Thứ năm 12/03/2026 07:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện hành vi cấu thành tội cướp tài sản hay tội cưỡng đoạt tài sản - Góc nhìn từ vụ án cụ thể

Bài viết đưa ra một vụ án cụ thể liên quan đến tội xâm phạm sở hữu, từ đó, phân tích các quan điểm xoay quanh vấn đề định tội danh cướp tài sản hay cưỡng đoạt tài sản và quan điểm của tác giả về nhận diện hành vi khách quan, định tội danh trong vụ án này.

1. Phân biệt hành vi khách quan giữa tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản

Trên thực tế, tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) thường chỉ bị nhầm lẫn với tội cưỡng đoạt tài sản được quy định tại Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong trường hợp người phạm tội có hành vi “đe dọa dùng vũ lực”. Vậy, vấn đề đặt ra là, đối với hành vi đe dọa dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản, trường hợp nào thì cấu thành tội cướp tài sản, còn trường hợp nào chỉ cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản?

Có thể thấy, mặc dù hành vi “đe dọa dùng vũ lực” ở tội cướp tài sản và cưỡng đoạt tài sản đều là hành vi uy hiếp về tinh thần đối với người bị tấn công với ý thức làm cho người bị tấn công lo sợ sẽ bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe nếu không để cho người phạm tội chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên, hành vi “đe dọa dùng vũ lực” ở tội cướp tài sản là đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, tức là cường độ và sức mãnh liệt của lời đe dọa đến mức làm cho người bị tấn công bị tê liệt ý chí phản kháng, không còn có khả năng lựa chọn phương án hành vi phù hợp để chống trả lại sự tấn công của người phạm tội, còn hành vi “đe dọa dùng vũ lực” ở tội cưỡng đoạt tài sản là đe dọa sẽ dùng vũ lực. Giữa hành vi đe dọa và thực hiện lời đe dọa trong tội cưỡng đoạt tài sản có một khoảng cách thời gian nhất định. Người phạm tội không có ý thức dùng ngay tức khắc sức mạnh thể chất hoặc vật chất đối với chủ sở hữu tài sản hoặc đối với người thân thích của họ, người bị đe dọa cũng nhận thức được là người phạm tội không dùng vũ lực ngay lập tức nếu không đưa tài sản cho người phạm tội chiếm đoạt, tức là mức độ mãnh liệt của lời đe dọa dùng vũ lực không đến mức làm tê liệt tự do ý chí của người bị đe dọa, họ vẫn có thời gian để suy nghĩ, cân nhắc lựa chọn những phương án hành vi khác nhau để bảo vệ tài sản của mình.

Bên cạnh đó, “hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được” được mô tả tại Điều 168 về tội cướp tài sản là những hành vi như cho người bị tấn công uống thuốc ngủ, thuốc mê nhằm chiếm đoạt tài sản. Người bị tấn công không nhận thức được sự việc đang xảy ra hoặc có thể biết sự việc xảy ra nhưng bị tê liệt tinh thần, mất tự do ý chí không thể thực hiện được hành vi chống trả việc chiếm đoạt tài sản của người phạm tội[1]. Còn “thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điều 170 về tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ gây thiệt hại về tài sản, nhân phẩm, danh dự, uy tín cho người đang quản lý tài sản hoặc người thân thích của họ nếu không giao tài sản cho người phạm tội. Cũng như hành vi “đe dọa sẽ dùng vũ lực”, hành vi khác uy hiếp tinh thần người khác không làm người bị đe dọa bị tê liệt tinh thần, họ không bị lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Người bị đe dọa vẫn còn có thời gian nhất định để lựa chọn cách xử sự phù hợp như chuẩn bị các điều kiện ngăn cản hoặc báo cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của người đe dọa. Người phạm tội có thể sử dụng bất cứ thủ đoạn nào miễn là có thể khống chế được ý chí, tinh thần của người bị đe dọa, làm cho người bị đe dọa có căn cứ lo sợ lời đe dọa được thực hiện trên thực tế nên buộc phải trao tài sản cho người phạm tội[2].

Ngoài ra, để phân biệt trường hợp nào là đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc và trường hợp nào không đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc thì phải căn cứ vào không gian, thời gian xảy ra vụ án, nếu trong không gian, thời gian đó mà ai cũng quá sợ và phải giao tài sản cho người phạm tội thì phải định tội là cướp tài sản dù hành vi đe dọa không quyết liệt nhưng cũng làm cho người bị hại lâm vào tình trạng không thể chống cự được.

Như vậy, dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt hai tội cướp tài sản và cưỡng đoạt tài sản là người bị hại có lâm vào tình trạng không thể chống cự được không. Dấu hiệu này hoàn toàn tùy thuộc vào tình hình thực tế để đánh giá[3].

2. Vụ án cụ thể liên quan đến tội xâm phạm sở hữu

2.1. Nội dung vụ án

Ngày 26/11/2019, anh T1 (sinh năm 2000) vay của anh T (sinh năm 1994) số tiền 10.000.000 đồng và hẹn đến ngày 26/12/2019 thì trả hết nợ. Đến tháng 4/2020, do T1 chậm đóng tiền lãi nên T hẹn gặp T1 đến quán bida cà phê để giải quyết việc nợ tiền.

Khoảng 14h30 ngày 09/5/2020, T1 điều khiển xe mô tô trị giá 3.900.000 đồng (xe T1 mượn của bà V) đến gặp T. Do T1 không có tiền trả và xin trả trước 400.000 đồng tiền lãi và khất nợ đến ngày 18/5/2020 nhưng T không đồng ý, sau đó, T bực tức dùng vũ lực (tay, chân và cây cơ bida) đánh T1. Vì sợ hãi nên T1 tiếp tục xin T cho thời gian để xoay tiền trả nhưng T không đồng ý và tiếp tục dùng cây cơ bida đánh vào chân T1 và sau đó, yêu cầu T1 đi ra khu phía sau của quán. T cũng yêu cầu T3 (là nhân viên của quán) ra dắt xe mô tô vào vị trí để xe của quán.

Tại khu bán cà phê phía sau của quán lúc này không có khách, T tiếp tục dùng tay, chân đánh vào người T1, ép T1 phải trả cả tiền gốc và lãi cho T nhưng T1 vẫn xin khất nợ thì T yêu cầu T1 viết giấy để lại chiếc xe mô tô, cho T1 về xoay tiền, đến tối mang lên trả tiền T rồi lấy xe về. Tuy nhiên, T1 nói với T rằng, chiếc xe mô tô là xe mượn, không phải của mình và xin T cho mang xe mô tô về để xoay tiền trả nhưng T không đồng ý. Do bị T dùng cơ bida, tay và chân đánh liên tục vào người trước đó nên T1 sợ hãi, không thể chống cự lại được buộc phải viết giấy theo như nội dung T nói, để lại xe mô tô cho T. Vụ án sau đó bị phát hiện.

2.2. Một số quan điểm về định tội danh

Quan điểm thứ nhất cho rằng, hành vi của T cấu thành tội cướp tài sản (Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015):

- Về mặt khách quan: Hành vi của T được xác định là “hành vi dùng vũ lực”. Do T đã dùng tay và chân đánh liên tục vào người nên T1 không thể chống cự lại được buộc phải viết giấy theo nội dung T nói và để lại xe mô tô. Việc dùng vũ lực này nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản và được thực hiện công khai.

Xét đến hoàn cảnh lúc xảy ra vụ án, mặc dù, vẫn có người biết được (T3) việc T đánh T1 nhưng không có dấu hiệu can ngăn hành vi đánh người, không những thế, T3 còn dắt xe của bị hại vào phía sau của quán theo lời của T, chính vì vậy, T1 không thể chống cự lại việc chiếm đoạt chiếc xe mô tô.

- Hành vi của T không cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản: Hành vi khách quan của tội cưỡng đoạt tài sản được mô tả tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015 là “đe dọa sẽ dùng vũ lực” hoặc “dùng thủ đoạn khác nhằm uy hiếp tinh thần” nhằm chiếm đoạt tài sản. Trong vụ án này, T đã dùng vũ lực đối với nạn nhân nên hành vi của T không phải là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực. Bên cạnh đó, T cũng không có dùng thủ đoạn khác nhằm uy hiếp tinh thần nạn nhân nên không thể cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản. “Hành vi khác uy hiếp tinh thần” là hành vi đe dọa gây thiệt hại về tài sản, danh dự, uy tín bằng bất cứ thủ đoạn nào nếu người bị uy hiếp không thỏa mãn yêu cầu chiếm đoạt tài sản của người phạm tội. Hành vi uy hiếp tinh thần có thể được thực hiện bằng một số thủ đoạn ví dụ như: Đe dọa hủy hoại tài sản của người bị đe dọa; đe dọa tố giác hành vi phạm pháp hoặc hành vi vi phạm đạo đức của người bị đe dọa; đe dọa loan tin về đời tư... của người bị đe dọa[4].

Ngoài ra, theo hướng dẫn tại Mục 2 Công văn số 233/TANDTC-PC ngày 01/10/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về trao đổi nghiệp vụ (Công văn số 233/TANDTC-PC): “Trường hợp người thực hiện 01 hành vi nhưng thỏa mãn dấu hiệu cấu thành của nhiều tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nặng hơn”. Mặt khác, tội cướp tài sản (Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015) nặng hơn tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015) và với những phân tích nêu trên nên hành vi của T cấu thành tội cướp tài sản (Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015) là phản ánh đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội.

Quan điểm thứ hai cho rằng, hành vi của T cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015):

- Về mặt khách quan: T thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đối với T1 bằng hình thức cưỡng bức tinh thần (do bị đánh trước đó) và bị lấy xe mô tô để bảo đảm cho số tiền 10.000.000 đồng. Do bị T dùng cơ bida, tay và chân đánh liên tục vào người nên T1 sợ hãi và buộc phải viết giấy nợ theo như nội dung T yêu cầu, sau đó để lại xe mô tô cho T. Vì vậy, hành vi của T được xem là dùng “thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Mục đích phạm tội: Hành vi đánh T1 là do T1 không trả nợ cho T. T yêu cầu T1 viết giấy mượn tiền và cầm xe mô tô là để bảo đảm cho việc sẽ lấy được số tiền 10.000.000 đồng mà T1 đã vay của T trước đó. Vì vậy, hành vi của T cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015.

3. Một số nhận xét, đánh giá

Với các quan điểm xoay quanh việc định tội danh trong vụ án nêu trên, tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai: Hành vi của T cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015), mà không cấu thành tội cướp tài sản (Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015), bởi lẽ:

Thứ nhất, về hành vi khách quan: Hành vi dùng vũ lực đánh T1 của T không mang tính mãnh liệt và tức thời, chưa đến mức làm tê liệt ý chí của T1, khi T đánh T1 thì T1 hoàn toàn có điều kiện để đối phó và có thể kháng cự được nhưng chỉ hạn chế ở chỗ, do lo sợ mà T1 đã giao tài sản cho T. Hơn nữa, trong quán cà phê lúc này vẫn có người (T3) biết được việc T dùng vũ lực đánh T1.

Thứ hai, mục đích phạm tội: Hành vi dùng vũ lực đánh T1 của T là nhằm mục đích đòi tiền từ T1 chứ không nhằm mục đích chiếm đoạt ngay tài sản là chiếc xe mô tô T1 đang sử dụng, đồng thời, trên người T1 lúc đó có số tiền 400.000 đồng nhưng T không chiếm đoạt, điều đó đã thể hiện rằng, T chỉ muốn T1 viết giấy nhận nợ (chính xác số tiền đã nợ) và giữ lại xe của T1 để bảo đảm cho khoản vay, khi nào T1 trả nợ xong cho T thì T trả lại xe cho T1.

Do đó, hành vi của T có đầy đủ yếu tố cấu thành của tội cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Thứ ba, không thể áp dụng Công văn số 233/TANDTC-PC trong vụ án này: Mục 2 Công văn số 233/TANDTC-PC hướng dẫn: “Trường hợp người thực hiện 01 hành vi nhưng thỏa mãn dấu hiệu cấu thành của nhiều tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nặng hơn”.

Nghiên cứu ví dụ minh họa của Công văn: “Nguyễn Văn A và đồng phạm dùng xăng đốt cháy một số xe ô tô đang để trong sân của Công ty B, với mục đích nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng. Hành vi của A và đồng phạm vừa có dấu hiệu cấu thành tội khủng bố quy định tại Điều 299 Bộ luật Hình sự, vừa có dấu hiệu cấu thành tội hủy hoại tài sản quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự. Trong trường hợp này, A và đồng phạm chỉ thực hiện 01 hành vi (đốt cháy một số xe ô tô), nên nếu hành vi này có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì A và đồng phạm cũng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nặng hơn là tội khủng bố quy định tại Điều 299 Bộ luật Hình sự năm 2015”[5]. Theo lý giải của Công văn này, có thể thấy, giữa cấu thành của tội khủng bố (Điều 299 Bộ luật Hình sự năm 2015) và tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015) là cặp cấu thành tội phạm có quan hệ chung, riêng nên theo nguyên tắc định tội danh, thì quy phạm riêng được áp dụng[6]. Vì vậy, việc hướng định tội danh trong ví dụ minh họa của Công văn số 233/TANDTC-PC là hợp lý khi có sự cạnh tranh giữa quy phạm chung và quy phạm riêng.

Quay trở lại với vụ án đang phân tích, giữa cấu thành của tội cướp tài sản (Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015) và tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015) không phải là cặp cấu thành tội phạm có quan hệ chung, riêng nên không thể áp dụng Mục 2 Công văn số 233/TANDTC-PC trong trường hợp này.

Tóm lại, qua nhận diện hành vi cấu thành tội cướp tài sản hay tội cưỡng đoạt tài sản dưới góc nhìn từ vụ án cụ thể nêu trên, có thể thấy, định tội danh đúng chính là tiền đề cho việc quyết định hình phạt được chính xác, bảo đảm việc xét xử đúng người, đúng tội. Hơn nữa, việc định tội danh đúng còn là sự thể hiện hoạt động có hiệu quả, ý thức tuân thủ pháp luật triệt để cũng như ý thức trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp của các cơ quan có thẩm quyền, từ đó góp phần nâng cao uy tín, chất lượng hoạt động của các cơ quan này cũng như hỗ trợ cho việc củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Lê Bá Đức

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Viện Nghiên khoa học pháp lý (1993), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, tr. 155 - 156.

[2]. Trịnh Quốc Toản (Chủ biên, 2022), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần Các tội phạm (Quyển 1), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 286.

[3]. Đinh Văn Quế (2021), “Phân biệt một số tội phạm có hành vi chiếm đoạt tài sản”, Tạp chí Kiểm sát, số 03, tr. 20.

[4]. Nguyễn Mai Bộ (2022), Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nxb. Tư pháp, tr. 73.

[5]. Điều 299 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nào nhằm gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng mà xâm phạm tính mạng của người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: ...”.

Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ...”.

[6]. Võ Khánh Vinh, Giáo trình Lý luận chung về định tội danh, Nxb. Đại học Huế, năm 2018, tr. 197.

Nguyễn Văn Huy, Một số vấn đề về hành vi thỏa mãn cấu thành nhiều tội, https://tapchitoaan.vn/mot-so-van-de-ve-hanh-vi-thoa-man-cau-thanh-nhieu-toi, truy cập ngày 15/5/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: