Thứ ba 26/05/2026 01:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

Với vai trò và ý nghĩa to lớn của mình, quyền sở hữu trí tuệ ngày càng được khai thác mạnh mẽ thông qua các hoạt động thương mại. Bài viết dưới đây chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ, qua đó, giúp nhận diện đúng bản chất của hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ.


Đã từ lâu, vai trò to lớn của quyền sở hữu trí tuệ đã được nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận. Quyền sở hữu trí tuệ đã và đang ngày càng khẳng định vai trò là yếu tố cơ bản tạo nên giá trị của các công ty và tính cạnh tranh của các công ty trên thị trường. Không chỉ vậy, quyền sở hữu trí tuệ còn được xem là công cụ đắc lực để phát triển kinh tế của các quốc gia. Hiện nay, ở Việt Nam, nhu cầu góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ đang ngày càng có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, do sự tương đồng giữa các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ nên hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ thường bị nhẫm lẫn với các hoạt động thương mại khác của quyền sở hữu trí tuệ như li-xăng quyền sở hữu trí tuệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ , nhượng quyền thương mại…

1. Nhận diện hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ

Góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ có thể hiểu là sự thỏa thuận của các bên, theo đó, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ đưa các quyền sở hữu trí tuệ thuộc sở hữu của mình vào góp vốn trong phạm vi thời gian và không gian nhất định để đổi lấy quyền sở hữu đối với công ty. Góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ thường có ba hình thức:

Thứ nhất, cá nhân, tổ chức sử dụng quyền sở hữu trí tuệ của mình để góp vốn thành lập công ty trong phạm vi quốc gia. Đây là hình thức đang có xu hướng tăng lên hiện nay. Thay vì việc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, nhiều cá nhân, tổ chức không thể tự mình khai thác các quyền sở hữu trí tuệ hay khai thác không có hiệu quả loại tài sản này thường tìm đến một hình thức đầu tư có tính lâu dài và có lợi hơn đó là sử dụng loại tài sản này để góp vốn thành lập công ty. Hình thức này không chỉ giúp chủ thể góp vốn khai thác được tiềm năng lâu dài của loại tài sản này, đồng thời có thể giúp cho tài sản của mình có cơ hội để phát triển hơn. Sự phát triển và gia tăng giá trị của loại tài sản này chính là sự gia tăng lợi nhuận cho chủ thể góp vốn.

Thứ hai, góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ để thành lập công ty liên doanh. Công ty liên doanh có thể hiểu là một hình thức của hiệp hội kinh doanh giữa hai hoặc nhiều tổ chức độc lập để thực hiện một dự án chung hoặc để đạt được một mục tiêu nhất định. Một trong những lý do chính cho hoạt động liên doanh là mở rộng phạm vi kinh doanh sang một khu vực địa lý mới, đưa ra các loại sản phẩm mới và thiết lập quan hệ đối tác chiến lược trong các thị trường song song. Hình thức này được xem là khá hấp dẫn đối với các bên liên doanh. Đây được xem là một biện pháp hữu hiệu và cần thiết để thâm nhập vào thị trường mới, đặc biệt là những thị trường mà có sự hạn chế đầu tư từ bên ngoài. Khi liên doanh, vai trò của các thành viên được xác định rõ ràng thông qua tỷ lệ góp vốn. Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy liên doanh có tỷ lệ thất bại tương đối cao nhưng đổi lại các bên tham gia lại có được những lợi thế nhất định.

Thứ ba, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn thành lập công ty spin-off. Đây là loại hình công ty phổ biến ở nước ngoài nhưng còn khá hiếm ở Việt Nam. Loại hình công ty này thường bắt gặp ở các quốc gia có nền khoa học phát triển. Công ty công nghệ spin-off được hiểu là các công ty công nghệ triển khai các kết quả nghiên cứu ứng dụng của các nhà khoa học với hình thức đồng sở hữu của cơ sở nghiên cứu và nhà nghiên cứu và được quản lý độc lập với cơ sở nghiên cứu[1]. Đặc điểm của loại hình này đó là quy mô khởi đầu nhỏ và vừa với số vốn không quá lớn. Vì vậy, mô hình này vừa giúp tận dụng được cơ sở hạ tầng từ chính các trung tâm nghiên cứu, tận dụng được nguồn nhân lực chất lượng cao được đào tạo từ đây. Đồng thời, với quy mô nhỏ và vừa nên khả năng thu hồi vốn nhanh do chi phí đầu tư xây dựng và quản trị thấp hơn.

2. So sánh hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ với hoạt động li-xăng quyền sở hữu trí tuệ và nhượng quyền thương mại

Li-xăng quyền sở hữu trí tuệ là việc chủ sở hữu cho phép các tổ chức, cá nhân khác được phép sử dụng các quyền nhân thân và quyền tài sản thuộc sở hữu của mình trong một khoảng thời gian nhất định. Li-xăng quyền sở hữu trí tuệ là một trong những hình thức khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ phổ biến.

Còn nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó, bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện nhất định[2]. Nhượng quyền thương mại được coi là hình thức hữu hiệu để các bên nhượng quyền mở rộng hoạt động kinh doanh của họ. Ưu điểm chính của hình thức này đó là thông qua hoạt động nhượng quyền, bên nhượng quyền sẽ xây dựng được sự hiện diện toàn cầu một cách nhanh chóng với chi phí và rủi ro thấp.

Xét về mức độ phổ biến, hoạt động sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn thành lập công ty không phổ biến như hoạt động li-xăng quyền sở hữu trí tuệ hay nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, trên thực tế, những hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ này lại rất dễ bị nhầm lẫn. Điều này xuất phát từ điểm chung giữa các hoạt động này đó chính là chuyển quyền để nhận những lợi ích nhất định từ việc chuyển quyền đó. Đối với việc li-xăng hay nhượng quyền thương mại, bên giao li-xăng hay bên nhượng quyền sẽ cho phép bên còn lại được phép sử dụng quyền sở hữu trí tuệ trong một khoảng thời gian và không gian nhất định, đổi lại bên kia (bên nhận li-xăng hoặc bên được nhượng quyền) sẽ phải trả cho bên giao li-xăng hay bên nhượng quyền một khoản tiền nhất định. Thông thường, phí li-xăng hay nhượng quyền thương mại sẽ được các bên ấn định một mức cụ thể. Tuy nhiên, nhiều trường hợp hiện nay không li-xăng theo phương pháp thông thường như vậy[3]. Một số trường hợp các bên thỏa thuận với nhau, theo đó, bên nhận quyền được phép sử dụng quyền sở hữu trí tuệ và bên chuyển quyền được nhận một khoản phí chuyển quyền chính là lợi nhuận của công ty tương ứng với giá trị của quyền sở hữu trí tuệ đã được các bên định giá. Trường hợp này trên thực tế nhiều chủ thể thường gọi đây là hành vi “góp vốn” nhưng thực chất bản chất của hành vi này lại là li-xăng. Bởi lẽ, li-xăng quyền sở hữu trí tuệ hay nhượng quyền thương mại thực chất là việc chủ sở hữu “cho thuê” các quyền sở hữu trí tuệ của mình. Từ việc li-xăng quyền sở hữu trí tuệ hay nhượng quyền thương mại, các chủ sở hữu thu được các khoản tiền nhất định từ việc cho thuê quyền sở hữu trí tuệ của mình mà không làm mất đi quyền sở hữu của mình đối với các quyền đó. Và theo đó, các chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp có thể cùng lúc li-xăng quyền sở hữu trí tuệ hay nhượng quyền thương mại cho nhiều chủ thể khác nhau. Còn đối với góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu quyền sở hữu trí tuệ sẽ chuyển giao cho công ty nhận góp vốn. Như vậy, khi sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn, quyền sở hữu quyền sở trí tuệ của chủ sở hữu sẽ bị chuyển hóa thành phần vốn góp trong công ty, chủ sở hữu sẽ được hưởng phần lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp của mình vào công ty. Vì vậy, khi sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chỉ có thể sử dụng quyền sở hữu trí tuệ của mình để góp vốn một lần duy nhất vào một công ty duy nhất trong một phạm vi không gian nhất định.

Riêng đối với hoạt động góp vốn thành lập công ty và hoạt động nhượng quyền thương mại, ngoài sự khác biệt nói trên, một điểm không tương đồng có thể nhận thấy rất rõ giữa hai hoạt động này chính là về đối tượng. Đối tượng của hoạt động nhượng quyền thương mại rộng hơn nhiều so với đối tượng của hoạt động góp vốn. Khi nhượng quyền thương mại, quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ chỉ là một phần của hợp đồng nhượng quyền, kèm theo đó bên nhượng quyền đồng thời phải chuyển giao cách thức, bí quyết tiến hành kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, thiết kế địa điểm kinh doanh… Bên cạnh đó, khi nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền còn có trách nhiệm hỗ trợ, kiểm soát đối với bên được nhượng quyền. Điều này không xảy ra trong hoạt động góp vốn, bởi lẽ, khi góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu quyền sở hữu trí tuệ không còn thuộc về chủ thể góp vốn mà chuyển sang cho bên nhận góp vốn, do đó bên góp vốn không có quyền kiểm soát, cũng như không có nghĩa vụ phải hỗ trợ cho bên nhận góp vốn.

3. So sánh hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ và chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ

Chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ là việc chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sở hữu một, một số quyền nhân thân và quyền tài sản thuộc quyền sở hữu trí tuệ của mình cho các cá nhân, tổ chức khác. Thông thường việc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ xảy ra trong trường hợp bên chuyển nhượng không thể tự mình khai thác cũng như phát triển các tài sản này.

Sự tương đồng giữa hai hình thức này đó chính là khi góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ hay chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ thì quyền sở hữu quyền sở hữu trí tuệ sẽ được chuyển sang cho bên nhận góp vốn hoặc bên nhận chuyển nhượng. Tuy nhiên, bản chất của chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ chính là việc chủ sở hữu bán các quyền của mình cho chủ thể khác để thu lại một khoản tiền nhất định. Trong khi đó, bản chất của góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ lại là đổi quyền để hưởng quyền chủ sở hữu đối với công ty nhận góp vốn. Giá trị quyền sở hữu trí tuệ mà chủ thể góp vốn tương ứng với tỷ lệ nhất định trong tổng số vốn góp của tất cả các thành viên. Chủ thể góp vốn sẽ được nhận quyền chủ sở hữu của công ty tương ứng với tỷ lệ với vốn góp và được hưởng lợi nhuận tương ứng tỷ lệ vốn góp đó[4]. Như vậy, góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ không chỉ đơn thuần là việc “trao đổi ngang giá” như chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó, nếu như chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, bên chuyển nhượng được nhận một khoản tiền từ việc chuyển nhượng và quyền sở hữu sẽ bị mất đi thì đối với việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ mặc dù quyền sở hữu được chuyển sang cho bên nhận góp vốn nhưng trong trường hợp nếu bên góp vốn rút vốn khỏi công ty thì bên góp vốn có thể nhận lại quyền sở hữu trí tuệ của mình. Một số trường hợp nếu bên góp vốn không muốn nhận lại quyền sở hữu trí tuệ thì bên góp vốn có thể yêu cầu nhận một khoản tiền tương ứng với giá trị phần vốn góp trong công ty.

Tóm lại, mặc dù các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ khác có nhiều điểm tương đồng, tuy nhiên bên cạnh đó mỗi hoạt động đều có những đặc trưng riêng. Để nhận diện đúng hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ trong các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ cần nắm rõ được bản chất của hoạt động này. Việc nhận diện đúng các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ là cơ sở để đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể khi khai thác thương mại loại tài sản này.

ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo

Khoa Luật, Đại học Vinh



[1]. https://vnreview.vn/tin-tuc-xa-hoi-so/-/view_content/content/2183037/cong-ty-spin-off-la-gi.

[2]. Điều 284 Luật Thương mại năm 2005.

[3]. Andrew J.Sherman, “Nhượng quyền thương mại và cấp li-xăng” (bản dịch), Nxb. Lao động Xã hội, Hà Nội, 2008.

[4]. United Nations Economic Commission for Europe (2011), Intellectual Property Commercialization, UNITED NATIONS New York and Geneva.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: