Thứ sáu 16/01/2026 16:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao năng lực và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên, năng lực được hiểu: (i) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có đề thực hiện một hoạt động nào đó; (ii) Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao

1. Đặt vấn đề

Đổi mới toàn diện và đồng bộ hệ thống các đơn vị dịch vụ sự nghiệp công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một đòi hỏi khách quan và là yêu cầu cấp thiết, được Đảng, Nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm. Một trong những nội dung cốt lõi được thảo luận sâu rộng trong thời gian qua là làm sao để nâng cao năng lực và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công, đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả tập trung vào những nội dung cơ bản sau:

- Nhận thức chung về năng lực và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.

- Quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về nâng cao năng lực và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ làm trong đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.

- Thực trạng chung và những yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao năng lực và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.

- Một số giải pháp nâng cao năng lực và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.

2. Nội dung

2.1. Năng lực và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công

2.1.1. Năng lực của đội ngũ làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên, năng lực được hiểu: (i) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có đề thực hiện một hoạt động nào đó; (ii) Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao[1].

Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường đã định nghĩa năng lực (competence) là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động[2].

Ở Việt Nam, khung năng lực của từng vị trí việc làm từng bước được xây dựng gồm các năng lực và kỹ năng phải có để hoàn thành các công việc, các hoạt động nêu tại bản mô tả công việc ứng với từng vị trí việc làm. Khung năng lực được cấu thành từ các năng lực, là tập hợp của các khả năng, kỹ năng, kinh nghiệm công tác và các phẩm chất cần có để cán bộ, công chức thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ trong cơ quan, tổ chức. Là một công cụ mô tả các năng lực cần thiết, phù hợp với một dạng hoạt động cụ thể, một nghề nghiệp, tổ chức hoặc ngành nghề nhất định. Các kỹ năng, kiến thức và hành vi mô tả trong khung năng lực có thể quan sát, đo lường được. Về nội dung cấu trúc, phần yêu cầu về trình độ tập trung vào yêu cầu về trình độ đào tạo; bồi dưỡng, chứng chỉ; kinh nghiệm (thành tích công tác); phẩm chất cá nhân và những yêu cầu khác. Về năng lực, được cấu trúc thành ba thành tố: Nhóm năng lực chung (gồm những năng lực cụ thể); nhóm năng lực chuyên môn (cũng bao gồm những năng lực cụ thể); nhóm năng lực quản lý (gồm những năng lực cụ thể). Các năng lực được xác định cấp độ theo bậc từ 01 đến 05.

Nhìn chung, vấn đề nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công đã được minh định trong bảng mô tả vị trí việc làm. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá thực trạng, xác định các giải pháp cụ thể để nâng cao năng lực, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.

2.1.2. Đạo đức nghề nghiệp của của đội ngũ làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công

Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, đạo đức được hiểu là: (i) Những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau, đối với xã hội; (ii) Phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có[3].

Đạo đức nghề nghiệp là đạo đức xã hội, thể hiện một cách đặc thù, cụ thể trong các hoạt động nghề nghiệp. Với tính cách là một dạng của đạo đức xã hội. Đạo đức nghề nghiệp có quan hệ chặt chẽ với đạo đức cá nhân, thông qua đạo đức cá nhân để thể hiện. Đồng thời, đạo đức nghề nghiệp liên quan đến hoạt động nghề và gắn liền với một kiểu quan hệ sản xuất trong một giai đoạn lịch sử nhất định nên nó cũng mang tính giai cấp, mang tính dân tộc. Đạo đức công vụ thực chất là những chuẩn mực đạo đức của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ, khi thực thi công vụ, cán bộ, công chức phải tuyệt đối chấp hành. Nếu quan niệm công vụ là một nghề, thì đạo đức công vụ chính là một dạng đạo đức nghề nghiệp.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ là “công bộc của dân”, là “đầy tớ của dân”. Người xem đạo đức cán bộ nằm trong mối quan hệ biện chứng giữa “đức” và “tài”. Đức là “gốc”, đức quyết định thành công của người cán bộ, giúp người cán bộ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho. Đức của người cán bộ, công chức, viên chức là đạo đức cách mạng, thể hiện ở phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; ở lòng trung thành vô hạn đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân và với chế độ xã hội chủ nghĩa; ở trình độ giác ngộ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để thực hiện mục tiêu, lý tưởng cao đẹp là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đức của người cán bộ, công chức, viên chức còn được thể hiện ở sự trong sáng, trung thực, không cơ hội, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; biết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc, của nhân dân; có lối sống trong sạch, lành mạnh, gần gũi với quần chúng, gương mẫu, gắn bó với nhân dân, luôn khiêm tốn, giản dị, cầu thị; luôn có tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau.

Phẩm chất đạo đức của cán bộ, công chức, viên chức được thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật, trong tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của hầu hết các nghề nghiệp. Trong bảng mô tả vị trí việc làm mà chúng tôi khảo sát, đều đề cập đến những phẩm chất cá nhân. Trong đó nhấn mạnh: Tuyệt đối trung thành, tin tưởng, nghiêm túc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của cơ quan; tinh thần trách nhiệm cao với công việc với tập thể; trung thực, thẳng thắn, kiên định nhưng biết lắng nghe; điềm tĩnh, cẩn thận; khả năng đoàn kết nội bộ; phẩm chất khác theo yêu cầu cụ thể của vị trí việc làm.

2.1.3. Dịch vụ sự nghiệp công

Dịch vụ sự nghiệp công là dịch vụ sự nghiệp trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin, truyền thông và báo chí; khoa học và công nghệ; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác. Dịch vụ sự nghiệp công được phân loại bao gồm: Dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước là dịch vụ sự nghiệp công mà Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoặc dịch vụ sự nghiệp công chưa tính đủ chi phí trong giá, phí, được ngân sách nhà nước hỗ trợ; dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước là dịch vụ sự nghiệp công có điều kiện xã hội hóa cao, Nhà nước không bao cấp, giá dịch vụ sự nghiệp công theo cơ chế thị trường.

2.2. Quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về nâng cao năng lực và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ làm trong đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công

2.2.1. Quan điểm của Đảng

Đồng thời với việc lãnh đạo đất nước thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm đến nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Đảng luôn thể hiện quan điểm nhất quán trong việc xây dựng một nền hành chính công trong sạch, vững mạnh, phục vụ; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ năng lực, phẩm chất đạo đức phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội, đáp ứng những yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986), trên cơ sở nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đảng đã chỉ ra những yếu kém trong công tác cán bộ, tổ chức bộ máy hành chính công. Đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng bộ máy gọn nhẹ, có chất lượng cao, với một đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị và có năng lực quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội[4]. Nghị quyết nhiều Đại hội Đảng đã nhấn mạnh đổi mới đội ngũ cán bộ có nghĩa là đánh giá, lựa chọn, bố trí lại, đi đôi với đào tạo, bồi dưỡng để có một đội ngũ cán bộ có đủ những tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực lãnh đạo, quản lý, ngang tầm nhiệm vụ.

Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tiếp tục là chủ đề được quan tâm trong các kỳ Đại hội Đảng trong thời kỳ đổi mới, qua các nghị quyết chuyên đề. Trong đó, chú trọng việc tiếp tục đổi mới cán bộ và công tác cán bộ, xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất chính trị, tinh thần trách nhiệm cao và thành thạo chuyên môn, nghiệp vụ; coi trọng cả đức và tài, đức là gốc. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII nhấn mạnh, Đảng tập trung lãnh đạo về đường lối, chủ trương xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn, cơ chế, chính sách về cán bộ, công chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực chuyên môn phù hợp, đáp ứng yêu cầu giai đoạn mới; xây dựng cơ chế, chính sách đãi ngộ, thu hút, trọng dụng nhân tài; Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị[5].

Đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn, trong thời gian vừa qua, Trung ương Đảng ban hành nhiều nghị quyết, văn bản tập trung vào công tác cán bộ, sắp xếp tổ chức lại hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập[6].

Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được, những vấn đề còn tồn tại, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định: Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển đất nước. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với cải cách tiền lương, chế độ, chính sách đãi ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phục vụ phát triển; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đồng thời, có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân[7].

2.2.2. Pháp luật của Nhà nước

Quốc hội và Chính phủ đã xây dựng và ban hành nhiều nghị quyết, hệ thống luật pháp để thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về đổi mới toàn diện và đồng bộ hệ thống các đơn vị dịch vụ sự nghiệp công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là nâng nâng cao năng lực và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công. Tiêu biểu như Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 653/2019/UBTVQH14 ngày 12/3/2019 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019-2021. Nghị quyết số 32/NQ-CP ngày 14/5/2019 của Chính phủ về kế hoạch sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong giai đoạn 2019 - 2021. Nhiều đạo luật đã được sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu thể chế trong lĩnh vực công tác cán bộ như: Luật tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức... Chính phủ và các cơ quan, đơn vị hành chính công tiếp tục ban hành nhiều văn bản quy chuẩn hóa, mô tả chức danh, tiêu chí phân loại vị trí việc làm và khung năng lực, tiêu chí về phẩm chất đạo đức[8].

Ngày 15/7/2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 76/NQ-CP về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030. Mục tiêu chung của Chương trình nhằm tiếp tục xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, có năng lực kiến tạo phát triển, liêm chính, phục vụ nhân dân, trên cơ sở những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong giai đoạn 2021 - 2030.

Triển khai chủ trương của Đảng, Chính phủ đặc biệt quan tâm xây dựng Chính phủ điện tử, chính quyền điện tử. Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử nhấn mạnh đẩy mạnh phát triển Chính phủ điện tử, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn…Công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan Nhà nước trên môi trường mạng. Một loạt các văn bản đã được Chính phủ ban hành và triển khai thực hiện nhằm đẩy mạnh chuyển đổi số của nền hành chính công. Tiêu biểu như: Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025; Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính; Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử và các chỉ đạo của Chính phủ.

Những quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước thể hiện sự phát triển liên tục, nhất quán trong đổi mới tư duy, nhận thức về tầm quan trọng, quyết liệt trong các giải pháp, cụ thể hóa các tiêu chí xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách hệ thống dịch vụ sự nghiệp công, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

2.3. Thực trạng chung và những yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao năng lực và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công

Trải qua hơn 35 năm đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập với đông đảo đội ngũ trí thức, các nhà khoa học, các nhà giáo dục và các nhà văn hoá đã có đóng góp to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; góp phần thực hiện các mục tiêu giảm nghèo bền vững, hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học, tăng cường bình đẳng giới, nâng cao sức khoẻ nhân dân, góp phần bảo đảm bền vững môi trường, công bằng xã hội và hoàn thành cơ bản các mục tiêu Thiên niên kỷ. Với sự nỗ lực, cống hiến của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, các đơn vị sự nghiệp công lập giữ vai trò chủ đạo, vị trí then chốt trong cung ứng dịch vụ sự nghiệp công và thực hiện chính sách an sinh xã hội. Đại bộ phận cán bộ, công chức, viên chức luôn có ý thức rèn luyện, không ngừng nâng cao năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; có thái độ tôn trọng nhân dân, tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, được nhân dân tin tưởng.

Bên cạnh những thành quả đã đạt được, công tác xây dựng và phát triển đội ngũ làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cũng còn đang phải đối mặt với không ít hạn chế, vấn đề tồn tại:

Một là, vẫn còn nhiều cán bộ, công chức, viên chức nhưa nhận thức rõ vị trí, vai trò, yêu cầu về năng lực và đạo đức công vụ mà mình phải đáp ứng; chưa có sự chuyển biến mạnh mẽ sang phong cách phục vụ, hỗ trợ. Vấn đề xây dựng một hệ thống cung ứng dịch vụ công phục vụ, kiến tạo phát triển chưa chuyển hóa thành hành động của từng đơn vị, cá nhân, đơn vị, nhất là người lãnh đạo.

Hai là, quá trình thể chế hóa, ban hành hệ thống luật pháp về xây dựng, quản lý, sử dụng, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức còn chưa đáp ứng yêu cầu. Việc thể chế hóa, chuẩn hóa những tiêu chuẩn về năng lực và đạo đức công vụ mặc dù đạt nhiều tiến bộ nhưng còn phải tiếp tục hoàn thiện nhằm đáp ứng những yêu cầu đặt ra.

Ba là, bộ máy hành chính của Nhà nước ta còn cồng kềnh, dẫn tới số lượng cán bộ, công chức, viên chức quá đông. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức dù được đào tạo, bồi dưỡng nhưng tính chuyên nghiệp chưa cao; ý thức trách nhiệm công vụ còn hạn chế; trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu chưa rõ ràng. Vẫn còn tình trạng cán bộ, công chức, viên chức quan liêu, tham nhũng, hách dịch với nhân dân. Những cán bộ, công chức, viên chức dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung còn ít. Cơ chế phân cấp, phân quyền, ủy quyền chưa rõ ràng, do vậy việc cá thể hóa trách nhiệm cá nhân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức còn bất cập.

Bốn là, công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra việc xây dựng lực lượng giám sát hoạt động, hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức còn nhiều bất cập. Chưa phát huy được vai trò giám sát, thanh tra, kiểm tra, phản biện xã hội của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan thông tin đại chúng trong quá trình xây dựng, đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Bên cạnh đó, công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức còn phân tán, thiếu tập trung, thiếu liên thông, không đồng bộ. Các chức danh cán bộ, công chức, viên chức còn bị ràng buộc nhiều bởi bằng cấp, chứng chỉ nặng về hình thức, thiếu thực chất, gây lãng phí tiền của và thời gian. Chưa có cơ chế, chính sách đột phá để trọng dụng cán bộ, công chức, viên chức có tài năng. Chế độ tiền lương, chế độ đãi ngộ còn bình quân, cào bằng đã triệt tiêu động lực của những cán bộ, công chức, viên chức tích cực, sáng tạo; chưa có cơ chế cạnh tranh trong tuyển dụng, đãi ngộ, đề bạt.

Bên cạnh nguyên nhân khách quan, những hạn chế, yếu kém nêu trên chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan. Việc thể chế hóa các chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực sự nghiệp công còn chậm, chưa đầy đủ, đồng bộ và phù hợp với tình hình. Nhiều cấp ủy đảng, lãnh đạo và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nhận thức chưa đầy đủ, thiếu quyết tâm chính trị, thiếu quyết liệt và đồng bộ trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện đổi mới, sắp xếp lại, quản lý biên chế các đơn vị sự nghiệp công lập; chưa chủ động chuyển các đơn vị sự nghiệp công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, số hóa. Công tác tuyên truyền, quán triệt chủ trương, chính sách, pháp luật chưa thường xuyên; tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước trong thụ hưởng dịch vụ sự nghiệp công còn phổ biến. Cán bộ công chức thiếu chủ động trong học tập, rèn luyện nâng cao năng lực, đạo đức công vụ nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thực tiễn. Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin nhất là đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng thời kỳ phát triển mới còn có những hạn chế. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nhất là về mặt lý luận chính trị còn có những bất cập cần được chuẩn hóa.

3. Một số giải pháp nâng cao năng lực và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công lập

Thực tiễn cuộc sống cũng như nhiệm vụ quản lý nhà nước đang đặt ra yêu cầu có những giải pháp tổng thể cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ phẩm chất, năng lực, trình độ, đạo đức nghề nghiệp cho quản trị đất nước trong thời kỳ mới, cụ thể là:

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người dân về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, những yêu cầu về năng lực và đạo đức của đội ngũ cán bộ làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công lập. Chuyên nghiệp, chuyên sâu hóa trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực nghề nghiệp cho lực lượng này. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục đạo đức cách mạng, đạo đức công vụ, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, nhất là tiếp tục tuyên truyền, quán triệt, triển khai thực hiện việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.

Thứ hai, đẩy mạnh thể chế hóa, hoàn thiện pháp luật và chuẩn hóa khung năng lực, bản mô tả tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp phù hợp và đáp ứng tốt những đòi hỏi của thực tiễn, phù hợp với từng ngành nghề, lĩnh vực hoạt động cụ thể. Đổi mới cơ chế, phương thức tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức, viên chức (bao gồm cả cán bộ quản lý). Có chính sách thu hút nhân tài, thu hút người có chuyên môn, nghiệp vụ giỏi vào làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập. Trên cơ sở đó, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công lập, không chỉ về mặt số lượng mà bảo đảm chất lượng, về năng lực và đạo đức nghề nghiệp.

Thứ ba, tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện tốt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước, cải cách chế độ công vụ, công chức; nâng cao chất lượng, hiệu quả của công cuộc cải cách hành chính nhà nước, từng bước theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, xây dựng nền công vụ phục vụ, lấy thước đo hiệu quả bằng sự hài lòng của người dân trở thành công cụ, tiêu chí đánh giá chất lượng thực thi công vụ. Đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng Chính phủ điện tử, chính quyền điện tử để hướng tới giảm thủ tục hành chính, công khai, minh bạch. Kiên quyết loại bỏ những thủ tục hành chính gây phiền hà khi giải quyết công việc của người dân và của doanh nghiệp. Tiếp tục rà soát, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các quy định về quy trình, thủ tục hành chính; công khai, minh bạch các quy định về trình tự, về thủ tục hành chính tạo điều kiện cho nhân dân giám sát để kịp thời ngăn ngừa cán bộ, công chức lợi dụng kẽ hở từ những quy định của pháp luật, từ đó nảy sinh tiêu cực trong quá trình thực thi công vụ.

Thứ , phát huy hơn nữa vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, vai trò quản lý của chính quyền và vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, của nhân dân trong việc nâng cao năng lực, đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Công khai, minh bạch hóa hệ thống các chuẩn mực, quy tắc, nguyên tắc, hành vi trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức và đạo đức công vụ đã được quy định ở Luật Cán bộ, công chức, Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí... Phát huy vai trò của tổ chức cơ sở đảng, trong công tác cán bộ, công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở tất cả các khâu, từ tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, đánh giá đến việc giải quyết các chế độ, chính sách theo đúng các nguyên tắc trong thi hành công vụ, theo đúng pháp luật.

Thứ năm, nêu cao tinh thần tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong tự học, tự bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao năng lực, đạo đức nghề nghiệp. Có cơ chế khuyến khích tính năng động, sáng tạo của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động sự nghiệp với việc bảo đảm chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp; trọng dụng người tài, thực hiện tốt nguyên tắc công bằng giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi và trách nhiệm. Cải cách hệ thống tiền lương, tiền thưởng, bảo đảm trả đúng sức lao động và giá trị cống hiến theo vị trí việc làm. Cán bộ, công chức, viên chức cần phấn đấu để trở thành chuyên gia giỏi trong lĩnh vực chuyên môn mà mình đảm nhiệm, thay vì tìm mọi cách để trở thành người lãnh đạo, quản lý trong khi trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, phương pháp, tác phong công tác còn nhiều bất cập, hạn chế so với yêu cầu.

Thứ sáu, thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy vai trò của nhân dân trong kiểm tra, giám sát các hoạt động của cán bộ, công chức trong quá trình thực thi công vụ. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thường xuyên và định kỳ các hoạt động sự nghiệp công lập. Chú trọng công tác thi đua, khen thưởng và xử lý vi phạm; phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, cũng như khen thưởng, động viên kịp thời những tấm gương điển hình của những cán bộ, công chức luôn nêu cao tinh thần đạo đức công vụ, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

4. Kết luận

Nâng cao năng lực, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công lập là một trong những nội dung trọng tâm của công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ hệ thống các đơn vị dịch vụ sự nghiệp công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khung năng lực, tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp từng bước được chuẩn hóa, có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ sự nghiệp công của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh và công bằng xã hội.

Bên cạnh những thành quả đã đạt được, công tác xây dựng và chuẩn hóa đội ngũ làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công lập cũng còn có những hạn chế và bất cập nhất định. Từ phân tích lý thuyết, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước; mô tả, đánh giá thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là về năng lực và đạo đức, tác giả đề xuất các giải pháp có tính chất định hướng; vừa mang tính lâu dài, vừa mang tính cấp thiết nhằm nâng cao năng lực và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ làm việc trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công lập. Qua đây, cung cấp thêm những luận chứng, luận cứ để phục vụ cho công cuộc đổi đổi mới toàn diện và đồng bộ hệ thống các đơn vị dịch vu sự nghiệp công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hiện nay./.

TS. Phạm Thị Ngọc Dung
Học viện Chính trị khu vực I


[1] Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê (chủ biên, 2021), Từ điển tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, HN, tr. 836.

[2] Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2009), Lý luận dạy học hiện đại - Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, Potsdam - Hà Nội, tr. 68.

[3] Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê (chủ biên, 2021), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Hồng Đức, HN, tr. 365.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2019): Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Phần I (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, HN, tr. 116.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021): Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Phần II (Đại hội X, XI, XII), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, HN, tr. 708 - 709.

[6] Tiêu biểu như Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện sự diễn biến “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả: Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục đổi một hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24/12/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã…

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, HN, tr. 178 - 179.

[8] Ví dụ như: Nghị định 106/2020/NĐ-CP ngày 10/9/2020 của Chính phủ về vị trí việc làm và số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập đặt ra những yêu cầu việc xác định vị trí việc làm và số lượng người làm việc phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập; bảo đảm tính khoa học, khách quan, công khai, minh bạch, hiệu quả và nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức, người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: