Thứ năm 15/01/2026 08:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

Với vai trò và ý nghĩa to lớn của mình, quyền sở hữu trí tuệ ngày càng được khai thác mạnh mẽ thông qua các hoạt động thương mại. Bài viết dưới đây chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ, qua đó, giúp nhận diện đúng bản chất của hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ.


Đã từ lâu, vai trò to lớn của quyền sở hữu trí tuệ đã được nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận. Quyền sở hữu trí tuệ đã và đang ngày càng khẳng định vai trò là yếu tố cơ bản tạo nên giá trị của các công ty và tính cạnh tranh của các công ty trên thị trường. Không chỉ vậy, quyền sở hữu trí tuệ còn được xem là công cụ đắc lực để phát triển kinh tế của các quốc gia. Hiện nay, ở Việt Nam, nhu cầu góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ đang ngày càng có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, do sự tương đồng giữa các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ nên hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ thường bị nhẫm lẫn với các hoạt động thương mại khác của quyền sở hữu trí tuệ như li-xăng quyền sở hữu trí tuệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ , nhượng quyền thương mại…

1. Nhận diện hoạt động góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ

Góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ có thể hiểu là sự thỏa thuận của các bên, theo đó, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ đưa các quyền sở hữu trí tuệ thuộc sở hữu của mình vào góp vốn trong phạm vi thời gian và không gian nhất định để đổi lấy quyền sở hữu đối với công ty. Góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ thường có ba hình thức:

Thứ nhất, cá nhân, tổ chức sử dụng quyền sở hữu trí tuệ của mình để góp vốn thành lập công ty trong phạm vi quốc gia. Đây là hình thức đang có xu hướng tăng lên hiện nay. Thay vì việc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, nhiều cá nhân, tổ chức không thể tự mình khai thác các quyền sở hữu trí tuệ hay khai thác không có hiệu quả loại tài sản này thường tìm đến một hình thức đầu tư có tính lâu dài và có lợi hơn đó là sử dụng loại tài sản này để góp vốn thành lập công ty. Hình thức này không chỉ giúp chủ thể góp vốn khai thác được tiềm năng lâu dài của loại tài sản này, đồng thời có thể giúp cho tài sản của mình có cơ hội để phát triển hơn. Sự phát triển và gia tăng giá trị của loại tài sản này chính là sự gia tăng lợi nhuận cho chủ thể góp vốn.

Thứ hai, góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ để thành lập công ty liên doanh. Công ty liên doanh có thể hiểu là một hình thức của hiệp hội kinh doanh giữa hai hoặc nhiều tổ chức độc lập để thực hiện một dự án chung hoặc để đạt được một mục tiêu nhất định. Một trong những lý do chính cho hoạt động liên doanh là mở rộng phạm vi kinh doanh sang một khu vực địa lý mới, đưa ra các loại sản phẩm mới và thiết lập quan hệ đối tác chiến lược trong các thị trường song song. Hình thức này được xem là khá hấp dẫn đối với các bên liên doanh. Đây được xem là một biện pháp hữu hiệu và cần thiết để thâm nhập vào thị trường mới, đặc biệt là những thị trường mà có sự hạn chế đầu tư từ bên ngoài. Khi liên doanh, vai trò của các thành viên được xác định rõ ràng thông qua tỷ lệ góp vốn. Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy liên doanh có tỷ lệ thất bại tương đối cao nhưng đổi lại các bên tham gia lại có được những lợi thế nhất định.

Thứ ba, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn thành lập công ty spin-off. Đây là loại hình công ty phổ biến ở nước ngoài nhưng còn khá hiếm ở Việt Nam. Loại hình công ty này thường bắt gặp ở các quốc gia có nền khoa học phát triển. Công ty công nghệ spin-off được hiểu là các công ty công nghệ triển khai các kết quả nghiên cứu ứng dụng của các nhà khoa học với hình thức đồng sở hữu của cơ sở nghiên cứu và nhà nghiên cứu và được quản lý độc lập với cơ sở nghiên cứu[1]. Đặc điểm của loại hình này đó là quy mô khởi đầu nhỏ và vừa với số vốn không quá lớn. Vì vậy, mô hình này vừa giúp tận dụng được cơ sở hạ tầng từ chính các trung tâm nghiên cứu, tận dụng được nguồn nhân lực chất lượng cao được đào tạo từ đây. Đồng thời, với quy mô nhỏ và vừa nên khả năng thu hồi vốn nhanh do chi phí đầu tư xây dựng và quản trị thấp hơn.

2. So sánh hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ với hoạt động li-xăng quyền sở hữu trí tuệ và nhượng quyền thương mại

Li-xăng quyền sở hữu trí tuệ là việc chủ sở hữu cho phép các tổ chức, cá nhân khác được phép sử dụng các quyền nhân thân và quyền tài sản thuộc sở hữu của mình trong một khoảng thời gian nhất định. Li-xăng quyền sở hữu trí tuệ là một trong những hình thức khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ phổ biến.

Còn nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó, bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện nhất định[2]. Nhượng quyền thương mại được coi là hình thức hữu hiệu để các bên nhượng quyền mở rộng hoạt động kinh doanh của họ. Ưu điểm chính của hình thức này đó là thông qua hoạt động nhượng quyền, bên nhượng quyền sẽ xây dựng được sự hiện diện toàn cầu một cách nhanh chóng với chi phí và rủi ro thấp.

Xét về mức độ phổ biến, hoạt động sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn thành lập công ty không phổ biến như hoạt động li-xăng quyền sở hữu trí tuệ hay nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, trên thực tế, những hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ này lại rất dễ bị nhầm lẫn. Điều này xuất phát từ điểm chung giữa các hoạt động này đó chính là chuyển quyền để nhận những lợi ích nhất định từ việc chuyển quyền đó. Đối với việc li-xăng hay nhượng quyền thương mại, bên giao li-xăng hay bên nhượng quyền sẽ cho phép bên còn lại được phép sử dụng quyền sở hữu trí tuệ trong một khoảng thời gian và không gian nhất định, đổi lại bên kia (bên nhận li-xăng hoặc bên được nhượng quyền) sẽ phải trả cho bên giao li-xăng hay bên nhượng quyền một khoản tiền nhất định. Thông thường, phí li-xăng hay nhượng quyền thương mại sẽ được các bên ấn định một mức cụ thể. Tuy nhiên, nhiều trường hợp hiện nay không li-xăng theo phương pháp thông thường như vậy[3]. Một số trường hợp các bên thỏa thuận với nhau, theo đó, bên nhận quyền được phép sử dụng quyền sở hữu trí tuệ và bên chuyển quyền được nhận một khoản phí chuyển quyền chính là lợi nhuận của công ty tương ứng với giá trị của quyền sở hữu trí tuệ đã được các bên định giá. Trường hợp này trên thực tế nhiều chủ thể thường gọi đây là hành vi “góp vốn” nhưng thực chất bản chất của hành vi này lại là li-xăng. Bởi lẽ, li-xăng quyền sở hữu trí tuệ hay nhượng quyền thương mại thực chất là việc chủ sở hữu “cho thuê” các quyền sở hữu trí tuệ của mình. Từ việc li-xăng quyền sở hữu trí tuệ hay nhượng quyền thương mại, các chủ sở hữu thu được các khoản tiền nhất định từ việc cho thuê quyền sở hữu trí tuệ của mình mà không làm mất đi quyền sở hữu của mình đối với các quyền đó. Và theo đó, các chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp có thể cùng lúc li-xăng quyền sở hữu trí tuệ hay nhượng quyền thương mại cho nhiều chủ thể khác nhau. Còn đối với góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu quyền sở hữu trí tuệ sẽ chuyển giao cho công ty nhận góp vốn. Như vậy, khi sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn, quyền sở hữu quyền sở trí tuệ của chủ sở hữu sẽ bị chuyển hóa thành phần vốn góp trong công ty, chủ sở hữu sẽ được hưởng phần lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp của mình vào công ty. Vì vậy, khi sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chỉ có thể sử dụng quyền sở hữu trí tuệ của mình để góp vốn một lần duy nhất vào một công ty duy nhất trong một phạm vi không gian nhất định.

Riêng đối với hoạt động góp vốn thành lập công ty và hoạt động nhượng quyền thương mại, ngoài sự khác biệt nói trên, một điểm không tương đồng có thể nhận thấy rất rõ giữa hai hoạt động này chính là về đối tượng. Đối tượng của hoạt động nhượng quyền thương mại rộng hơn nhiều so với đối tượng của hoạt động góp vốn. Khi nhượng quyền thương mại, quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ chỉ là một phần của hợp đồng nhượng quyền, kèm theo đó bên nhượng quyền đồng thời phải chuyển giao cách thức, bí quyết tiến hành kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, thiết kế địa điểm kinh doanh… Bên cạnh đó, khi nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền còn có trách nhiệm hỗ trợ, kiểm soát đối với bên được nhượng quyền. Điều này không xảy ra trong hoạt động góp vốn, bởi lẽ, khi góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu quyền sở hữu trí tuệ không còn thuộc về chủ thể góp vốn mà chuyển sang cho bên nhận góp vốn, do đó bên góp vốn không có quyền kiểm soát, cũng như không có nghĩa vụ phải hỗ trợ cho bên nhận góp vốn.

3. So sánh hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ và chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ

Chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ là việc chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sở hữu một, một số quyền nhân thân và quyền tài sản thuộc quyền sở hữu trí tuệ của mình cho các cá nhân, tổ chức khác. Thông thường việc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ xảy ra trong trường hợp bên chuyển nhượng không thể tự mình khai thác cũng như phát triển các tài sản này.

Sự tương đồng giữa hai hình thức này đó chính là khi góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ hay chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ thì quyền sở hữu quyền sở hữu trí tuệ sẽ được chuyển sang cho bên nhận góp vốn hoặc bên nhận chuyển nhượng. Tuy nhiên, bản chất của chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ chính là việc chủ sở hữu bán các quyền của mình cho chủ thể khác để thu lại một khoản tiền nhất định. Trong khi đó, bản chất của góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ lại là đổi quyền để hưởng quyền chủ sở hữu đối với công ty nhận góp vốn. Giá trị quyền sở hữu trí tuệ mà chủ thể góp vốn tương ứng với tỷ lệ nhất định trong tổng số vốn góp của tất cả các thành viên. Chủ thể góp vốn sẽ được nhận quyền chủ sở hữu của công ty tương ứng với tỷ lệ với vốn góp và được hưởng lợi nhuận tương ứng tỷ lệ vốn góp đó[4]. Như vậy, góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ không chỉ đơn thuần là việc “trao đổi ngang giá” như chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó, nếu như chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, bên chuyển nhượng được nhận một khoản tiền từ việc chuyển nhượng và quyền sở hữu sẽ bị mất đi thì đối với việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ mặc dù quyền sở hữu được chuyển sang cho bên nhận góp vốn nhưng trong trường hợp nếu bên góp vốn rút vốn khỏi công ty thì bên góp vốn có thể nhận lại quyền sở hữu trí tuệ của mình. Một số trường hợp nếu bên góp vốn không muốn nhận lại quyền sở hữu trí tuệ thì bên góp vốn có thể yêu cầu nhận một khoản tiền tương ứng với giá trị phần vốn góp trong công ty.

Tóm lại, mặc dù các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ khác có nhiều điểm tương đồng, tuy nhiên bên cạnh đó mỗi hoạt động đều có những đặc trưng riêng. Để nhận diện đúng hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ trong các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ cần nắm rõ được bản chất của hoạt động này. Việc nhận diện đúng các hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ là cơ sở để đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể khi khai thác thương mại loại tài sản này.

ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo

Khoa Luật, Đại học Vinh



[1]. https://vnreview.vn/tin-tuc-xa-hoi-so/-/view_content/content/2183037/cong-ty-spin-off-la-gi.

[2]. Điều 284 Luật Thương mại năm 2005.

[3]. Andrew J.Sherman, “Nhượng quyền thương mại và cấp li-xăng” (bản dịch), Nxb. Lao động Xã hội, Hà Nội, 2008.

[4]. United Nations Economic Commission for Europe (2011), Intellectual Property Commercialization, UNITED NATIONS New York and Geneva.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: