Thứ ba 17/03/2026 19:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện các hành vi bị coi là tội phạm tham nhũng theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay

Bài viết phân tích các hành vi tham nhũng dưới góc độ lý luận và luật thực định, chỉ ra một số bất cập trong quy định của pháp luật về xác định hành vi tham nhũng, các loại trách nhiệm pháp lý áp dụng với hành vi tham nhũng. Từ đó, tác giả đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

1. Đặt vấn đề

Hoàn thiện pháp luật phòng, chống tham nhũng trước hết tập trung vào việc xác định đúng hành vi nào là hành vi tham nhũng. Mặc dù, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã xác định cụ thể các hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước (12 hành vi) và hành vi tham nhũng ngoài khu vực nhà nước (03 hành vi). Tuy nhiên, giữa Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) chưa có sự thống nhất trong việc xác định hành vi tham nhũng, tội phạm tham nhũng. Ngoài ra, việc xác định các loại trách nhiệm pháp lý với các hành vi tham nhũng còn tồn tại những bất cập nhất định, chưa thực sự phù hợp với thực tiễn. Do đó, việc nghiên cứu, đề xuất giải pháp để thống nhất cách xác định hành vi tham nhũng và xác định các loại trách nhiệm pháp lý tương ứng cho các hành vi đó là thực sự cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

2. Khái quát về hành vi tham nhũng

Theo Từ điển tiếng Việt, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân và lấy của dân[1]. Với cách định nghĩa này, tham nhũng được coi là những hành vi sai trái mà chủ thể thường là cán bộ nhà nước. Ở xã hội hiện đại, hành vi tham nhũng sẽ ngày càng tinh vi hơn, số lượng tài sản mà người tham nhũng chiếm dụng nhiều hơn. Do đó, pháp luật nhiều quốc gia đã sớm có các quy định về xử lý người có hành vi tham nhũng. Pháp luật Việt Nam thời phong kiến cũng ghi nhận những nội dung này. Đặc biệt, sau khi Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (sau năm 1986) thì Đảng và Nhà nước đã lường trước được rằng, một trong những mặt trái khi phát triển kinh tế thị trường là tình trạng tham nhũng có thể phức tạp làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước. Do đó, năm 1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Phòng, chống tham nhũng là văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt đầu tiên về phòng, chống tham nhũng. Sau đó, lần lượt là sự ra đời của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 (đang có hiệu lực thi hành). Sự ra đời của những văn bản quy phạm pháp luật này đã thể hiện sự kiên quyết của Đảng và Nhà nước, đồng thời tạo cơ sở ban đầu trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Trong các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng nêu trên thì việc xác định hành vi nào là hành vi tham nhũng luôn được các nhà làm luật quan tâm xác định ngay từ những điều đầu tiên của văn bản. Trải qua khoảng thời gian xây dựng và hoàn thiện, đến nay, khái niệm tham nhũng đã được định nghĩa một cách khái quát hơn. Cụ thể, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi (Điều 1 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018). Như vậy, tham nhũng là hành vi vi phạm pháp luật có đủ 04 yếu tố cấu thành: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể, khách thể[2]. Tuy nhiên, mỗi nhóm hành vi vi phạm pháp luật sẽ có những đặc trưng riêng và hành vi tham nhũng cũng vậy. Những đặc trưng này là căn cứ để phân loại và xác định mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật nói chung, hành vi tham nhũng nói riêng.

- Mặt khách quan của hành vi tham nhũng: Hành vi trái pháp luật luôn phải là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Tức là, nhờ có vị trí công tác, chức vụ, quyền hạn đó mà chủ thể có thể thực hiện được hành vi và ngược lại, nếu không có vị trí công tác, chức vụ, quyền hạn đó thì chủ thể không thể thực hiện được hành vi.

- Mặt chủ quan của hành vi tham nhũng: Chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng với lỗi cố ý (có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp). Động cơ của tham nhũng là vụ lợi, tức là, động lực thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng là những lợi ích của bản thân, gia đình, người thân, người quen... (không phải vì lợi ích công cộng, lợi ích nhân dân). Do đó, trong nhiều trường hợp, chủ thể tham nhũng phải nỗ lực để thực hiện bằng được hành vi nhằm đạt được mục đích đặt ra.

- Chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng: Là chủ thể có chức vụ, quyền hạn[3]. Người có chức vụ, quyền hạn ở đây không chỉ bó hẹp trong phạm vi là họ làm lãnh đạo, thủ trưởng ở một cơ quan, đơn vị công lập nào đó mà khái niệm người có chức vụ, quyền hạn cần hiểu theo nghĩa rộng. Thực chất, bất cứ ai trong xã hội mà có một công việc để làm và có thể lợi dụng vị trí công việc đó để vụ lợi thì đều có thể trở thành chủ thể của hành vi tham nhũng.

- Khách thể của hành vi tham nhũng: Hành vi tham nhũng làm sai lệch hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức. Cơ quan nhà nước, tổ chức được thành lập nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cụ thể nhưng vì chủ thể tham nhũng mà các chức năng đó không còn đúng đắn. Thông qua đó, hành vi tham nhũng gây tổn hại đến lợi ích của Nhà nước, Nhân dân, cá nhân, tổ chức trong xã hội.

3. Quy định pháp luật về xác định hành vi tham nhũng, trách nhiệm pháp lý áp dụng với các hành vi tham nhũng và một số bất cập

3.1. Xác định hành vi tham nhũng

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 ra đời trong điều kiện Đảng và Nhà nước đang đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Do đó, nhiều điểm bất cập của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn. Một trong những điểm mới của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đó là bổ sung các hành vi tham nhũng ngoài khu vực nhà nước. Do đó, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 không chỉ xác định 12 hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước mà còn bổ sung 03 hành vi tham nhũng ngoài khu vực nhà nước. Cụ thể: (i) Các hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước thực hiện, bao gồm: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác vì vụ lợi; đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản công vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi; (ii) Các hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước thực hiện, bao gồm: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi.

Việc mở rộng hành vi tham nhũng như Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 thống nhất với quan điểm, khái niệm tham nhũng nói chung, bởi vì, tham nhũng không chỉ xảy ra trong khu vực nhà nước mà còn xảy ra ở ngoài khu vực nhà nước. Đồng thời, việc mở rộng quy định về hành vi tham nhũng giúp cho quá trình đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiệu quả hơn trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Bởi vì, từ Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định, nền kinh tế của Việt Nam là nền kinh tế đa thành phần, các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật.

Tội phạm tham nhũng được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 bao gồm 07 tội như sau: Tội tham ô tài sản (Điều 353); Tội nhận hối lộ (Điều 354); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358); Tội giả mạo trong công tác (Điều 359). Điều này chứng minh không phải hành vi tham nhũng nào cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Bên cạnh đó, hành vi tham nhũng được xác định trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 có sự khác biệt so với Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo đó, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 xác định hành vi “đưa hối lộ, môi giới đưa hối lộ” là hành vi tham nhũng nhưng theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì đó là tội phạm khác về chức vụ (không phải tội phạm tham nhũng). Đồng thời, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 xác định hành vi “không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi” là hành vi tham nhũng nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 xác định hành vi “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” (có nội hàm tương tự) là tội về chức vụ khác. Có sự khác biệt này là do Bộ luật Hình sự năm 2015 được ban hành tại thời điểm Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 đang có hiệu lực thi hành nên những tội phạm tham nhũng được xác định theo các hành vi tham nhũng trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005. Sự khác biệt này chưa được sửa đổi, bổ sung làm cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi tham nhũng gặp khó khăn.

Có thể thấy, Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa xác định đầy đủ các hành vi tham nhũng, bao gồm: (i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản công vì vụ lợi; (ii) Nhũng nhiễu vì vụ lợi; (iii) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.

3.2. Xác định trách nhiệm pháp lý áp dụng với các hành vi tham nhũng

Khi thực hiện hành vi tham nhũng, chủ thể thực hiện hành vi phải gánh chịu các hậu quả pháp lý bất lợi. Theo đó, người có hành vi tham nhũng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 92 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018). Vấn đề xử phạt vi phạm hành chính được quy định tập trung trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính của từng lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên, hiện nay, chưa có Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi tham nhũng. Do đó, đối với những hành vi tham nhũng chưa nghiêm trọng đến mức bị xử lý hình sự thì không thể xử phạt vi phạm hành chính mà chỉ bị kỷ luật. Tuy nhiên, đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà nước thì có thể kỷ luật theo quy định của pháp luật về công chức, viên chức hoặc đối với người lao động thì có thể xử lý kỷ luật theo pháp luật lao động, nhưng nếu chủ thể thực hiện hành vi không thuộc hai trường hợp nêu trên thì khó có thể kỷ luật họ. Trong khi đó, trong cấu thành của nhiều tội phạm tham nhũng có dấu hiệu “đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm” (khoản 1 Điều 353, khoản 1 Điều 354, khoản 1 Điều 355, khoản 1 Điều 358 Bộ luật Hình sự năm 2015). Do đó, những quy định về xây dựng trách nhiệm pháp lý cho chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng như hiện nay chưa bao quát được hết các trường hợp thực tế.

Ngoài ra, những quy định về kỷ luật chủ thể có hành vi tham nhũng còn nhiều điểm bất cập. Đối với chủ thể là cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, việc kỷ luật vì có quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật lâu dài nên chưa có nhiều khó khăn. Tuy nhiên, đối với trường hợp hành vi tham nhũng ngoài khu vực nhà nước thì quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật còn mới nên chưa có nhiều tiền lệ. Trong khi đó, Bộ luật Lao động năm 2019 chỉ quy định áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải đối với người lao động thực hiện hành vi tham ô tài sản (khoản 1 Điều 125) mà chưa có quy định về xử lý kỷ luật người lao động thực hiện các hành vi tham nhũng khác.

Bên cạnh đó, hiện nay, việc xử lý tài sản tham nhũng cũng rất khó khăn, bởi vì, các quy định về vấn đề này còn nhiều bất cập, như: Chưa có cách hiểu thống nhất về khái niệm tài sản tham nhũng; quy định về xử lý tài sản tham nhũng tại Điều 93 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 chỉ mang tính chất định hướng, chưa có hướng dẫn cụ thể; Luật chưa quy định về chi phí xác minh tài sản tham nhũng; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định đặc thù về thu hồi tài sản tham nhũng mà việc thu hồi tài sản tham nhũng được áp dụng như đối với các trường hợp thu hồi tài sản khác; chưa phát huy vai trò của Tòa án nhân dân trong xác minh nguồn gốc của tài sản trong vụ án về tham nhũng, trong khi đó, Tòa án nhân dân là cơ quan ở địa phương sẽ nắm bắt tình hình về tài sản tốt hơn so với các cơ quan nhà nước ở trung ương[4]. Những khó khăn này làm cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền lúng túng trong việc xử lý tài sản tham nhũng. Chính vì vậy, việc giải quyết các vụ án tham nhũng kéo dài, giảm hiệu quả, tạo cơ hội cho chủ thể tham nhũng có thể tẩu tán tài sản.

4. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác định hành vi tham nhũng và xây dựng các loại trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi tham nhũng

Việc hoàn thiện pháp luật về xác định hành vi tham nhũng và xây dựng các loại trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi tham nhũng có ý nghĩa rất lớn cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Bởi vì, việc xác định chính xác hành vi nào là hành vi tham nhũng là căn cứ ban đầu để quy định trách nhiệm pháp lý và truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng. Tác giả đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này như sau:

- Sửa đổi, bổ sung quy định về các tội phạm tham nhũng trong Bộ luật Hình sự năm 2015 dựa trên cơ sở quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018. Theo đó, hành vi “đưa hối lộ, môi giới đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi” và hành vi “không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi” được xác định là tội phạm tham nhũng (mà không phải thuộc nhóm tội khác về chức vụ như hiện nay). Ngoài ra, một số hành vi tham nhũng chưa bị coi là tội phạm cần được nghiên cứu để đưa vào Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, bao gồm: (i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản công vì vụ lợi; (ii) Nhũng nhiễu vì vụ lợi; (iii) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.

- Xây dựng Nghị định xử phạt vi phạm hành chính hành vi tham nhũng, trong đó, nội dung chủ yếu là xác định hành vi tham nhũng bị xử phạt vi phạm hành chính và hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả và thẩm quyền xử phạt với hành vi đó. Việc xây dựng Nghị định về vấn đề này cần phải kết hợp hài hòa với quá trình sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo đó, những hành vi tham nhũng có tính chất chưa đủ nghiêm trọng để bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử phạt vi phạm hành chính. Đồng thời, trong mô tả cấu thành tội phạm tham nhũng cần bổ sung dấu hiệu “đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”.

- Rà soát, hoàn thiện các quy định về kỷ luật chủ thể có hành vi tham nhũng. Theo đó, cần tập trung hoàn thiện các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về xử lý kỷ luật người lao động có các hành vi tham nhũng. Theo tác giả, Bộ luật Lao động năm 2019 cần chia các mức độ kỷ luật người lao động dựa trên tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi tham nhũng. Theo đó, nếu người lao động thực hiện hành vi tham nhũng đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì áp dụng trách nhiệm kỷ luật lao động sa thải. Nếu người lao động thực hiện hành vi tham nhũng mà bị xử phạt hành chính thì áp dụng hình thức xử lý kỷ luật lao động nhẹ hơn (khiển trách; kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng; cách chức).

- Tập trung hoàn thiện các quy định về xử lý tài sản tham nhũng ở các vấn đề sau đây: Thống nhất khái niệm tài sản tham nhũng; cụ thể hóa Điều 93 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018; quy định phí xác minh tài sản tham nhũng do chủ thể tham nhũng phải chịu; xây dựng cơ chế thu hồi tài sản tham nhũng dựa trên đặc thù của loại tài sản này; trao thẩm quyền cho Tòa án nhân dân trong xác minh nguồn gốc của tài sản trong vụ án tham nhũng./.

Nguyễn Thị Bình

Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

[1]. Viện Ngôn ngữ học (2004), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 910.

[2]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb. Tư pháp, tr. 422 - 426.

[3]. Xem thêm: Khoản 2 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[4]. TS. Nguyễn Thái Cương, TS. Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Đặng Quang Huy (2023), Hoàn thiện chế định xử lí tài sản tham nhũng theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 06 (478) - tháng 3, tr. 38 - 43.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 406), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: