Thứ bảy 07/03/2026 15:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn giữ người trong trường hợp khẩn cấp được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân là tư tưởng xuyên suốt trong Hiến pháp năm 2013. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Điều 14). Đây là nguyên tắc rất quan trọng, thể hiện tư tưởng pháp quyền, đề cao trách nhiệm của Nhà nước trước nhân dân, đồng thời, là cơ sở pháp lý cao nhất để mọi người và công dân bảo vệ và thực hiện quyền con người, quyền công dân của mình.

Để phù hợp với Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có nhiều thay đổi phù hợp với thực tiễn công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm cũng như đảm bảo quyền con người, quyền công dân, là tư tưởng xuyên suốt trong Hiến pháp năm 2013. Theo đó, trong các quy định về những biện pháp ngăn chặn của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các nhà làm luật đã thể chế hóa đầy đủ các quy định trong Hiến pháp năm 2013 và các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia ký kết.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì trong các trường hợp bắt khẩn cấp, các cơ quan có thẩm quyền được phép bắt người trước, sau đó mới gửi hồ sơ, thủ tục sang đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt. Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân”, nên quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 sẽ không còn phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013. “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” là biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Biện pháp này thay thế cho biện pháp “Bắt người trong trường hợp khẩn cấp” được quy định tại Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là phù hợp. Đây là biện pháp ngăn chặn quan trọng, tác động đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, có ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

Về mặt nội dung, quy định về biện pháp “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” trong Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành có các nội dung cơ bản sau đây:

- Căn cứ áp dụng biện pháp “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” theo quy định tại khoản 1 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có 03 trường hợp: Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Như vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có căn cứ áp dụng giống như các căn cứ áp dụng biện pháp “Bắt người trong trường hợp khẩn cấp” của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung thêm các nội dung là sự “xác nhận của người cùng thực hiện tội phạm” và việc phát hiện “dấu vết tội phạm tại nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm” là những căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn này. Nội dung này cho phép giải thích rõ ràng hơn, cụ thể hơn căn cứ áp dụng, tránh những trường hợp suy luận chủ quan, hoặc bỏ lọt những chứng cứ có tính chất tương tự mà không có căn cứ pháp lý để áp dụng.

Đồng thời, nhằm khắc phục quy định mang tính chất chung chung, chưa cụ thể về căn cứ bắt khẩn cấp trong trường hợp một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003: “Khi có căn cứ để cho rằng…”, điểm a khoản 1 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải bảo đảm: “Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Như vậy, trong trường hợp này khi muốn giữ người trong trường hợp khẩn cấp thì cơ quan tiến hành tố tụng phải thu thập được đầy đủ căn cứ để xác định người đó có các hành vi đang chuẩn bị thực hiện tội phạm và tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Về thẩm quyền ra lệnh “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp”: Khoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định những người có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp bao gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng”.

- Về trình tự, thủ tục: Tại khoản 3 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ người”. Khoản 4 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.

Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người quy định tại điểm c khoản 2 Điều này phải giải ngay người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quan điều tra nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận người bị giữ, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.

Khoản 5 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp gồm: Văn bản đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định tạm giữ; biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Như vậy, có thể thấy quy định về biện pháp “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” tại khoản 1 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã khắc phục được những bất cập để phù hợp với Hiến pháp năm 2013. Những vấn đề sửa đổi, bổ sung quan trọng về căn cứ, thẩm quyền và trình tự, thủ tục có ý nghĩa to lớn trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu nội dung và thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn này và một số điều luật khác có liên quan, có thể thấy một số khó khăn, vướng mắc sau đây:

Một là, Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với tiêu đề là “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” nhưng nội dung của Điều này lại điều chỉnh đối với cả 2 biện pháp: Giữ người và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp (lệnh, thủ tục phê chuẩn và thi hành lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp). Chúng ta có thể nhận thấy, điều này là chưa phù hợp, cần phải tách quy định tại Điều này thành hai điều luật khác nhau là “giữ người trong trường hợp khẩn cấp” và “bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp” mới bảo đảm sự rõ ràng và hợp lý về kỹ thuật lập pháp.

Hai là, Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự và chỉ có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn “giữ người trong trường hợp khẩn cấp” đối với một số tội phạm nhất định - được quy định tại Điều 14 Bộ luật Hình sự là chưa triệt để; chưa đảm bảo yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa và răn đe tội phạm. Vì mục đích chính của biện pháp “giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng” là kịp thời ngăn chặn tội phạm, từ đó ngăn chặn việc họ có thể gây ra các hậu quả nguy hại rất lớn cho xã hội. Trong khi đó, có một số tội phạm có tính chất nguy hiểm cao cho xã hội như: Hiếp dâm, mua bán người, mua bán trái phép chất ma túy, cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản… không được quy định trong Điều 14 Bộ luật Hình sự - tức là đối với những tội phạm này người chuẩn bị phạm tội sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự cũng như bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Mà trên thực tế, những loại tội phạm này đều là các loại tội phạm mà người phạm tội có thể liên kết để hoạt động ổ nhóm, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp để gây ra hậu quả nguy hại rất lớn cho xã hội. Đây là một trong những quy định của pháp luật chưa thực sự hợp lý, có thể bỏ lọt và không kịp thời ngăn chặn được một số hành vi phạm tội nêu trên.

Ba, theo quy định tại Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nếu có đủ căn cứ thì có thể giữ người trong trường hợp khẩn cấp bất kỳ lúc nào, kể cả vào ban đêm. Sau khi giữ người, Cơ quan điều tra sẽ áp giải người bị giữ về trụ sở của mình. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và những người có thẩm quyền phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó, thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra áp giải người bị giữ về trụ sở của mình (khoản 1 Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự). Tuy nhiên, khoản 6 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự lại có quy định khác, tuy cho phép áp dụng biện pháp áp giải đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, nhưng lại không được bắt đầu việc áp giải vào ban đêm (từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau). Như vậy, giữa Điều 110 và Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự chưa thống nhất với nhau về thời điểm bắt đầu việc áp giải. Điều này có thể gây khó khăn cho các cơ quan điều tra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Dó đó, cần có sự hướng dẫn hoặc sửa đổi lại nội dung các điều luật trên theo hướng có sự thống nhất.

Bốn là, theo quy định tại điểm c khoản 2 và khoản 4 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự có thể hiểu rằng, sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng phải giải ngay người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quan điều tra nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về.

Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận người bị giữ, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do ngay cho người đó… Điều này cho thấy những người quy định tại điểm c khoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không có quyền quyết định ra lệnh tạm giữ. Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự lại quy định: Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng có quyền ra quyết định tạm giữ. Như vậy là có sự mâu thuẫn trong giữa khoản 2 Điều 110 và khoản 2 Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có sự hướng dẫn cụ thể hoặc sửa đổi thống nhất lại trong nội dung của các điều luật trên.

Năm, về thời điểm ra quyết định tạm giữ và lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Tại khoản 4 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn…

Liên quan đến vấn đề này, tại Công văn số 5024/VKSTC-V14 ngày 19/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã giải đáp: Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải ra quyết định tạm giữ đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi giữ người hoặc nhận người bị giữ (chưa cần có quyết định phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp của Viện kiểm sát). Quyết định tạm giữ đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được ban hành trước hoặc cùng với lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.

Với quy định và giải đáp nêu trên thì trong trường hợp quyết định tạm giữ được ban hành trước lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đã trở thành người bị tạm giữ. Cho nên nếu có căn cứ bắt người thì Cơ quan điều tra phải ra lệnh bắt người bị tạm giữ, việc quy định ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp tại thời điểm này đã không còn phù hợp. Vì vậy, theo tác giả các nhà làm luật nên cân nhắc và quy định một cách cụ thể về thời điểm ra quyết định tạm giữ và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.

Sáu là, về địa điểm thực hiện lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Theo trình tự tố tụng thì lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được thực hiện tại nhà tạm giữ, quyết định tạm giữ của Cơ quan điều tra gửi đến giám thị nhà tạm giữ/tạm giam để thi hành (khi có quyết định tạm giữ thì người bị tạm giữ được đưa vào nhà tạm giữ). Nhưng thực tế, theo trình tự tố tụng trên thì việc thi hành lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không phải thực hiện tại nhà tạm giữ mà thực hiện tại trụ sở Cơ quan điều tra hoặc tại một địa điểm khác.

Thực tiễn xảy ra mâu thuẫn khi lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản giữ người và việc áp giải người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quan điều tra nhưng khi thi hành lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thực hiện tại Công an phường, xã, thị trấn nơi tội phạm xảy ra.

Bảy là, về cách tính thời hạn tạm giữ sau khi giữ người cũng chưa có sự thống nhất. Sau 12 giờ từ khi giữ người, cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định trả tự do hoặc tạm giữ. Trong trường hợp tạm giữ thì thời hạn tạm giữ được tính như thế nào thì luật chưa quy định rõ ràng nên việc tính thời hạn tạm giữ giữa các cơ quan có thẩm quyền cũng không có sự thống nhất. Một số đơn vị, địa phương tính thời hạn tạm giữ từ khi bắt đầu giữ người nhưng cũng có đơn vị, địa phương khác tại tính thời hạn từ thời điểm tạm giữ, tức là sau khi giữ người 12 giờ.

Tám là, quy định về địa điểm giữ người chưa cụ thể; việc sử dụng vũ lực để giữ người trong trường hợp có hành vi chống đối hoặc trốn tránh cũng chưa được pháp luật điều chỉnh, gây khó khăn cho việc áp dụng biện pháp này. Bởi không phải người bị giữ nào cũng nghiêm chỉnh chấp hành các mệnh lệnh của cơ quan hoặc người có thẩm quyền. Khi Cơ quan điều tra áp dụng biện pháp này mà người bị giữ không chấp hành, thậm chí có hành vi chống trả thì lực lượng chức năng được sử dụng vũ lực đến mức độ nào để thực hiện chưa được quy định cụ thể, rõ ràng. Ngoài ra, luật cũng không quy định về địa điểm giữ người nên quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn, lúng túng.

Chín là, tại khoản 1 Điều 114 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người hoặc nhận người bị giữ, bị bắt, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 12 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt. Quy định này chưa đầy đủ - cụ thể là mới chỉ quy định ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt, chưa có quy định ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị giữ. Vì theo nội dung của quy định trên thì đối tượng áp dụng bao gồm của người bị bắt và người bị giữ.

Mười là, Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về biện pháp “giữ người trong trường hợp khẩn cấp” nhưng lại điều chỉnh cả biện pháp “bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp” vừa không hợp lý về mặt kỹ thuật lập pháp vừa dường như làm cho biện pháp “bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp” trở nên không cần thiết. Bởi vì, mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn là “để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án”. Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, nếu xét thấy người bị giữ có thể gây khó khăn cho việc giải quyết vụ việc, Cơ quan điều tra chỉ cần ra quyết định tạm giữ, sau đó ra quyết định khởi tố bị can rồi ra quyết định tạm giam hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác hoặc trả tự do. Vì vậy, không nhất thiết phải áp dụng thêm biện pháp “bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp”, khi áp dụng làm phát sinh thêm thủ tục tố tụng, rườm rà, gây mất thời gian, lúng túng trong một số các tình huống nêu trên cho cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền.

Qua việc nghiên cứu nội dung cũng như thực tiễn áp dụng, chúng ta có thể nhận thấy những thay đổi quan trọng về căn cứ, thẩm quyền và trình tự, thủ tục áp dụng như đã phân tích nêu trên có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, đặc biệt là trong việc áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự. Tuy nhiên, việc sử dụng biện pháp ngăn chặn này sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người và kết quả giải quyết vụ án sau này nên các cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét thận trọng nhằm áp dụng chính xác, chỉ áp dụng khi thật cần thiết, tránh lạm dụng. Đồng thời, đề nghị các nhà làm luật cũng như các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện hướng dẫn áp dụng pháp luật cần nhanh chóng có những biện pháp nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn trên, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong bối cảnh mới.

ThS. Phạm Thị Yến

Đại học Công nghệ Đông Á

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: