Chủ nhật 10/05/2026 21:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng trong pháp luật hôn nhân và gia đình

Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng trong pháp luật hôn nhân và gia đình

Bài viết phân tích điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng trong pháp luật Việt Nam và so sánh với pháp luật một số nước. Đồng thời, trên cơ sở lý luận và thực tiễn, nhóm tác giả đưa ra đề xuất, kiến nghị cần phải làm rõ một số vấn đề pháp lý liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng này.

1. Quy định pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 3, Điều 107, Điều 115), nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng chỉ có thể được đặt ra khi vợ chồng ly hôn và là nghĩa vụ có điều kiện, còn khi đang là vợ chồng, giữa họ không tồn tại nghĩa vụ cấp dưỡng, mà thay vào đó là nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau (khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn phát sinh khi thỏa mãn các điều kiện như sau:

Thứ nhất, một bên vợ hoặc chồng khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng và đồng thời phải kèm theo lý do chính đáng cho yêu cầu của mình.

Mặc dù nhà làm luật không lý giải cách hiểu về tình trạng khó khăn, túng thiếu nhưng thực tế, chúng ta cần nhìn nhận sự khó khăn, túng thiếu của bên yêu cầu cấp dưỡng phải là những khó khăn xuất phát từ yếu tố khách quan như ốm đau, già yếu, bị tai nạn dẫn đến không có khả năng lao động để kiếm sống. Trong những hoàn cảnh như vậy, việc chu cấp một khoản tiền hoặc tài sản khác cho bên có khó khăn, túng thiếu để họ trang trải cuộc sống là cơ chế hết sức nhân văn của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Để cơ chế pháp lý này được vận dụng đúng với tinh thần tương hỗ lẫn nhau giữa hai chủ thể từng có quan hệ vợ chồng thì việc nhìn nhận một cách khách quan, chuẩn xác nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng “khó khăn, túng thiếu” là điều vô cùng cần thiết. Chính vì lẽ đó mà bên cạnh điều kiện về sự khó khăn, túng thiếu, nhà làm luật yêu cầu bên có khó khăn, túng thiếu phải có lý do chính đáng thì yêu cầu cấp dưỡng của họ mới có khả năng được Tòa án xem xét thụ lý. Đối với những người tuy có khó khăn, túng thiếu thực sự nhưng lại do lười biếng không chịu lao động khi còn khả năng lao động thì dù họ có yêu cầu cũng không được cấp dưỡng. Đối với trường hợp do nghiện ngập, cờ bạc, hoang phí nên lâm vào tình trạng túng thiếu thì cũng không được cấp dưỡng[1].

Thứ hai, bên vợ hoặc chồng được yêu cầu có khả năng để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

Kết hợp điều kiện một bên có khó khăn, túng thiếu và có lý do chính đáng cho yêu cầu cấp dưỡng của mình, pháp luật đặt ra quy định bên được yêu cầu cấp dưỡng phải có khả năng thực tế thì nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn mới phát sinh. Khả năng của người phải cấp dưỡng được xác định dựa trên điều kiện về kinh tế như có thu nhập, việc làm ổn định để chi trả cho các nhu cầu cơ bản của bản thân người phải cấp dưỡng. Ngược lại, thu nhập của người phải cấp dưỡng chỉ đủ đáp ứng các điều kiện cơ bản cho cuộc sống người đó và không có khả năng để cấp dưỡng cho bên kia thì nghĩa vụ cấp dưỡng trong trường hợp này không được đặt ra giữa vợ và chồng. Từ đây có thể thấy, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng là nghĩa vụ có điều kiện và các điều kiện phát sinh nghĩa vụ này được nhà lập pháp dự liệu tương đối khắt khe và chặt chẽ.

Nghiên cứu so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới cho thấy, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ, đó có thể là nghĩa vụ có tính tương trợ, giúp đỡ nhau giữa những người đã từng là vợ chồng trong lúc một bên có khó khăn, túng thiếu. Trên phương diện khác, ở một số quốc gia, nghĩa vụ này phát sinh với mục đích đền bù cho người chồng (vợ) đã “hy sinh” thời gian kiếm tiền để chăm lo cho đời sống gia đình.

Ở Canada, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng được điều chỉnh bởi Đạo luật ly hôn Liên bang. Theo Điều 15.2 (1), Tòa án có thẩm quyền có thể, theo đơn của một bên hoặc cả hai vợ chồng, ban hành lệnh yêu cầu một bên vợ hoặc chồng thanh toán khoản tiền một lần hoặc định kỳ, vì Tòa án cho rằng hợp lý đối với bên còn lại. Lệnh của Tòa án nên: (i) Thừa nhận bất kỳ thuận lợi hoặc bất lợi kinh tế nào đối với vợ hoặc chồng phát sinh từ hôn nhân hoặc sự đổ vỡ của hôn nhân; (ii) Phân chia giữa hai vợ chồng bất kỳ hậu quả tài chính nào phát sinh từ việc chăm sóc con cái trong hôn nhân; (iii) Giải phóng mọi khó khăn kinh tế của vợ hoặc chồng phát sinh từ sự đổ vỡ hôn nhân; (iv) Trong chừng mực nhất định, thúc đẩy khả năng tự cung, tự cấp về kinh tế của mỗi bên vợ chồng trong một khoảng thời gian hợp lý[2]. Trong bối cảnh ngược lại, cách hiểu về nghĩa vụ cấp dưỡng ở bang Quebec có thể không tương ứng với nền lý thuyết về cấp dưỡng giữa vợ và chồng trong Đạo luật ly hôn, điều này bắt nguồn từ thực tế trước khi Chính phủ Liên bang thông qua Đạo luật ly hôn, việc hỗ trợ về kinh tế dưới hình thức cấp dưỡng cho vợ hoặc chồng sau khi ly hôn không tồn tại ở Quebec, bởi với việc chấm dứt quan hệ hôn nhân, mọi nghĩa vụ phát sinh từ hôn nhân đã chấm dứt, những nghĩa vụ hỗ trợ và giúp đỡ nhau sẽ biến mất[3].

Moge v. Moge (1992) là phán quyết tiêu biểu thể hiện việc cấp dưỡng có tính đền bù giữa vợ và chồng sau ly hôn. Theo đó, ông Moge và bà Moge là một cặp vợ chồng nhập cư có thu nhập thấp, hôn nhân giữa họ kéo dài 16 năm và họ ly hôn năm 1973. Ông Moge là thợ hàn, trong khi bà Moge lấy chồng trong bối cảnh trình độ học vấn còn nhiều hạn chế. Ban ngày, bà dành thời gian chăm sóc 03 con và làm công việc bán thời gian vào ban đêm. Khi ly thân, bà Moge được trao quyền nuôi con và ông Moge có nghĩa vụ cấp dưỡng là 150 USD/tháng cho vợ và con mình. Đến năm 1989, ông Moge nộp đơn xin chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng vì tất cả các con đã đến tuổi trưởng thành. Vào thời điểm đó, bà Moge có thu nhập 800 USD/tháng, trong khi thu nhập của ông Moge xấp xỉ 2.000 USD/tháng. Yêu cầu của nguyên đơn đã được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận, trong khi đó, Tòa án cấp phúc thẩm và Tòa án tối cao theo hướng bác yêu cầu này[4]. Trên phương diện học thuật, các lý thuyết đền bù đã thu hút được sự ủng hộ đáng kể khi đưa ra sự biện minh hợp lý, có tính lý thuyết cho nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly hôn trong cấu trúc gia đình hiện đại[5].

Vấn đề đền bù kinh tế khi ly hôn cũng được đặt ra tại Điều 1088 Bộ luật Dân sự Trung Quốc năm 2020, theo đó, nếu một bên vì nuôi dưỡng con, chăm sóc người già, trợ giúp bên kia công tác mà gánh vác nhiều nghĩa vụ hơn thì khi ly hôn có quyền yêu cầu bên kia đền bù, bên kia phải đưa ra đền bù. Biện pháp cụ thể do hai bên thỏa thuận; nếu thỏa thuận bất thành thì do Tòa án nhân dân phán quyết[6].

Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn tiếp tục được mở rộng ở Canada thông qua vụ Bracklow v. Bracklow (1999). Cụ thể, sau khi chung sống được 04 năm, các bên tiến đến hôn nhân năm 1989 rồi chia tay 03 năm sau đó, khi đó, bà Bracklow 43 tuổi. Bà Bracklow ngừng công việc toàn thời gian năm 1989 và đến năm 1991, bà bị ốm nặng, chịu nhiều vấn đề về thể chất và tâm lý khiến bà hoàn toàn mất khả năng lao động, không thể làm việc và phụ thuộc tài chính vào ông Bracklow. Tại thời điểm ly hôn, thu nhập duy nhất của bà Bracklow là khoản trợ cấp khuyết tật từ Chính phủ tương đương 787 USD/tháng, trong khi thu nhập hàng năm của ông Bracklow khoảng 44.000 USD. Thẩm phán cho rằng, bà Bracklow không có quyền được cấp dưỡng vì cuộc hôn nhân không gây ra bất kỳ bất lợi nào về kinh tế cho bà (lý thuyết này được thể hiện rõ nét qua vụ Moge đã phân tích ở trên). Quyết định này được giữ nguyên tại Tòa phúc thẩm. Tuy nhiên, phán quyết này đã bị đảo ngược bởi Tòa án tối cao[7]. Việc cấp dưỡng không đền bù như trong phán quyết này được chứng minh bằng quan điểm coi hôn nhân là mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau, hôn nhân có thể tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau, phức tạp mà khó có thể giải quyết khi ly thân, kết quả là vợ hoặc chồng cũ không phải lúc nào cũng dễ dàng chuyển từ tình trạng hôn nhân hỗ trợ sang sự độc lập tuyệt đối của cuộc sống độc thân[8]. Đánh giá một cách tổng quan, cách tiếp cận dựa trên mô hình này khá giống với khuynh hướng pháp lý về cấp dưỡng giữa vợ và chồng được nhà lập pháp của Việt Nam và Trung Quốc dự liệu. Cụ thể, ở Trung Quốc, nhà làm luật thời nhà Minh định nghĩa nghĩa vụ trợ giúp kinh tế khi ly hôn tại Điều 1090 Bộ luật Dân sự năm 2020, theo đó, khi ly hôn, nếu đời sống một bên khó khăn thì bên kia có khả năng đảm nhiệm phải đưa ra trợ giúp thích đáng. Biện pháp cụ thể do hai bên thỏa thuận, nếu thỏa thuận bất thành thì do Tòa án nhân dân phán quyết[9].

2. Thực tiễn giải quyết yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng tại Tòa án Việt Nam

Xét ở khía cạnh thực tiễn, trong số các trường hợp cấp dưỡng, cấp dưỡng giữa cha mẹ và con là trường hợp diễn ra phổ biến nhất, kế đến là cấp dưỡng giữa vợ và chồng. Trong thực tiễn xét xử, để đánh giá điều kiện về sự khó khăn, túng thiếu của một bên vợ hoặc chồng sau ly hôn, Tòa án thường xem xét đến tình trạng sức khỏe của một bên, tình trạng này làm cho họ gặp nhiều khó khăn hoặc thậm chí không thể lao động tạo thu nhập để trang trải các nhu cầu sinh hoạt thông thường trong cuộc sống. Về mức và phương thức cấp dưỡng, Tòa án xem xét trên cơ sở cân đối với thu nhập thực tế của người cấp dưỡng cũng như tình trạng của bên được cấp dưỡng để đưa ra con số hợp lý.

Về thứ tự ưu tiên, mặc dù pháp luật thực định không chỉ rõ thứ tự ưu tiên thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nhưng dựa thực tiễn xét xử, có thể thấy, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con vẫn được ưu tiên hơn vì quyền lợi mọi mặt của con, đặt trong sự so sánh với nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng.

Một trong những điều kiện để phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn, là khi người phải cấp dưỡng có khả năng thực hiện nghĩa vụ, do vậy trong thực tiễn, việc người cấp dưỡng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ, cũng có thể là căn cứ chấm dứt nghĩa vụ. Theo nhóm tác giả, việc chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng trong trường hợp này là phù hợp với tinh thần của pháp luật vì bản thân người có nghĩa vụ cấp dưỡng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, do đó không có cơ sở để buộc họ tiếp tục thực hiện loại nghĩa vụ mang tính tương trợ giữa những người đã từng là vợ, chồng sau khi hôn nhân của họ đã chấm dứt. Tuy nhiên, pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành của Việt Nam chưa dự liệu đến trường hợp này.

3. Đề xuất, kiến nghị

Theo tác giả, có một số vấn đề pháp lý về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng cần thiết phải được làm rõ, cụ thể:

Thứ nhất, trường hợp người đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng rơi vào hoàn cảnh khó khăn, túng thiếu, có là căn cứ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng.

Trong các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không đề cập đến trường hợp này, tuy nhiên, khoản 6 Điều 118 có quy định “trường hợp khác theo quy định của pháp luật”. Vì vậy, trường hợp người đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng rơi vào hoàn cảnh khó khăn, túng thiếu có thể được xếp vào nhóm căn cứ đó, hơn nữa, dựa vào điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng, nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình thì chúng ta hoàn toàn có thể suy luận ngược lại, nếu bên có nghĩa vụ cấp dưỡng không có khả năng cấp dưỡng thì nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn không thể phát sinh.

Thứ hai, miễn, giảm nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng.

Đây là vấn đề chưa được dự liệu trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, do đó, khi có đủ các điều kiện thì Tòa án sẽ ra phán quyết buộc bên được yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho vợ hoặc chồng của họ.

Về vấn đề này, ngoài căn cứ phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng, trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia còn ghi nhận các trường hợp miễn, giảm nghĩa vụ này. Điều 207 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp ghi nhận, khi người được cấp dưỡng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ đối với người cấp dưỡng thì thẩm phán có thể miễn cho người cấp dưỡng toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ cấp dưỡng[10]. Thậm chí, theo Mục 1579 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Liên bang Đức, yêu cầu cấp dưỡng có thể bị từ chối nếu người có quyền được cấp dưỡng đã phạm một tội hình sự nghiêm trọng hoặc một tội nhẹ cố ý đối với người có nghĩa vụ hoặc đối với người thân của người có nghĩa vụ[11]. Ở nước ta, tục lệ, về phần mình, luôn cho rằng không thể tiếp tục đòi cấp dưỡng người đã có hành vi xâm phạm nghiêm trọng thân thể, danh dự, nhân phẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng[12].

Theo quan điểm của nhóm tác giả, trong thời gian tới, cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu và lưu tâm đến trường hợp một bên vợ hoặc chồng trong quá trình chung sống có hành vi bạo lực gia đình đối với bên chồng hoặc vợ còn lại và đây cũng là nguyên nhân dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được và dẫn đến ly hôn (khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Trường hợp này cần được xem là căn cứ loại trừ quyền được cấp dưỡng của bên đã từng có hành vi bạo lực gia đình với bên còn lại. Dù rằng trên thực tế, nhóm tác giả chưa tìm thấy vụ việc có liên quan đến trường hợp trên, nhưng thiết nghĩ, vấn đề này cần được dự liệu bằng cơ chế pháp lý cụ thể để bản thân các bên vợ, chồng ý thức được những hệ quả pháp lý bất lợi phát sinh do hành vi trái đạo đức của mình từng gây ra với chồng (vợ) mình.

Thứ ba, cần thiết ghi nhận nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân và khi ly hôn.

Khi vợ chồng ly hôn, pháp luật Việt Nam dự liệu nghĩa vụ cấp dưỡng của một bên vợ hoặc chồng đối với bên kia, nhưng khi đang tồn tại quan hệ hôn nhân, pháp luật Việt Nam lại không ghi nhận nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng, nhóm tác giả cho rằng đây là quy định hợp lý, bởi:

(i) Nếu như nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ với con nhằm bảo đảm điều kiện phát triển về mọi mặt của con cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động tạo thu nhập, thì nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn là sự hỗ trợ tạm thời để bên được cấp dưỡng khắc phục những khó khăn, túng thiếu trước mắt. Ở thời điểm cấp dưỡng, giữa các bên không còn nghĩa vụ ràng buộc lẫn nhau về các yếu tố nhân thân và tình cảm, thế nhưng giữa hai chủ thể trong quan hệ cấp dưỡng này đã từng là những người có mối quan hệ đặc biệt - quan hệ vợ chồng, mối quan hệ từ bao đời nay luôn được xem trọng và nhìn nhận như một mối quan hệ thiêng liêng và sâu đậm. Do vậy, dù mục đích hôn nhân không đạt được nhưng khi một bên có khó khăn đặc biệt và bên kia có điều kiện giúp đỡ thì việc cấp dưỡng cần thiết được đặt ra như một việc làm thể hiện lẽ sống, nghĩa tình ở đời.

(ii) Trong thời kỳ hôn nhân, không cần thiết ghi nhận nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng bởi pháp luật đã quy định rõ trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng có nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Đây là những nghĩa vụ hết sức cơ bản, thể hiện tình nghĩa giữa vợ và chồng trong đời sống hôn nhân. Vì vậy, nếu một bên có ốm đau, bệnh tật… thì bên chồng hoặc vợ còn lại đương nhiên phải có nghĩa vụ san sẻ, giúp đỡ nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển của gia đình. Việc bảo đảm các điều kiện sống tối thiểu của vợ chồng có thể được đáp ứng bằng khối tài sản chung của vợ chồng, nếu tài sản chung không đủ thì các bên có nghĩa vụ đóng góp bằng tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên (Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Do vậy, việc đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân không cần thiết, trong bối cảnh pháp luật hiện hành cũng đã có các quy định tương đối rõ nét điều chỉnh mối quan hệ về nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng.

TS. Lê Vĩnh Châu

ThS. Ngô Khánh Tùng

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nguyễn Văn Cừ (chủ biên), Nxb. Tư pháp, tr. 153.

[2]. https://laws-lois.justice.gc.ca/eng/acts/d-3.4/page-3.html#h-173185, truy cập ngày 16/02/2023.

[3]. Jodi Lazare (2018), “Spousal support in Quebec: Resisting the Spousal Support Advisory Guidelines”, Cahiers de Droit 59, (04), p. 948.

[4]. Moge v. Moge (1992) 3 SCR 813, https://scc-csc.lexum.com/scc-csc/scc-csc/en/item/946/index.do, truy cập ngày 11/02/2023.

[5]. Carol Rogerson (2004), “The Canadian Law of Spousal Support”, Family Law Quarterly, Vol. 38, (1), p. 80.

[6]. Lê Khánh Linh và các tác giả khác (2021), Bộ luật Dân sự Trung Quốc 2020 (Bản dịch và lược giải), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 320 - 321.

[7]. Bracklow v. Bracklow (1999), 1 SCR 420, https://scc-csc.lexum.com/scc-csc/scc-csc/en/item/1688/index.do, truy cập ngày 11/02/2023.

[8]. Carol Rogerson (2004), tlđd, p. 90.

[9]. Lê Khánh Linh và các tác giả khác (2021), tlđd, tr. 321.

[10]. Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam (2018), Bản dịch Bộ luật Dân sự Pháp, tr. 61.

[11]. German Civil Code, https://www.gesetze-im-internet.de/englisch_bgb/englisch_bgb.html#p5395, (truy cập ngày 08/02/2023).

[12]. Nguyễn Ngọc Điện (2022), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình (Tập 1: Các quan hệ nhân thân về gia đình), Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 275.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: