Thứ sáu 23/10/2026 19:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

Với vai trò và ý nghĩa to lớn của mình, quyền sở hữu trí tuệ ngày càng được khai thác mạnh mẽ thông qua các hoạt động thương mại. Bài viết dưới đây chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ, qua đó, giúp nhận diện đúng bản chất của hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ.


Đã từ lâu, vai trò to lớn của quyền sở hữu trí tuệ đã được nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận. Quyền sở hữu trí tuệ đã và đang ngày càng khẳng định vai trò là yếu tố cơ bản tạo nên giá trị của các công ty và tính cạnh tranh của các công ty trên thị trường. Không chỉ vậy, quyền sở hữu trí tuệ còn được xem là công cụ đắc lực để phát triển kinh tế của các quốc gia. Hiện nay, ở Việt Nam, nhu cầu góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ đang ngày càng có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, do sự tương đồng giữa các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ nên hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ thường bị nhẫm lẫn với các hoạt động thương mại khác của quyền sở hữu trí tuệ như li-xăng quyền sở hữu trí tuệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ , nhượng quyền thương mại…

1. Nhận diện hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ

Góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ có thể hiểu là sự thỏa thuận của các bên, theo đó, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ đưa các quyền sở hữu trí tuệ thuộc sở hữu của mình vào góp vốn trong phạm vi thời gian và không gian nhất định để đổi lấy quyền sở hữu đối với công ty. Góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ thường có ba hình thức:

Thứ nhất, cá nhân, tổ chức sử dụng quyền sở hữu trí tuệ của mình để góp vốn thành lập công ty trong phạm vi quốc gia. Đây là hình thức đang có xu hướng tăng lên hiện nay. Thay vì việc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, nhiều cá nhân, tổ chức không thể tự mình khai thác các quyền sở hữu trí tuệ hay khai thác không có hiệu quả loại tài sản này thường tìm đến một hình thức đầu tư có tính lâu dài và có lợi hơn đó là sử dụng loại tài sản này để góp vốn thành lập công ty. Hình thức này không chỉ giúp chủ thể góp vốn khai thác được tiềm năng lâu dài của loại tài sản này, đồng thời có thể giúp cho tài sản của mình có cơ hội để phát triển hơn. Sự phát triển và gia tăng giá trị của loại tài sản này chính là sự gia tăng lợi nhuận cho chủ thể góp vốn.

Thứ hai, góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ để thành lập công ty liên doanh. Công ty liên doanh có thể hiểu là một hình thức của hiệp hội kinh doanh giữa hai hoặc nhiều tổ chức độc lập để thực hiện một dự án chung hoặc để đạt được một mục tiêu nhất định. Một trong những lý do chính cho hoạt động liên doanh là mở rộng phạm vi kinh doanh sang một khu vực địa lý mới, đưa ra các loại sản phẩm mới và thiết lập quan hệ đối tác chiến lược trong các thị trường song song. Hình thức này được xem là khá hấp dẫn đối với các bên liên doanh. Đây được xem là một biện pháp hữu hiệu và cần thiết để thâm nhập vào thị trường mới, đặc biệt là những thị trường mà có sự hạn chế đầu tư từ bên ngoài. Khi liên doanh, vai trò của các thành viên được xác định rõ ràng thông qua tỷ lệ góp vốn. Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy liên doanh có tỷ lệ thất bại tương đối cao nhưng đổi lại các bên tham gia lại có được những lợi thế nhất định.

Thứ ba, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn thành lập công ty spin-off. Đây là loại hình công ty phổ biến ở nước ngoài nhưng còn khá hiếm ở Việt Nam. Loại hình công ty này thường bắt gặp ở các quốc gia có nền khoa học phát triển. Công ty công nghệ spin-off được hiểu là các công ty công nghệ triển khai các kết quả nghiên cứu ứng dụng của các nhà khoa học với hình thức đồng sở hữu của cơ sở nghiên cứu và nhà nghiên cứu và được quản lý độc lập với cơ sở nghiên cứu[1]. Đặc điểm của loại hình này đó là quy mô khởi đầu nhỏ và vừa với số vốn không quá lớn. Vì vậy, mô hình này vừa giúp tận dụng được cơ sở hạ tầng từ chính các trung tâm nghiên cứu, tận dụng được nguồn nhân lực chất lượng cao được đào tạo từ đây. Đồng thời, với quy mô nhỏ và vừa nên khả năng thu hồi vốn nhanh do chi phí đầu tư xây dựng và quản trị thấp hơn.

2. So sánh hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ với hoạt động li-xăng quyền sở hữu trí tuệ và nhượng quyền thương mại

Li-xăng quyền sở hữu trí tuệ là việc chủ sở hữu cho phép các tổ chức, cá nhân khác được phép sử dụng các quyền nhân thân và quyền tài sản thuộc sở hữu của mình trong một khoảng thời gian nhất định. Li-xăng quyền sở hữu trí tuệ là một trong những hình thức khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ phổ biến.

Còn nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó, bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện nhất định[2]. Nhượng quyền thương mại được coi là hình thức hữu hiệu để các bên nhượng quyền mở rộng hoạt động kinh doanh của họ. Ưu điểm chính của hình thức này đó là thông qua hoạt động nhượng quyền, bên nhượng quyền sẽ xây dựng được sự hiện diện toàn cầu một cách nhanh chóng với chi phí và rủi ro thấp.

Xét về mức độ phổ biến, hoạt động sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn thành lập công ty không phổ biến như hoạt động li-xăng quyền sở hữu trí tuệ hay nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, trên thực tế, những hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ này lại rất dễ bị nhầm lẫn. Điều này xuất phát từ điểm chung giữa các hoạt động này đó chính là chuyển quyền để nhận những lợi ích nhất định từ việc chuyển quyền đó. Đối với việc li-xăng hay nhượng quyền thương mại, bên giao li-xăng hay bên nhượng quyền sẽ cho phép bên còn lại được phép sử dụng quyền sở hữu trí tuệ trong một khoảng thời gian và không gian nhất định, đổi lại bên kia (bên nhận li-xăng hoặc bên được nhượng quyền) sẽ phải trả cho bên giao li-xăng hay bên nhượng quyền một khoản tiền nhất định. Thông thường, phí li-xăng hay nhượng quyền thương mại sẽ được các bên ấn định một mức cụ thể. Tuy nhiên, nhiều trường hợp hiện nay không li-xăng theo phương pháp thông thường như vậy[3]. Một số trường hợp các bên thỏa thuận với nhau, theo đó, bên nhận quyền được phép sử dụng quyền sở hữu trí tuệ và bên chuyển quyền được nhận một khoản phí chuyển quyền chính là lợi nhuận của công ty tương ứng với giá trị của quyền sở hữu trí tuệ đã được các bên định giá. Trường hợp này trên thực tế nhiều chủ thể thường gọi đây là hành vi “góp vốn” nhưng thực chất bản chất của hành vi này lại là li-xăng. Bởi lẽ, li-xăng quyền sở hữu trí tuệ hay nhượng quyền thương mại thực chất là việc chủ sở hữu “cho thuê” các quyền sở hữu trí tuệ của mình. Từ việc li-xăng quyền sở hữu trí tuệ hay nhượng quyền thương mại, các chủ sở hữu thu được các khoản tiền nhất định từ việc cho thuê quyền sở hữu trí tuệ của mình mà không làm mất đi quyền sở hữu của mình đối với các quyền đó. Và theo đó, các chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp có thể cùng lúc li-xăng quyền sở hữu trí tuệ hay nhượng quyền thương mại cho nhiều chủ thể khác nhau. Còn đối với góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu quyền sở hữu trí tuệ sẽ chuyển giao cho công ty nhận góp vốn. Như vậy, khi sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn, quyền sở hữu quyền sở trí tuệ của chủ sở hữu sẽ bị chuyển hóa thành phần vốn góp trong công ty, chủ sở hữu sẽ được hưởng phần lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp của mình vào công ty. Vì vậy, khi sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chỉ có thể sử dụng quyền sở hữu trí tuệ của mình để góp vốn một lần duy nhất vào một công ty duy nhất trong một phạm vi không gian nhất định.

Riêng đối với hoạt động góp vốn thành lập công ty và hoạt động nhượng quyền thương mại, ngoài sự khác biệt nói trên, một điểm không tương đồng có thể nhận thấy rất rõ giữa hai hoạt động này chính là về đối tượng. Đối tượng của hoạt động nhượng quyền thương mại rộng hơn nhiều so với đối tượng của hoạt động góp vốn. Khi nhượng quyền thương mại, quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ chỉ là một phần của hợp đồng nhượng quyền, kèm theo đó bên nhượng quyền đồng thời phải chuyển giao cách thức, bí quyết tiến hành kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, thiết kế địa điểm kinh doanh… Bên cạnh đó, khi nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền còn có trách nhiệm hỗ trợ, kiểm soát đối với bên được nhượng quyền. Điều này không xảy ra trong hoạt động góp vốn, bởi lẽ, khi góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu quyền sở hữu trí tuệ không còn thuộc về chủ thể góp vốn mà chuyển sang cho bên nhận góp vốn, do đó bên góp vốn không có quyền kiểm soát, cũng như không có nghĩa vụ phải hỗ trợ cho bên nhận góp vốn.

3. So sánh hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ và chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ

Chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ là việc chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sở hữu một, một số quyền nhân thân và quyền tài sản thuộc quyền sở hữu trí tuệ của mình cho các cá nhân, tổ chức khác. Thông thường việc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ xảy ra trong trường hợp bên chuyển nhượng không thể tự mình khai thác cũng như phát triển các tài sản này.

Sự tương đồng giữa hai hình thức này đó chính là khi góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ hay chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ thì quyền sở hữu quyền sở hữu trí tuệ sẽ được chuyển sang cho bên nhận góp vốn hoặc bên nhận chuyển nhượng. Tuy nhiên, bản chất của chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ chính là việc chủ sở hữu bán các quyền của mình cho chủ thể khác để thu lại một khoản tiền nhất định. Trong khi đó, bản chất của góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ lại là đổi quyền để hưởng quyền chủ sở hữu đối với công ty nhận góp vốn. Giá trị quyền sở hữu trí tuệ mà chủ thể góp vốn tương ứng với tỷ lệ nhất định trong tổng số vốn góp của tất cả các thành viên. Chủ thể góp vốn sẽ được nhận quyền chủ sở hữu của công ty tương ứng với tỷ lệ với vốn góp và được hưởng lợi nhuận tương ứng tỷ lệ vốn góp đó[4]. Như vậy, góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ không chỉ đơn thuần là việc “trao đổi ngang giá” như chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó, nếu như chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, bên chuyển nhượng được nhận một khoản tiền từ việc chuyển nhượng và quyền sở hữu sẽ bị mất đi thì đối với việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ mặc dù quyền sở hữu được chuyển sang cho bên nhận góp vốn nhưng trong trường hợp nếu bên góp vốn rút vốn khỏi công ty thì bên góp vốn có thể nhận lại quyền sở hữu trí tuệ của mình. Một số trường hợp nếu bên góp vốn không muốn nhận lại quyền sở hữu trí tuệ thì bên góp vốn có thể yêu cầu nhận một khoản tiền tương ứng với giá trị phần vốn góp trong công ty.

Tóm lại, mặc dù các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ khác có nhiều điểm tương đồng, tuy nhiên bên cạnh đó mỗi hoạt động đều có những đặc trưng riêng. Để nhận diện đúng hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ trong các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ cần nắm rõ được bản chất của hoạt động này. Việc nhận diện đúng các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ là cơ sở để đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể khi khai thác thương mại loại tài sản này.

ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo

Khoa Luật, Đại học Vinh



[1]. https://vnreview.vn/tin-tuc-xa-hoi-so/-/view_content/content/2183037/cong-ty-spin-off-la-gi.

[2]. Điều 284 Luật Thương mại năm 2005.

[3]. Andrew J.Sherman, “Nhượng quyền thương mại và cấp li-xăng” (bản dịch), Nxb. Lao động Xã hội, Hà Nội, 2008.

[4]. United Nations Economic Commission for Europe (2011), Intellectual Property Commercialization, UNITED NATIONS New York and Geneva.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: