Thứ ba 03/03/2026 18:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những đánh giá định tính về sự tồn tại của kênh truyền dẫn tín dụng ngân hàng ở Việt Nam

Mục tiêu của chính sách tiền tệ trong điều hành nền kinh tế của các quốc gia là duy trì giá cả ổn định, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, ổn định thị trường tài chính... Bên cạnh việc xác định mục tiêu ưu tiên và sử dụng những công cụ phù hợp trong từng thời kỳ, thì quá trình truyền tải chính sách tiền tệ tới nền kinh tế đóng vai trò quyết định nhằm đạt được những mục tiêu kể trên.

Cơ chế truyền tải tác động của chính sách tiền tệ mô tả quá trình từ những thay đổi trong lượng tiền lưu thông có tác động như thế nào tới các biến số của nền kinh tế thông qua các kênh truyền dẫn như kênh lãi suất, kênh tỷ giá, kênh của cải, kênh tín dụng, kênh dòng tiền... Do chịu ảnh hưởng từ đặc điểm của từng nền kinh tế, thị trường tài chính và các trung gian tài chính luôn vận động không ngừng nên mức độ hiệu quả của các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ thay đổi theo thời gian. Vậy ở Việt Nam, kênh truyền dẫn tín dụng ngân hàng có tác động thế nào đến chính sách tiền tệ nói riêng và nền kinh tế nói chung? Trong bài viết này, tác giả mô tả đặc trưng của hệ thống ngân hàng Việt Nam (trong đó đề cập đến những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của kênh tín dụng ngân hàng như: Mức độ tập trung của hệ thống; mức độ vốn hóa của hệ thống và một số yếu tố khác) và sự phát triển của thị trường vốn ở nước ta.

Chính sách tiền tệ được định nghĩa là các chính sách vĩ mô và thông qua các công cụ của mình, Ngân hàng Trung ương chủ động thay đổi cung ứng tiền hoặc lãi suất nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra. Hiểu một cách ngắn gọn, chính sách tiền tệ là sự quản lý tiền tệ và lãi suất của Ngân hàng Trung ương. Chính sách tiền tệ ngày nay đã trở thành một trong những chính sách trọng tâm để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững. Để điều chỉnh thành công nền kinh tế bằng chính sách tiền tệ, các nhà hoạch định chính sách phải có những đánh giá chính xác về tính kịp thời và ảnh hưởng của các chính sách tới nền kinh tế.

1. Đặc trưng của hệ thống ngân hàng Việt Nam

a. Mức độ tập trung của hệ thống

Mức độ tập trung của hệ thống là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới hiệu quả tác động của chính sách tiền tệ tới nền kinh tế. Với những hệ thống ngân hàng có mức độ tập trung cao, toàn bộ thị phần sẽ nằm trong tay một số ít các ngân hàng có quy mô lớn. Những ngân hàng này thường chịu ít chi phí về thông tin, dễ dàng huy động tài chính từ bên ngoài và trong trường hợp đối mặt với các rủi ro trong quá trình hoạt động thì thường được Chính phủ trợ giúp. Do vậy những ngân hàng này dễ dàng bù đắp sự sụt giảm bên phía cung tín dụng khi có sự tác động của chính sách tiền tệ, khiến chính sách tiền tệ truyền dẫn qua kênh tín dụng ngân hàng bị giảm hiệu lực. Nhiều bằng chứng thực nghiệm như của Adams và Amel (2005), Benkovskis (2008), Ahtik (2012) hay Fungacova & cộng sự (2013) đều chỉ ra sự tác động ngược chiều của mức độ tập trung trong hệ thống ngân hàng và chính sách tiền tệ, hay nói một cách khác, sự tập trung của hệ thống làm yếu đi hiệu quả của kênh tín dụng ngân hàng.

Trước đây, hệ thống ngân hàng Việt Nam chỉ là hệ thống ngân hàng đơn cấp với việc Ngân hàng Trung ương quản lý mọi hoạt động tín dụng - tiền tệ của cả nền kinh tế. Từ sau năm 1986, quá trình cải cách nền kinh tế bắt đầu được tiến hành một cách toàn diện và dần lan sang cả hệ thống ngân hàng. Bước ngoặt đánh dấu sự thay đổi đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam đó là việc ban hành Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990, qua đó chuyển đổi hệ thống ngân hàng đơn cấp thành hệ thống ngân hàng 2 cấp với sự ra đời thêm của 4 ngân hàng nhà nước. Sự cho phép các ngân hàng thương mại tham gia vào hệ thống ngân hàng đã mở đầu cho thời kỳ xuất hiện hàng loạt các ngân hàng thương mại cổ phần những năm tiếp sau. Năm 1991, có 4 ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên đã được thành lập và con số này đã tăng lên 41 vào năm 1993. Sau năm 2004, nhiều văn bản pháp lý mới tiếp tục được ban hành như Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Cạnh tranh càng cho phép các doanh nghiệp lớn lấn sân sang lĩnh vực ngân hàng và nhiều nhà đầu tư nước ngoài có cơ hội đầu tư trực tiếp vào hệ thống ngân hàng Việt Nam, điều này góp phần làm tăng số lượng cũng như loại hình ngân hàng... Năm 2000, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã tăng lên con số 75 và năm 2010 là 100 ngân hàng thương mại.

Số lượng ngân hàng tăng lên khiến cho sự phân bổ thị phần giữa các ngân hàng trở nên đồng đều và mức độ cạnh tranh gay gắt hơn. Mặc dù chiếm thị phần cao trong toàn ngành và vẫn được Nhà nước hỗ trợ trong những thời kỳ khó khăn, các ngân hàng thương mại thuộc sở hữu nhà nước dần bị mất đi, thế độc quyền và phải nhường bớt thị phần cho các loại hình ngân hàng còn lại. Tính đến năm 2010, thị phần tiền gửi - tín dụng của những ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước đã cân bằng với phần còn lại của hệ thống, điều này cho thấy tính tập trung của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã giảm đáng kể. Các số liệu về chỉ số tập trung ngành ngân hàng của World Bank cũng đã chứng minh cho sự phi tập trung hóa từ mức độ cao trong giai đoạn trước 2006 xuống mức trung bình trong giai đoạn từ 2006 - 2011. Mức hơn 50% vẫn là con số không nhỏ tuy nhiên những kết quả trên phần nào cũng cho thấy thành quả sau hơn 15 năm cải tổ liên tục hệ thống ngân hàng, ngành ngân hàng Việt Nam hiện nay đã trở nên cạnh tranh và phi tập trung hóa hơn.

b. Mức độ vốn hóa của hệ thống

Mức độ vốn hóa là yếu tố quan trọng thứ hai để đánh giá hiệu quả tác động của chính sách tiền tệ đến hệ thống ngân hàng. Mức độ vốn hóa đặc trưng cho khả năng huy động tài chính từ bên ngoài của ngân hàng, những ngân hàng có mức độ vốn hóa cao sẽ dễ dàng tiếp cận với các nguồn tài chính hơn và với chi phí sử dụng vốn thấp hơn, do đó hạn chế được những ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến cung tín dụng. Công cuộc nghiên cứu tại rất nhiều quốc gia như Italia (Gambcorta và Mistrulli 2003), Chile (Alfaro & cộng sự 2003), Ukraine (Golodniuk 2006), Slovakia (Ahtik 2012) đều tìm thấy bằng chứng rằng những ngân hàng có mức độ vốn hóa cao (đặc trưng bởi hệ số an toàn vốn cao) ít chịu tác động của chính sách tiền tệ hơn so các ngân hàng có mức độ vốn hóa thấp, do vậy, yếu tố này ảnh hưởng ngược chiều tới hiệu quả của kênh tín dụng ngân hàng.

Về mức độ vốn hóa, số liệu về hệ số an toàn vốn ngành ngân hàng Việt Nam còn rất hạn chế nên khó có thể đánh giá một cách tổng quan toàn bộ hệ thống xuyên suốt từ năm 1990 đến nay. Do vậy, chúng ta có thể phân chia thành hai giai đoạn chính đó là giai đoạn trước năm 2005 và giai đoạn sau năm 2005. Trước năm 2005, mà cụ thể là trước năm 1999, hệ thống ngân hàng 2 cấp Việt Nam còn khá non trẻ, toàn bộ thị phần ngành ngân hàng chủ yếu nằm trong tay các ngân hàng nhà nước. Các quy định về hoạt động trong ngành ngân hàng, điển hình là các quy định về an toàn vốn, quy định về khả năng chi trả còn rất mơ hồ. Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 quy định tổ chức tín dụng không được huy động quá 20 lần của vốn tự có và quỹ dự trữ và không được vay quá 10% của vốn tự có và quỹ dự trữ. Quy định này còn khá đơn giản và do thiếu vắng các cơ chế giám sát nên nó chỉ mang ý nghĩa hình thức. Đến năm 1992, Quyết định số 107/QĐ-NH5 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có bổ sung thêm điều khoản “tổ chức tín dụng phải duy trì thường xuyên tỉ lệ tối thiểu giữa vốn tự có với tổng giá trị tài sản ở mức 5%”. Quyết định này có sự tiến bộ hơn so với Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 do nó đã bổ sung thêm điều khoản về an toàn vốn, tuy nhiên nó vẫn chưa phản ánh được mối quan hệ giữa vốn tự có với tình hình tài sản rủi ro của ngân hàng, hay nói cách khác đi, nó chưa phản ánh được quan điểm của “an toàn vốn” trong Basel I. Hạn chế này khiến hệ thống ngân hàng trong thời kỳ 1990 - 1999 luôn duy trì một tỉ lệ an toàn vốn rất thấp, đỉnh điểm của việc duy trì một tỉ lệ an toàn vốn quá rủi ro như vậy là cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 1997 khi 2 trong số 4 ngân hàng nhà nước (chiếm tỉ trọng 51% tín dụng toàn ngành) lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán; 2 ngân hàng nhà nước còn lại chịu rủi ro vỡ nợ rất cao; hệ thống ngân hàng cổ phần rơi vào trạng thái trì trệ; thiệt hại tài khóa ước tính 10% GDP (Capiro và Klingebiel, 2003; Laeven và Valencia, 2008). Kể từ năm 1999, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục ban hành Quyết định số 297/1999/QĐ-NHNN qua đó quy định lại về khái niệm an toàn vốn, cụ thể là “tổ chức tín dụng phải duy trì tỉ lệ tối thiểu 8% vốn tự có so với tài sản có”. Khái niệm mới này đã có một bước tiến hơn so với Quyết định năm 1992 đó là việc tính toán tài sản có đã được điều chỉnh theo mức độ rủi ro. Tuy nhiên, khối ngân hàng nhà nước thời gian này vẫn không thể đáp ứng được tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu theo phương pháp tính toán mới. Tình trạng này kéo dài đến năm 2000 khiến một số ngân hàng nhà nước rơi vào nguy cơ phá sản, điều này buộc Chính phủ phải bơm thêm 12.000 tỉ đồng để tăng vốn tự có cho 4 ngân hàng nhà nước. Mặc dù nhận được gói cứu trợ từ Chính phủ, khối ngân hàng nhà nước vẫn không mấy cải thiện được tình hình khi hệ số an toàn vốn vẫn luôn ở mức dưới ngưỡng quy định trong suốt giai đoạn 1999 - 2005.

Giai đoạn 2005 - 2010 được đánh dấu bởi sự kiện quan trọng đó là việc ban hành Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN qua đó bổ sung thêm phương pháp xác định an toàn vốn tối thiểu theo đúng quan điểm của Basel I. Đây là một bước tiến rất quan trọng đối với ngành Ngân hàng Việt Nam vì chúng ta đã có thể tiếp cận các phương pháp tính toán rủi ro mới theo đúng chuẩn mực quốc tế. Hệ thống ngân hàng nhà nước trong giai đoạn này mặc dù vẫn chưa thể đạt được tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu như quy định, nhưng cũng phần nào đã cải thiện được tình hình một cách đáng kể so với giai đoạn 1999 - 2005. Hệ thống ngân hàng ngoài nhà nước thì cũng nhanh chóng tăng được vốn tự có nhờ tình hình thuận lợi của môi trường kinh doanh cũng như sự bùng nổ của thị trường chứng khoán năm 2006-2008. Hệ quả là tình hình an toàn vốn toàn ngành Ngân hàng Việt Nam giai đoạn này đạt được triển vọng tươi sáng hơn so với những năm 1999 - 2005.

Năm 2010, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục ban hành Thông tư số 13/2010/TT-NHNN qua đó phân loại và đưa ra phương pháp tính tỉ lệ an toàn vốn riêng lẻ và tỉ lệ an toàn vốn hợp nhất cho các tổ chức tín dụng Việt Nam. Đây là một văn bản có nhiều tiến bộ so với Quyết định năm 2005 vì nó đã theo sát được với khái niệm “an toàn vốn” trong Basel II. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng nâng tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu cho các tổ chức tín dụng lên 9%. Việc siết chặt tỉ lệ an toàn vốn và nâng cao các chế tài xử phạt đối với các tổ chức tín dụng vi phạm quy định đã buộc các ngân hàng trong giai đoạn này phải tăng vốn để đảm bảo tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% của Ngân hàng Nhà nước. Nhìn chung trong giai đoạn 2010 - 2013, các ngân hàng thương mại cổ phần đều tuân thủ quy định về an toàn vốn theo Thông tư năm 2010, nhóm các ngân hàng nhà nước cũng dần cải thiện được hệ số an toàn vốn và đạt ngưỡng yêu cầu. Điều này góp phần nâng tỉ lệ an toàn vốn toàn ngành trong giai đoạn này lên trên mức 11%.

c. Một số yếu tố khác

Ngoài mức độ tập trung ngành và mức độ vốn hóa, còn nhiều yếu tố khác cũng có thể ảnh hưởng tới hiệu quả của kênh tín dụng ngân hàng, chẳng hạn như tính thanh khoản. Với những ngân hàng có tính thanh khoản cao, họ sẽ dễ dàng bán ra các tài sản thanh khoản của mình để bảo vệ danh mục đầu tư trước những cú sốc của chính sách tiền tệ. Do vậy, tính thanh khoản được kỳ vọng là có ảnh hưởng âm tới hiệu quả của kênh tín dụng ngân hàng và điều này cũng được khẳng định bởi các bằng chứng thực nghiệm...

2. Sự phát triển của thị trường vốn

Ở những quốc gia có thị trường vốn phát triển, doanh nghiệp có thể dễ dàng thay thế các nguồn vay tín dụng ngân hàng bằng các hình thức huy động tài chính khác từ thị trường do vậy sự thay đổi trong cung tín dụng sẽ ít tác động được đến tiêu dùng và đầu tư. Điều này hàm ý một thị trường vốn hiệu quả sẽ làm giảm đi hiệu lực của kênh tín dụng ngân hàng. Những công trình nghiên cứu sơ khởi về kênh tín dụng ngân hàng, như Bernanke và Blinder (1988), cũng đã khẳng định rằng nếu người đi vay có ít khả năng tiếp cận với thị trường vốn và quá phụ thuộc vào nguồn vốn vay ngân hàng thì sự thay đổi trong tài sản ngân hàng sẽ tác động đến đầu tư, qua đó ảnh hưởng đến tổng cầu. Các công trình thực nghiệm sau này dựa trên nền tảng lý luận sự ảnh hưởng của thị trường vốn đến hiệu quả kênh tín dụng ngân hàng cũng đều tìm thấy các bằng chứng ủng hộ luận điểm trên.

Ở Việt Nam, thị trường vốn được xây dựng và phát triển chỉ hơn một thập kỷ qua do vậy còn đang ở bước đầu của thời kỳ phát triển, chưa thể trở thành một kênh dẫn vốn quan trọng đối với hệ thống doanh nghiệp. Về thị trường trái phiếu, trái phiếu Chính phủ và trái phiếu của một số ít doanh nghiệp đặc biệt vốn dĩ đã được phát hành từ những năm đầu của thập kỷ 90, tuy nhiên ở thời điểm đó, Việt Nam chưa có một thị trường trái phiếu thứ cấp theo đúng nghĩa. Tới tháng 7/2000, Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh mới được mở cửa đánh dấu lần đầu tiên trái phiếu Chính phủ được niêm yết trên thị trường thứ cấp. Thị trường thứ cấp ra đời mở ra triển vọng doanh nghiệp có thể thay thế nguồn vốn vay tín dụng ngân hàng bởi một kênh vay nợ mới - kênh trái phiếu. Tuy nhiên, thực tế thì trái phiếu doanh nghiệp đã không xuất hiện trên thị trường suốt 7 năm ròng kể từ khi ra đời. Chính phủ mới là người huy động vốn chủ yếu trên thị trường này. Mãi tới tận năm 2007, những lô trái phiếu doanh nghiệp đầu tiên mới được niêm yết đánh dấu sự tham gia nhỏ lẻ của khối doanh nghiệp vào thị trường. Từ đó đến nay, thị trường trái phiếu vẫn phát triển một cách khiêm tốn so với tăng trưởng của tín dụng ngân hàng và sự góp mặt của trái phiếu doanh nghiệp chỉ chiếm chưa tới 10% quy mô của thị trường. Điều này khẳng định trái phiếu chưa phải là một kênh dẫn vốn quan trọng đối với hệ thống doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.

Cũng như thị trường trái phiếu, thị trường chứng khoán Việt Nam được xây dựng và phát triển từ những năm đầu của thập kỷ trước, đánh dấu bằng việc ra đời của Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh tháng 7/2000. Ở giai đoạn 2000 - 2005, thị trường phát triển một cách khá chậm chạp và sơ khai do thiếu vắng các cơ chế giám sát và khung pháp lý đầy đủ. Mãi tới khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực cùng với đó là việc ban hành Luật Chứng khoán năm 2006, thị trường chứng khoán Việt Nam mới trở nên hoàn chỉnh khung pháp lý và thị trường này phát triển tới đỉnh cao vào năm 2007, tuy nhiên, bị sụt giảm hơn một nửa giá trị vào năm 2008 do ảnh hưởng của cú sốc khủng hoảng kinh tế thế giới. Kể từ đó đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn đang trên đà phục hồi từ cuộc suy thoái toàn cầu. Mặc dù tốc độ phục hồi và phát triển là khá ấn tượng, nó vẫn chỉ chiếm chưa bằng 25% so với nguồn vốn các doanh nghiệp huy động từ tín dụng ngân hàng. Điều này cho thấy, hệ thống doanh nghiệp Việt Nam vẫn phụ thuộc phần lớn vào nguồn vốn vay ngân hàng hơn là nguồn vốn huy động từ thị trường chứng khoán. Đánh giá chung về quy mô hoạt động của cả thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu doanh nghiệp so với tổng tín dụng ngân hàng cấp cho khu vực tư nhân từ năm 1995 - 2012, chúng ta thấy rõ quy mô áp đảo của nguồn vốn tín dụng ngân hàng so với nguồn vốn huy động từ hai thị trường trên. Điều này chứng tỏ rằng hệ thống doanh nghiệp và hộ gia đình Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào nguồn vốn vay tín dụng ngân hàng thay vì các hình thức huy động tài chính khác.

Tóm lại, chính sách tiền tệ ngoài việc truyền dẫn thông qua các kênh như tỉ giá hoặc lãi suất, nó còn chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi kênh tín dụng ngân hàng. Kết quả chứng minh tồn tại một kênh tín dụng ngân hàng ở nền kinh tế Việt Nam và kênh truyền dẫn này khuếch đại đáng kể hiệu lực tác động của chính sách tiền tệ lên nền kinh tế thực. Ngoài ra, hiệu quả của nó chỉ phụ thuộc vào những đặc điểm riêng của hệ thống ngân hàng cũng như của thị trường vốn. Hệ thống ngân hàng càng tập trung, quy mô ngân hàng càng lớn và khỏe mạnh thì chính sách tiền tệ truyền dẫn thông qua kênh tín dụng ngân hàng càng trở nên suy yếu; tương tự, thị trường vốn càng phát triển, doanh nghiệp và hộ gia đình càng có cơ hội thay thế các nguồn vốn vay tín dụng ngân hàng bởi nguồn vốn huy động trên thị trường vốn thì các tác động của chính sách tiền tệ thông qua kênh tín dụng ngân hàng càng trở nên mờ nhạt. Dựa trên cơ sở đó, khi thực thi chính sách tiền tệ, Chính phủ cần cân nhắc đến cả các đặc điểm riêng của thị trường vốn cũng như hệ thống ngân hàng trong nước. Mọi quy định làm thay đổi cấu trúc của thị trường vốn hoặc cấu trúc của hệ thống ngân hàng thì cũng có thể làm suy yếu (hoặc khuếch đại) hiệu lực của chính sách tiền tệ truyền dẫn thông qua kênh này.

TS. Lê Thái Phong
Đại học Ngoại thương Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Đức Trung (2011), An toàn vốn của các Ngân hàng thương mại - Thực trạng Việt Nam và giải pháp cho việc áp dụng Hiệp ước tiêu chuẩn vốn Basel II & III, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, nguồn:

[2]. Nguyễn Văn Tiến (2010), Giáo trình kinh tế tiền tệ ngân hàng, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.

[3]. Sbv (2016), Các kênh truyền dẫn tín dụng
[4]. Stewart, C. & Nguyen Ngoc Thao (2013), Concentration and efficiency in the Vietnamese banking system between 1999-2009: A structural model approach, Journal of Financial Regulation and Compile, Emerald Group Publishing, Vol. 21, pp.268-283.

[5]. Tobin, J. 1969, A general equilibrium approach to monetary theory, Journal of money, credit and banking, 1(1), tr. 15-29.

[6]. Ủy ban Kinh tế Quốc hội (2013), Các quy định về tài chính, cấu trúc thị trường tài chính và hiệu quả của chính sách tiền tệ tại Việt Nam, Nhà xuất bản Tri Thức, Hà Nội.

[7]. World Bank (2009), Project performance assessment report Vietnam rural finance project, World Bank report No. 48763.


Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: