời gian qua cho thấy, việc xử lý hình sự đối với các hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho người lao động của cơ quan chức năng chưa thực sự hiệu quả và chưa đủ tính răn đe. Từ đó, dẫn đến tổng số dư nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên cả nước ngày càng tăng, từ 12.000 tỷ đồng (năm 2020) tăng lên 16.000 tỷ đồng (năm 2022). Việc dư nợ bảo hiểm xã hội lớn sẽ gây ra những hậu quả khó lường đối với quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế như: Người lao động không được bảo hiểm xã hội chi trả các chế độ ốm đau, thai sản, hưu trí, tử tuất; không nhận được trợ cấp thất nghiệp... ảnh hưởng đến số tháng, số tiền hưởng các gói hỗ trợ của Chính phủ (như các chính sách hỗ trợ tại Nghị quyết số 68/2021/NQ-CP ngày 01/7/2021 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, Nghị quyết số 116/2021/NQ-CP ngày 24/9/2021 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp, Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động); ảnh hưởng đến việc sử dụng và điều tiết quỹ bảo hiểm xã hội chung của cơ quan bảo hiểm xã hội.

Thứ ba, đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm, các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm chỉ xử phạt các công ty là pháp nhân, do đó, người đại diện theo pháp luật không bị coi là bị xử lý hành chính nên rất khó xử lý hình sự đối với người đại diện theo pháp luật của các công ty trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bởi vì họ chưa từng bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi này. Do vậy, tình trạng trốn đóng bảo hiểm hiện nay vẫn còn diễn ra phổ biến, gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước.

Thứ tư, bảo hiểm là lĩnh vực rộng, liên quan đến hoạt động của nhiều doanh nghiệp và người lao động, nhiều ngành khác nhau, dẫn đến việc khó kiểm tra, kiểm soát các hành vi vi phạm tại các đơn vị sử dụng lao động. Trên thực tế, cơ quan bảo hiểm xã hội cũng chưa có số liệu thống kê chính xác số lượng doanh nghiệp có sử dụng lao động thuộc đối tượng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; số liệu thống kê về số lượng doanh nghiệp đang hoạt động còn có sự khác nhau giữa các cơ quan quản lý (cơ quan thuế, cơ quan đăng ký và quản lý thành lập doanh nghiệp...); cơ quan bảo hiểm xã hội chỉ kiểm soát được các doanh nghiệp tự giác khai báo lao động tham gia bảo hiểm xã hội.

Thứ năm, thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, việc khởi kiện doanh nghiệp sử dụng lao động vi phạm về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là do tổ chức công đoàn thực hiện. Tuy nhiên, hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn về quy trình, thủ tục thực hiện. Ngoài ra, để khởi kiện được doanh nghiệp sử dụng lao động vi phạm thì phải được sự đồng ý của toàn bộ người lao động trong doanh nghiệp đó, trong khi người lao động vì nhiều lý do khác nhau (như sợ mất việc làm) nên không đề nghị khởi kiện đối với doanh nghiệp.

Thứ sáu, kể từ khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP, các cơ quan, đơn vị hữu quan đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học với sự tham gia của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra các cấp, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để đánh giá tình hình hoạt động của lĩnh vực bảo hiểm, kết quả phối hợp, đấu tranh với các vi phạm trong lĩnh vực này. Giữa Cơ quan điều tra, Cơ quan bảo hiểm xã hội, Cơ quan thanh tra và các lực lượng chức năng khác trong phòng ngừa, điều tra, xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm đã triển khai các hình thức phối hợp nhất định, nhất là trong kiến nghị xử lý những vi phạm nguy hiểm, có tính chất, mức độ đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, công tác phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan thực thi pháp luật đối với các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn, nhất là xử lý hình sự. Điều này xâm phạm quyền lợi chính đáng của người lao động, ảnh hưởng đến an ninh trật tự và môi trường kinh doanh.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xử lý hành vi vi phạm và tội phạm trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách pháp luật trong xử lý hình sự đối với Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động. Trước mắt, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về 04 yếu tố cấu thành của Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015, trong đó, cụ thể hóa, làm rõ hành vi “gian dối” hoặc bằng “thủ đoạn khác” để “không đóng” hoặc “không đóng đầy đủ” là như thế nào. Ngoài ra, về lâu dài, cần đưa hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho người lao động trong khi đã trích lập tiền lương của người lao động vào Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015 để nâng cao hiệu quả tính răn đe. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang vận hành theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xu hướng cổ phần hóa doanh nghiệp đang diễn ra nhanh chóng, Nhà nước dần không nắm cổ phần chi phối tại các tập đoàn lớn, vì vậy, để bảo đảm quyền lợi của người lao động thì cần tăng khung hình phạt của Điều 216 lên mức nghiêm trọng, rất nghiêm trọng; mức độ hoàn thành của tội phạm lên sớm hơn như về thời gian trốn đóng, mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.

Thứ hai, cần quy định rõ hơn về hình thức phạt tiền tại Điều 38 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/3/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, cụ thể, ngoài phạt tiền đối với tổ chức vi phạm, cần quy định rõ việc đồng thời phạt tiền đối với người đứng đầu hoặc người đại diện theo pháp luật của tổ chức đó ở mức độ phù hợp để gắn với trách nhiệm của cá nhân trong việc chấp hành pháp luật, tạo hành lang pháp lý làm căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với cá nhân khi thỏa mãn cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015 về dấu hiệu “… đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm…”.

Thứ ba, phát huy vai trò của các tổ chức, đoàn thể trong cơ quan, doanh nghiệp, đặc biệt, cần phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong bảo vệ quyền lợi của người lao động và thực hiện tố giác tội phạm đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm của cơ quan, tổ chức. Trên thực tế, đã có văn bản hướng dẫn về việc tổ chức công đoàn có vai trò trong việc khởi kiện, bảo vệ quyền lợi của người lao động trong việc người sử dụng lao động chậm nộp, trốn nộp bảo hiểm cho người lao động, tuy nhiên, dưới góc độ tố tụng hình sự, tổ chức công đoàn và người lao động chưa phát huy hết hiệu quả trong việc tố giác tội phạm, vì vậy, cần tăng cường phát huy vai trò của các lực lượng này trong thời gian tới.

Thứ tư, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả quy chế phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp trong việc kịp thời trao đổi thông tin, thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, hỗ trợ xác minh. Nhanh chóng xác minh, điều tra làm rõ, kịp thời xử lý nghiêm những hành vi vi phạm, thu hồi triệt để tài sản thiệt hại để bảo đảm tính hiệu quả của chính sách, pháp luật; kết hợp với việc tuyên truyền về công tác xử lý các vụ việc, vi phạm điển hình để người sử dụng lao động và người lao động nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Bên cạnh đó, cần tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra với Cơ quan thanh tra bảo hiểm xã hội nhằm góp phần nâng cao hiệu quả phân loại nguồn tin ban đầu, sớm phân loại và xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm để tập trung xác minh giải quyết, nâng cao vai trò của Cơ quan thanh tra bảo hiểm xã hội trong thực hiện các nhiệm vụ cụ thể.

Thứ năm, đẩy mạnh hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và hoạt động điều tra trong xử lý các vi phạm và tội phạm trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho người lao động. Đồng thời, tăng cường công tác điều tra, xử lý đối với Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là một tội danh mới, việc điều tra, xử lý đối với loại tội phạm này trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Vì vậy, trong thời gian tới, các cơ quan tư pháp tại địa phương cần có giải pháp tháo gỡ vướng mắc, định hướng điều tra, giải quyết vụ án cụ thể làm căn cứ điển hình, nhân rộng đến các địa phương khác.

Thứ sáu, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền đối với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người lao động, trong đó, tập trung tuyên truyền quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trách nhiệm và quyền lợi khi đóng bảo hiểm xã hội; phương thức, thủ đoạn cũng như hậu quả, tác hại của việc trốn đóng bảo hiểm xã hội…; đồng thời kết hợp với việc thống kê thông báo rộng rãi đối với các đơn vị chậm nộp bảo hiểm xã hội để đạt được hiệu quả “kép” trong hoạt động tuyên truyền./.

TS. Ngô Phan Nhân

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 403), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: