Thứ tư 11/03/2026 02:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng trong pháp luật hôn nhân và gia đình

Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng trong pháp luật hôn nhân và gia đình

Bài viết phân tích điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng trong pháp luật Việt Nam và so sánh với pháp luật một số nước. Đồng thời, trên cơ sở lý luận và thực tiễn, nhóm tác giả đưa ra đề xuất, kiến nghị cần phải làm rõ một số vấn đề pháp lý liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng này.

1. Quy định pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 3, Điều 107, Điều 115), nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng chỉ có thể được đặt ra khi vợ chồng ly hôn và là nghĩa vụ có điều kiện, còn khi đang là vợ chồng, giữa họ không tồn tại nghĩa vụ cấp dưỡng, mà thay vào đó là nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau (khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn phát sinh khi thỏa mãn các điều kiện như sau:

Thứ nhất, một bên vợ hoặc chồng khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng và đồng thời phải kèm theo lý do chính đáng cho yêu cầu của mình.

Mặc dù nhà làm luật không lý giải cách hiểu về tình trạng khó khăn, túng thiếu nhưng thực tế, chúng ta cần nhìn nhận sự khó khăn, túng thiếu của bên yêu cầu cấp dưỡng phải là những khó khăn xuất phát từ yếu tố khách quan như ốm đau, già yếu, bị tai nạn dẫn đến không có khả năng lao động để kiếm sống. Trong những hoàn cảnh như vậy, việc chu cấp một khoản tiền hoặc tài sản khác cho bên có khó khăn, túng thiếu để họ trang trải cuộc sống là cơ chế hết sức nhân văn của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Để cơ chế pháp lý này được vận dụng đúng với tinh thần tương hỗ lẫn nhau giữa hai chủ thể từng có quan hệ vợ chồng thì việc nhìn nhận một cách khách quan, chuẩn xác nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng “khó khăn, túng thiếu” là điều vô cùng cần thiết. Chính vì lẽ đó mà bên cạnh điều kiện về sự khó khăn, túng thiếu, nhà làm luật yêu cầu bên có khó khăn, túng thiếu phải có lý do chính đáng thì yêu cầu cấp dưỡng của họ mới có khả năng được Tòa án xem xét thụ lý. Đối với những người tuy có khó khăn, túng thiếu thực sự nhưng lại do lười biếng không chịu lao động khi còn khả năng lao động thì dù họ có yêu cầu cũng không được cấp dưỡng. Đối với trường hợp do nghiện ngập, cờ bạc, hoang phí nên lâm vào tình trạng túng thiếu thì cũng không được cấp dưỡng[1].

Thứ hai, bên vợ hoặc chồng được yêu cầu có khả năng để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Kết hợp điều kiện một bên có khó khăn, túng thiếu và có lý do chính đáng cho yêu cầu cấp dưỡng của mình, pháp luật đặt ra quy định bên được yêu cầu cấp dưỡng phải có khả năng thực tế thì nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn mới phát sinh. Khả năng của người phải cấp dưỡng được xác định dựa trên điều kiện về kinh tế như có thu nhập, việc làm ổn định để chi trả cho các nhu cầu cơ bản của bản thân người phải cấp dưỡng. Ngược lại, thu nhập của người phải cấp dưỡng chỉ đủ đáp ứng các điều kiện cơ bản cho cuộc sống người đó và không có khả năng để cấp dưỡng cho bên kia thì nghĩa vụ cấp dưỡng trong trường hợp này không được đặt ra giữa vợ và chồng. Từ đây có thể thấy, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng là nghĩa vụ có điều kiện và các điều kiện phát sinh nghĩa vụ này được nhà lập pháp dự liệu tương đối khắt khe và chặt chẽ.

Nghiên cứu so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới cho thấy, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ, đó có thể là nghĩa vụ có tính tương trợ, giúp đỡ nhau giữa những người đã từng là vợ chồng trong lúc một bên có khó khăn, túng thiếu. Trên phương diện khác, ở một số quốc gia, nghĩa vụ này phát sinh với mục đích đền bù cho người chồng (vợ) đã “hy sinh” thời gian kiếm tiền để chăm lo cho đời sống gia đình.

Ở Canada, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng được điều chỉnh bởi Đạo luật ly hôn Liên bang. Theo Điều 15.2 (1), Tòa án có thẩm quyền có thể, theo đơn của một bên hoặc cả hai vợ chồng, ban hành lệnh yêu cầu một bên vợ hoặc chồng thanh toán khoản tiền một lần hoặc định kỳ, vì Tòa án cho rằng hợp lý đối với bên còn lại. Lệnh của Tòa án nên: (i) Thừa nhận bất kỳ thuận lợi hoặc bất lợi kinh tế nào đối với vợ hoặc chồng phát sinh từ hôn nhân hoặc sự đổ vỡ của hôn nhân; (ii) Phân chia giữa hai vợ chồng bất kỳ hậu quả tài chính nào phát sinh từ việc chăm sóc con cái trong hôn nhân; (iii) Giải phóng mọi khó khăn kinh tế của vợ hoặc chồng phát sinh từ sự đổ vỡ hôn nhân; (iv) Trong chừng mực nhất định, thúc đẩy khả năng tự cung, tự cấp về kinh tế của mỗi bên vợ chồng trong một khoảng thời gian hợp lý[2]. Trong bối cảnh ngược lại, cách hiểu về nghĩa vụ cấp dưỡng ở bang Quebec có thể không tương ứng với nền lý thuyết về cấp dưỡng giữa vợ và chồng trong Đạo luật ly hôn, điều này bắt nguồn từ thực tế trước khi Chính phủ Liên bang thông qua Đạo luật ly hôn, việc hỗ trợ về kinh tế dưới hình thức cấp dưỡng cho vợ hoặc chồng sau khi ly hôn không tồn tại ở Quebec, bởi với việc chấm dứt quan hệ hôn nhân, mọi nghĩa vụ phát sinh từ hôn nhân đã chấm dứt, những nghĩa vụ hỗ trợ và giúp đỡ nhau sẽ biến mất[3].

Moge v. Moge (1992) là phán quyết tiêu biểu thể hiện việc cấp dưỡng có tính đền bù giữa vợ và chồng sau ly hôn. Theo đó, ông Moge và bà Moge là một cặp vợ chồng nhập cư có thu nhập thấp, hôn nhân giữa họ kéo dài 16 năm và họ ly hôn năm 1973. Ông Moge là thợ hàn, trong khi bà Moge lấy chồng trong bối cảnh trình độ học vấn còn nhiều hạn chế. Ban ngày, bà dành thời gian chăm sóc 03 con và làm công việc bán thời gian vào ban đêm. Khi ly thân, bà Moge được trao quyền nuôi con và ông Moge có nghĩa vụ cấp dưỡng là 150 USD/tháng cho vợ và con mình. Đến năm 1989, ông Moge nộp đơn xin chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng vì tất cả các con đã đến tuổi trưởng thành. Vào thời điểm đó, bà Moge có thu nhập 800 USD/tháng, trong khi thu nhập của ông Moge xấp xỉ 2.000 USD/tháng. Yêu cầu của nguyên đơn đã được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận, trong khi đó, Tòa án cấp phúc thẩm và Tòa án tối cao theo hướng bác yêu cầu này[4]. Trên phương diện học thuật, các lý thuyết đền bù đã thu hút được sự ủng hộ đáng kể khi đưa ra sự biện minh hợp lý, có tính lý thuyết cho nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly hôn trong cấu trúc gia đình hiện đại[5].

Vấn đề đền bù kinh tế khi ly hôn cũng được đặt ra tại Điều 1088 Bộ luật Dân sự Trung Quốc năm 2020, theo đó, nếu một bên vì nuôi dưỡng con, chăm sóc người già, trợ giúp bên kia công tác mà gánh vác nhiều nghĩa vụ hơn thì khi ly hôn có quyền yêu cầu bên kia đền bù, bên kia phải đưa ra đền bù. Biện pháp cụ thể do hai bên thỏa thuận; nếu thỏa thuận bất thành thì do Tòa án nhân dân phán quyết[6].

Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn tiếp tục được mở rộng ở Canada thông qua vụ Bracklow v. Bracklow (1999). Cụ thể, sau khi chung sống được 04 năm, các bên tiến đến hôn nhân năm 1989 rồi chia tay 03 năm sau đó, khi đó, bà Bracklow 43 tuổi. Bà Bracklow ngừng công việc toàn thời gian năm 1989 và đến năm 1991, bà bị ốm nặng, chịu nhiều vấn đề về thể chất và tâm lý khiến bà hoàn toàn mất khả năng lao động, không thể làm việc và phụ thuộc tài chính vào ông Bracklow. Tại thời điểm ly hôn, thu nhập duy nhất của bà Bracklow là khoản trợ cấp khuyết tật từ Chính phủ tương đương 787 USD/tháng, trong khi thu nhập hàng năm của ông Bracklow khoảng 44.000 USD. Thẩm phán cho rằng, bà Bracklow không có quyền được cấp dưỡng vì cuộc hôn nhân không gây ra bất kỳ bất lợi nào về kinh tế cho bà (lý thuyết này được thể hiện rõ nét qua vụ Moge đã phân tích ở trên). Quyết định này được giữ nguyên tại Tòa phúc thẩm. Tuy nhiên, phán quyết này đã bị đảo ngược bởi Tòa án tối cao[7]. Việc cấp dưỡng không đền bù như trong phán quyết này được chứng minh bằng quan điểm coi hôn nhân là mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau, hôn nhân có thể tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau, phức tạp mà khó có thể giải quyết khi ly thân, kết quả là vợ hoặc chồng cũ không phải lúc nào cũng dễ dàng chuyển từ tình trạng hôn nhân hỗ trợ sang sự độc lập tuyệt đối của cuộc sống độc thân[8]. Đánh giá một cách tổng quan, cách tiếp cận dựa trên mô hình này khá giống với khuynh hướng pháp lý về cấp dưỡng giữa vợ và chồng được nhà lập pháp của Việt Nam và Trung Quốc dự liệu. Cụ thể, ở Trung Quốc, nhà làm luật thời nhà Minh định nghĩa nghĩa vụ trợ giúp kinh tế khi ly hôn tại Điều 1090 Bộ luật Dân sự năm 2020, theo đó, khi ly hôn, nếu đời sống một bên khó khăn thì bên kia có khả năng đảm nhiệm phải đưa ra trợ giúp thích đáng. Biện pháp cụ thể do hai bên thỏa thuận, nếu thỏa thuận bất thành thì do Tòa án nhân dân phán quyết[9].

2. Thực tiễn giải quyết yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng tại Tòa án Việt Nam

Xét ở khía cạnh thực tiễn, trong số các trường hợp cấp dưỡng, cấp dưỡng giữa cha mẹ và con là trường hợp diễn ra phổ biến nhất, kế đến là cấp dưỡng giữa vợ và chồng. Trong thực tiễn xét xử, để đánh giá điều kiện về sự khó khăn, túng thiếu của một bên vợ hoặc chồng sau ly hôn, Tòa án thường xem xét đến tình trạng sức khỏe của một bên, tình trạng này làm cho họ gặp nhiều khó khăn hoặc thậm chí không thể lao động tạo thu nhập để trang trải các nhu cầu sinh hoạt thông thường trong cuộc sống. Về mức và phương thức cấp dưỡng, Tòa án xem xét trên cơ sở cân đối với thu nhập thực tế của người cấp dưỡng cũng như tình trạng của bên được cấp dưỡng để đưa ra con số hợp lý.

Về thứ tự ưu tiên, mặc dù pháp luật thực định không chỉ rõ thứ tự ưu tiên thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nhưng dựa thực tiễn xét xử, có thể thấy, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con vẫn được ưu tiên hơn vì quyền lợi mọi mặt của con, đặt trong sự so sánh với nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng.

Một trong những điều kiện để phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn, là khi người phải cấp dưỡng có khả năng thực hiện nghĩa vụ, do vậy trong thực tiễn, việc người cấp dưỡng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ, cũng có thể là căn cứ chấm dứt nghĩa vụ. Theo nhóm tác giả, việc chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng trong trường hợp này là phù hợp với tinh thần của pháp luật vì bản thân người có nghĩa vụ cấp dưỡng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, do đó không có cơ sở để buộc họ tiếp tục thực hiện loại nghĩa vụ mang tính tương trợ giữa những người đã từng là vợ, chồng sau khi hôn nhân của họ đã chấm dứt. Tuy nhiên, pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành của Việt Nam chưa dự liệu đến trường hợp này.

3. Đề xuất, kiến nghị

Theo tác giả, có một số vấn đề pháp lý về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng cần thiết phải được làm rõ, cụ thể:

Thứ nhất, trường hợp người đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng rơi vào hoàn cảnh khó khăn, túng thiếu, có là căn cứ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng.

Trong các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không đề cập đến trường hợp này, tuy nhiên, khoản 6 Điều 118 có quy định “trường hợp khác theo quy định của pháp luật”. Vì vậy, trường hợp người đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng rơi vào hoàn cảnh khó khăn, túng thiếu có thể được xếp vào nhóm căn cứ đó, hơn nữa, dựa vào điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng, nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình thì chúng ta hoàn toàn có thể suy luận ngược lại, nếu bên có nghĩa vụ cấp dưỡng không có khả năng cấp dưỡng thì nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn không thể phát sinh.

Thứ hai, miễn, giảm nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng.

Đây là vấn đề chưa được dự liệu trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, do đó, khi có đủ các điều kiện thì Tòa án sẽ ra phán quyết buộc bên được yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho vợ hoặc chồng của họ.

Về vấn đề này, ngoài căn cứ phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng, trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia còn ghi nhận các trường hợp miễn, giảm nghĩa vụ này. Điều 207 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp ghi nhận, khi người được cấp dưỡng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ đối với người cấp dưỡng thì thẩm phán có thể miễn cho người cấp dưỡng toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ cấp dưỡng[10]. Thậm chí, theo Mục 1579 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Liên bang Đức, yêu cầu cấp dưỡng có thể bị từ chối nếu người có quyền được cấp dưỡng đã phạm một tội hình sự nghiêm trọng hoặc một tội nhẹ cố ý đối với người có nghĩa vụ hoặc đối với người thân của người có nghĩa vụ[11]. Ở nước ta, tục lệ, về phần mình, luôn cho rằng không thể tiếp tục đòi cấp dưỡng người đã có hành vi xâm phạm nghiêm trọng thân thể, danh dự, nhân phẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng[12].

Theo quan điểm của nhóm tác giả, trong thời gian tới, cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu và lưu tâm đến trường hợp một bên vợ hoặc chồng trong quá trình chung sống có hành vi bạo lực gia đình đối với bên chồng hoặc vợ còn lại và đây cũng là nguyên nhân dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được và dẫn đến ly hôn (khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Trường hợp này cần được xem là căn cứ loại trừ quyền được cấp dưỡng của bên đã từng có hành vi bạo lực gia đình với bên còn lại. Dù rằng trên thực tế, nhóm tác giả chưa tìm thấy vụ việc có liên quan đến trường hợp trên, nhưng thiết nghĩ, vấn đề này cần được dự liệu bằng cơ chế pháp lý cụ thể để bản thân các bên vợ, chồng ý thức được những hệ quả pháp lý bất lợi phát sinh do hành vi trái đạo đức của mình từng gây ra với chồng (vợ) mình.

Thứ ba, cần thiết ghi nhận nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân và khi ly hôn.

Khi vợ chồng ly hôn, pháp luật Việt Nam dự liệu nghĩa vụ cấp dưỡng của một bên vợ hoặc chồng đối với bên kia, nhưng khi đang tồn tại quan hệ hôn nhân, pháp luật Việt Nam lại không ghi nhận nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng, nhóm tác giả cho rằng đây là quy định hợp lý, bởi:

(i) Nếu như nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ với con nhằm bảo đảm điều kiện phát triển về mọi mặt của con cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động tạo thu nhập, thì nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn là sự hỗ trợ tạm thời để bên được cấp dưỡng khắc phục những khó khăn, túng thiếu trước mắt. Ở thời điểm cấp dưỡng, giữa các bên không còn nghĩa vụ ràng buộc lẫn nhau về các yếu tố nhân thân và tình cảm, thế nhưng giữa hai chủ thể trong quan hệ cấp dưỡng này đã từng là những người có mối quan hệ đặc biệt - quan hệ vợ chồng, mối quan hệ từ bao đời nay luôn được xem trọng và nhìn nhận như một mối quan hệ thiêng liêng và sâu đậm. Do vậy, dù mục đích hôn nhân không đạt được nhưng khi một bên có khó khăn đặc biệt và bên kia có điều kiện giúp đỡ thì việc cấp dưỡng cần thiết được đặt ra như một việc làm thể hiện lẽ sống, nghĩa tình ở đời.

(ii) Trong thời kỳ hôn nhân, không cần thiết ghi nhận nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng bởi pháp luật đã quy định rõ trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng có nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Đây là những nghĩa vụ hết sức cơ bản, thể hiện tình nghĩa giữa vợ và chồng trong đời sống hôn nhân. Vì vậy, nếu một bên có ốm đau, bệnh tật… thì bên chồng hoặc vợ còn lại đương nhiên phải có nghĩa vụ san sẻ, giúp đỡ nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển của gia đình. Việc bảo đảm các điều kiện sống tối thiểu của vợ chồng có thể được đáp ứng bằng khối tài sản chung của vợ chồng, nếu tài sản chung không đủ thì các bên có nghĩa vụ đóng góp bằng tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên (Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Do vậy, việc đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân không cần thiết, trong bối cảnh pháp luật hiện hành cũng đã có các quy định tương đối rõ nét điều chỉnh mối quan hệ về nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng.

TS. Lê Vĩnh Châu

ThS. Ngô Khánh Tùng

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nguyễn Văn Cừ (chủ biên), Nxb. Tư pháp, tr. 153.

[2]. https://laws-lois.justice.gc.ca/eng/acts/d-3.4/page-3.html#h-173185, truy cập ngày 16/02/2023.

[3]. Jodi Lazare (2018), “Spousal support in Quebec: Resisting the Spousal Support Advisory Guidelines”, Cahiers de Droit 59, (04), p. 948.

[4]. Moge v. Moge (1992) 3 SCR 813, https://scc-csc.lexum.com/scc-csc/scc-csc/en/item/946/index.do, truy cập ngày 11/02/2023.

[5]. Carol Rogerson (2004), “The Canadian Law of Spousal Support”, Family Law Quarterly, Vol. 38, (1), p. 80.

[6]. Lê Khánh Linh và các tác giả khác (2021), Bộ luật Dân sự Trung Quốc 2020 (Bản dịch và lược giải), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 320 - 321.

[7]. Bracklow v. Bracklow (1999), 1 SCR 420, https://scc-csc.lexum.com/scc-csc/scc-csc/en/item/1688/index.do, truy cập ngày 11/02/2023.

[8]. Carol Rogerson (2004), tlđd, p. 90.

[9]. Lê Khánh Linh và các tác giả khác (2021), tlđd, tr. 321.

[10]. Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam (2018), Bản dịch Bộ luật Dân sự Pháp, tr. 61.

[11]. German Civil Code, https://www.gesetze-im-internet.de/englisch_bgb/englisch_bgb.html#p5395, (truy cập ngày 08/02/2023).

[12]. Nguyễn Ngọc Điện (2022), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình (Tập 1: Các quan hệ nhân thân về gia đình), Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 275.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.

Theo dõi chúng tôi trên: