Thứ tư 18/03/2026 02:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

Với vai trò và ý nghĩa to lớn của mình, quyền sở hữu trí tuệ ngày càng được khai thác mạnh mẽ thông qua các hoạt động thương mại. Bài viết dưới đây chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ, qua đó, giúp nhận diện đúng bản chất của hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ.


Đã từ lâu, vai trò to lớn của quyền sở hữu trí tuệ đã được nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận. Quyền sở hữu trí tuệ đã và đang ngày càng khẳng định vai trò là yếu tố cơ bản tạo nên giá trị của các công ty và tính cạnh tranh của các công ty trên thị trường. Không chỉ vậy, quyền sở hữu trí tuệ còn được xem là công cụ đắc lực để phát triển kinh tế của các quốc gia. Hiện nay, ở Việt Nam, nhu cầu góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ đang ngày càng có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, do sự tương đồng giữa các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ nên hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ thường bị nhẫm lẫn với các hoạt động thương mại khác của quyền sở hữu trí tuệ như li-xăng quyền sở hữu trí tuệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ , nhượng quyền thương mại…

1. Nhận diện hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ

Góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ có thể hiểu là sự thỏa thuận của các bên, theo đó, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ đưa các quyền sở hữu trí tuệ thuộc sở hữu của mình vào góp vốn trong phạm vi thời gian và không gian nhất định để đổi lấy quyền sở hữu đối với công ty. Góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ thường có ba hình thức:

Thứ nhất, cá nhân, tổ chức sử dụng quyền sở hữu trí tuệ của mình để góp vốn thành lập công ty trong phạm vi quốc gia. Đây là hình thức đang có xu hướng tăng lên hiện nay. Thay vì việc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, nhiều cá nhân, tổ chức không thể tự mình khai thác các quyền sở hữu trí tuệ hay khai thác không có hiệu quả loại tài sản này thường tìm đến một hình thức đầu tư có tính lâu dài và có lợi hơn đó là sử dụng loại tài sản này để góp vốn thành lập công ty. Hình thức này không chỉ giúp chủ thể góp vốn khai thác được tiềm năng lâu dài của loại tài sản này, đồng thời có thể giúp cho tài sản của mình có cơ hội để phát triển hơn. Sự phát triển và gia tăng giá trị của loại tài sản này chính là sự gia tăng lợi nhuận cho chủ thể góp vốn.

Thứ hai, góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ để thành lập công ty liên doanh. Công ty liên doanh có thể hiểu là một hình thức của hiệp hội kinh doanh giữa hai hoặc nhiều tổ chức độc lập để thực hiện một dự án chung hoặc để đạt được một mục tiêu nhất định. Một trong những lý do chính cho hoạt động liên doanh là mở rộng phạm vi kinh doanh sang một khu vực địa lý mới, đưa ra các loại sản phẩm mới và thiết lập quan hệ đối tác chiến lược trong các thị trường song song. Hình thức này được xem là khá hấp dẫn đối với các bên liên doanh. Đây được xem là một biện pháp hữu hiệu và cần thiết để thâm nhập vào thị trường mới, đặc biệt là những thị trường mà có sự hạn chế đầu tư từ bên ngoài. Khi liên doanh, vai trò của các thành viên được xác định rõ ràng thông qua tỷ lệ góp vốn. Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy liên doanh có tỷ lệ thất bại tương đối cao nhưng đổi lại các bên tham gia lại có được những lợi thế nhất định.

Thứ ba, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn thành lập công ty spin-off. Đây là loại hình công ty phổ biến ở nước ngoài nhưng còn khá hiếm ở Việt Nam. Loại hình công ty này thường bắt gặp ở các quốc gia có nền khoa học phát triển. Công ty công nghệ spin-off được hiểu là các công ty công nghệ triển khai các kết quả nghiên cứu ứng dụng của các nhà khoa học với hình thức đồng sở hữu của cơ sở nghiên cứu và nhà nghiên cứu và được quản lý độc lập với cơ sở nghiên cứu[1]. Đặc điểm của loại hình này đó là quy mô khởi đầu nhỏ và vừa với số vốn không quá lớn. Vì vậy, mô hình này vừa giúp tận dụng được cơ sở hạ tầng từ chính các trung tâm nghiên cứu, tận dụng được nguồn nhân lực chất lượng cao được đào tạo từ đây. Đồng thời, với quy mô nhỏ và vừa nên khả năng thu hồi vốn nhanh do chi phí đầu tư xây dựng và quản trị thấp hơn.

2. So sánh hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ với hoạt động li-xăng quyền sở hữu trí tuệ và nhượng quyền thương mại

Li-xăng quyền sở hữu trí tuệ là việc chủ sở hữu cho phép các tổ chức, cá nhân khác được phép sử dụng các quyền nhân thân và quyền tài sản thuộc sở hữu của mình trong một khoảng thời gian nhất định. Li-xăng quyền sở hữu trí tuệ là một trong những hình thức khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ phổ biến.

Còn nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó, bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện nhất định[2]. Nhượng quyền thương mại được coi là hình thức hữu hiệu để các bên nhượng quyền mở rộng hoạt động kinh doanh của họ. Ưu điểm chính của hình thức này đó là thông qua hoạt động nhượng quyền, bên nhượng quyền sẽ xây dựng được sự hiện diện toàn cầu một cách nhanh chóng với chi phí và rủi ro thấp.

Xét về mức độ phổ biến, hoạt động sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn thành lập công ty không phổ biến như hoạt động li-xăng quyền sở hữu trí tuệ hay nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, trên thực tế, những hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ này lại rất dễ bị nhầm lẫn. Điều này xuất phát từ điểm chung giữa các hoạt động này đó chính là chuyển quyền để nhận những lợi ích nhất định từ việc chuyển quyền đó. Đối với việc li-xăng hay nhượng quyền thương mại, bên giao li-xăng hay bên nhượng quyền sẽ cho phép bên còn lại được phép sử dụng quyền sở hữu trí tuệ trong một khoảng thời gian và không gian nhất định, đổi lại bên kia (bên nhận li-xăng hoặc bên được nhượng quyền) sẽ phải trả cho bên giao li-xăng hay bên nhượng quyền một khoản tiền nhất định. Thông thường, phí li-xăng hay nhượng quyền thương mại sẽ được các bên ấn định một mức cụ thể. Tuy nhiên, nhiều trường hợp hiện nay không li-xăng theo phương pháp thông thường như vậy[3]. Một số trường hợp các bên thỏa thuận với nhau, theo đó, bên nhận quyền được phép sử dụng quyền sở hữu trí tuệ và bên chuyển quyền được nhận một khoản phí chuyển quyền chính là lợi nhuận của công ty tương ứng với giá trị của quyền sở hữu trí tuệ đã được các bên định giá. Trường hợp này trên thực tế nhiều chủ thể thường gọi đây là hành vi “góp vốn” nhưng thực chất bản chất của hành vi này lại là li-xăng. Bởi lẽ, li-xăng quyền sở hữu trí tuệ hay nhượng quyền thương mại thực chất là việc chủ sở hữu “cho thuê” các quyền sở hữu trí tuệ của mình. Từ việc li-xăng quyền sở hữu trí tuệ hay nhượng quyền thương mại, các chủ sở hữu thu được các khoản tiền nhất định từ việc cho thuê quyền sở hữu trí tuệ của mình mà không làm mất đi quyền sở hữu của mình đối với các quyền đó. Và theo đó, các chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp có thể cùng lúc li-xăng quyền sở hữu trí tuệ hay nhượng quyền thương mại cho nhiều chủ thể khác nhau. Còn đối với góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu quyền sở hữu trí tuệ sẽ chuyển giao cho công ty nhận góp vốn. Như vậy, khi sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn, quyền sở hữu quyền sở trí tuệ của chủ sở hữu sẽ bị chuyển hóa thành phần vốn góp trong công ty, chủ sở hữu sẽ được hưởng phần lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp của mình vào công ty. Vì vậy, khi sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chỉ có thể sử dụng quyền sở hữu trí tuệ của mình để góp vốn một lần duy nhất vào một công ty duy nhất trong một phạm vi không gian nhất định.

Riêng đối với hoạt động góp vốn thành lập công ty và hoạt động nhượng quyền thương mại, ngoài sự khác biệt nói trên, một điểm không tương đồng có thể nhận thấy rất rõ giữa hai hoạt động này chính là về đối tượng. Đối tượng của hoạt động nhượng quyền thương mại rộng hơn nhiều so với đối tượng của hoạt động góp vốn. Khi nhượng quyền thương mại, quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ chỉ là một phần của hợp đồng nhượng quyền, kèm theo đó bên nhượng quyền đồng thời phải chuyển giao cách thức, bí quyết tiến hành kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, thiết kế địa điểm kinh doanh… Bên cạnh đó, khi nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền còn có trách nhiệm hỗ trợ, kiểm soát đối với bên được nhượng quyền. Điều này không xảy ra trong hoạt động góp vốn, bởi lẽ, khi góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu quyền sở hữu trí tuệ không còn thuộc về chủ thể góp vốn mà chuyển sang cho bên nhận góp vốn, do đó bên góp vốn không có quyền kiểm soát, cũng như không có nghĩa vụ phải hỗ trợ cho bên nhận góp vốn.

3. So sánh hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ và chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ

Chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ là việc chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sở hữu một, một số quyền nhân thân và quyền tài sản thuộc quyền sở hữu trí tuệ của mình cho các cá nhân, tổ chức khác. Thông thường việc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ xảy ra trong trường hợp bên chuyển nhượng không thể tự mình khai thác cũng như phát triển các tài sản này.

Sự tương đồng giữa hai hình thức này đó chính là khi góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ hay chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ thì quyền sở hữu quyền sở hữu trí tuệ sẽ được chuyển sang cho bên nhận góp vốn hoặc bên nhận chuyển nhượng. Tuy nhiên, bản chất của chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ chính là việc chủ sở hữu bán các quyền của mình cho chủ thể khác để thu lại một khoản tiền nhất định. Trong khi đó, bản chất của góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ lại là đổi quyền để hưởng quyền chủ sở hữu đối với công ty nhận góp vốn. Giá trị quyền sở hữu trí tuệ mà chủ thể góp vốn tương ứng với tỷ lệ nhất định trong tổng số vốn góp của tất cả các thành viên. Chủ thể góp vốn sẽ được nhận quyền chủ sở hữu của công ty tương ứng với tỷ lệ với vốn góp và được hưởng lợi nhuận tương ứng tỷ lệ vốn góp đó[4]. Như vậy, góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ không chỉ đơn thuần là việc “trao đổi ngang giá” như chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó, nếu như chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, bên chuyển nhượng được nhận một khoản tiền từ việc chuyển nhượng và quyền sở hữu sẽ bị mất đi thì đối với việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ mặc dù quyền sở hữu được chuyển sang cho bên nhận góp vốn nhưng trong trường hợp nếu bên góp vốn rút vốn khỏi công ty thì bên góp vốn có thể nhận lại quyền sở hữu trí tuệ của mình. Một số trường hợp nếu bên góp vốn không muốn nhận lại quyền sở hữu trí tuệ thì bên góp vốn có thể yêu cầu nhận một khoản tiền tương ứng với giá trị phần vốn góp trong công ty.

Tóm lại, mặc dù các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ khác có nhiều điểm tương đồng, tuy nhiên bên cạnh đó mỗi hoạt động đều có những đặc trưng riêng. Để nhận diện đúng hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ trong các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ cần nắm rõ được bản chất của hoạt động này. Việc nhận diện đúng các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ là cơ sở để đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể khi khai thác thương mại loại tài sản này.

ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo

Khoa Luật, Đại học Vinh



[1]. https://vnreview.vn/tin-tuc-xa-hoi-so/-/view_content/content/2183037/cong-ty-spin-off-la-gi.

[2]. Điều 284 Luật Thương mại năm 2005.

[3]. Andrew J.Sherman, “Nhượng quyền thương mại và cấp li-xăng” (bản dịch), Nxb. Lao động Xã hội, Hà Nội, 2008.

[4]. United Nations Economic Commission for Europe (2011), Intellectual Property Commercialization, UNITED NATIONS New York and Geneva.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: