Thứ bảy 14/03/2026 02:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những kỷ niệm của một thời đáng nhớ

Những kỷ niệm của một thời đáng nhớ

Năm 1983, sau khi tốt nghiệp đại học, tôi được Bộ Đại học (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) phân công về Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp.

Buổi đầu tới nhận công tác, ông Viện trưởng kiêm Tổng biên tập phân công tôi làm việc ở bộ phận Tạp chí. Một hôm, sau khi trao đổi công việc xong, ông Tổng biên tập - Nguyễn Văn Thảo hỏi tôi:

- Cậu có đọc Báo Nhân dân không?

Tôi đáp:

- Dạ, có ạ. (Lúc bấy giờ sách báo rất ít, chủ yếu là báo viết, chưa có báo mạng, chưa có máy tính thông dụng như bây giờ. Tài liệu tham khảo hàng ngày chủ yếu là Báo Nhân dân, thỉnh thoảng mới được đọc “Tin tham khảo” của Thông tấn xã Việt Nam. Tài liệu mật, dành riêng cho Vụ trưởng).

Ông lại hỏi tiếp:

- Đọc báo, cậu đọc trang, bài nào?

Tôi đáp:

- Dạ, cháu thường đọc tin, bài ở trang 1 và trang 4 (thông thường các tin, bài ở trang 1 và trang 4 Báo Nhân dân hay đưa các tin về hiếu, hỉ, sự kiện thế giới và đăng nhiều ảnh đẹp; tin bài lại ngắn, dễ đọc).

Nghe tôi trả lời, trầm ngâm một lúc, ông nhìn tôi và nói tiếp:

- Cậu còn trẻ, đường đi phía trước còn dài. Muốn trở thành nhà báo, nhà nghiên cứu hay bất kỳ nhà gì đi nữa với đúng nghĩa của nó, thì cậu phải đọc mục “Xã luận”, phải đọc Tạp chí Cộng sản và phải biết tiếng Anh.

Nghe ông nói, tôi buồn cười, nhưng cố nén, không dám cười to. Trong đầu tôi xuất hiện ý nghĩ: “Có lẽ ông này lẩm cẩm, chắc do tuổi tác. Ai sức đâu mà đọc “Xã luận”. Nội dung thì khô khan, câu văn thì lên gân, lên cốt. Còn học tiếng Anh ư, cần gì. Tiếng Nga - Tiếng nói của Lênin mình đã đọc thông, viết thạo. Thế là quá đủ”. Tôi đáp chiếu lệ:

- Vâng ạ.

Theo thời gian, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông, chúng tôi bắt tay vào xây dựng tờ tạp chí (lúc bấy giờ ra 2 tháng một số), in bằng giấy đen, màu chủ đạo là đen trắng, chưa có ảnh màu đẹp như bây giờ.

Cho dù gặp muôn vàn khó khăn, nhưng phải thừa nhận thời kỳ ông Nguyễn Văn Thảo làm Tổng biên tập, Tạp chí đã có những đóng góp xuất sắc cho Ngành Tư pháp cũng như cho nền khoa học pháp lý non trẻ nước nhà. Tạp chí Pháp chế XHCN đã có vị trí xứng đáng trong làng báo chí Cách mạng Việt Nam. Anh em phóng viên, biên tập viên chúng tôi rất tự tin, tự hào giới thiệu mình là người của Tạp chí với bất kỳ cơ quan, tổ chức nào từ Trung ương tới địa phương và với bất kỳ cơ quan báo bạn nào, kể cả Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân dân, Báo Quân đội Nhân dân, Đài Truyền hình hay Đài Tiếng nói Việt Nam…

Sự tự tin, tự hào của anh em chúng tôi trong quá trình tác nghiệp báo chí là có cơ sở, không ai có thể phủ nhận. Bởi ngay vào những năm đầu của thập kỷ 80 thế kỷ trước, khi cả nước vẫn chìm sâu trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp, theo sự chỉ đạo của Tổng biên tập, tôi đã đến gặp ông Chế Viết Tấn - Nguyên Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương đề nghị ông viết bài cho Tạp chí. Bài của ông có tựa đề: “Pháp luật và việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế”, được Tổng biên tập duyệt, đăng trong số 1/1988. Sau khi phát hành, bài viết đã gây tiếng vang lớn đối với các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý kinh tế - nhất là ở các tỉnh phía Nam và các nhà nghiên cứu luật học trong cả nước. Bài viết đề cập nhiều thuật ngữ, nhiều tư tưởng rất mới (thú thực khi đọc, bản thân tôi cũng không hiểu vì chưa được học, chưa thấy ai nói như các thuật ngữ: “Hình thái thương mại thực thể”; “Hình thái thương mại vô hình”... Bài viết này đăng trên Tạp chí đã góp phần không nhỏ về mặt khoa học vào công cuộc đổi mới của Đảng, chuyển nền kinh tế nước nhà từ tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Tạp chí còn đăng bài của nhiều học giả hàng đầu trên các lĩnh vực khác nhau của cả nước như bài “Mấy suy nghĩ về chiến lược xây dựng pháp luật Việt Nam” (số 1/1988) của nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp Phan Hiền; “Một số biện pháp nhằm đảm bảo nguyên tắc: Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập, chỉ tuân theo pháp luật” (số 4/1988) của nguyên Thứ trưởng Bộ Tư pháp Trần Đông ; “Bàn về pháp trị và đức trị” (số 1/1988) của Giáo sư Vũ Khiêu; “Về công bằng xã hội” (số 1/1988) của Giáo sư Trần Quốc Vượng; “Tranh luận tại phiên tòa” (số 3/1988) của Giáo sư Nguyễn Ngọc Minh; “Dân chủ và pháp chế” (số 5 + 6/1988) của Giáo sư Hoàng Văn Hảo; “Pháp luật và chính trị” (số 2/1988) của Luật gia Phạm Đình Tân; “Một số ý kiến về giám định pháp y” (số 4/1988) của Giáo sư Nguyễn Như Bằng; “Pháp y học trong đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm” (số 5 + 6/1988) của GS. TSKH Châu Diệu Ái; “Tư duy pháp lý và vấn đề đổi mới” (số 3/1988) của PGS. TS, Hà Hùng Cường ...

Tư tưởng nội dung, cách thể hiện trong các bài viết của các học giả trên Tạp chí dù đã trải qua trên dưới 30 năm, nhưng vẫn là những bài nghiên cứu mẫu mực để các thế hệ trẻ noi theo, là nền tảng lý luận cơ bản, quan trọng của khoa học pháp lý hiện nay.

Để chuẩn bị cơ sở khoa học cho tiến trình cải cách tư pháp, trong thời gian khá dài, Tạp chí đã mở chuyên mục “Trao đổi về việc thỉnh thị và duyệt án”. Chuyên mục đã thu hút được khối lượng đông đảo bạn đọc tham gia như: Vũ Khắc Xương, Ngô Cường, Nguyễn Bá Kim, Hữu Chánh… công tác tại Tòa án nhân dân tối cao; Khuất Văn Nga, Vũ Đức Khiển (Viện kiểm sát nhân dân tối cao); Nguyễn Trọng Nghĩa (Toà án nhân dân tỉnh Đắc Lắc); Huỳnh Ngọc Chi (Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh)... Sau khi kết thúc chuyên mục, Tạp chí đã có quan điểm chính thức về những hệ lụy của việc duyệt và thỉnh thị án (đăng trên số 4 + 5/1988) như:

+ Hạn chế quyền độc lập khi xét xử của thẩm phán và hội thẩm nhân dân đã ghi trong Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân;

+ Kìm hãm, không phát huy trình độ chuyên môn, tạo sức ì trong tư duy, ỉ lại trông chờ vào cấp trên của thẩm phán;

+ Không sát thực tiễn (nhiều tình tiết mới nảy sinh trong phiên tòa xét xử nhưng thẩm phán thụ động, không dám quyết định khác với ý kiến đã cho trước);

+ Hội thẩm nhân dân trở thành hình thức, luật sư bị vô hiệu hóa, bị cáo bị dồn ép, thiếu bình đẳng; bị cáo, bị đơn ngại kháng án vì biết đã có mức án trước;

+ Thẩm phán xét xử ít quan tâm tới ý kiến của Viện kiểm sát; Viện kiểm sát ngại kháng nghị vì biết đã có ý kiến của lãnh đạo;

+ Gây trì trệ, tốn kém tiền của vô ích, đôi khi tạo ra sự nghi ngờ, mâu thuẫn trong nội bộ hoặc cấp dưới với cấp trên;

+ Do thụ động, ỉ lại và nhiều khi do trình độ yếu, Tòa án đã hợp lý hóa những sai lầm của cơ quan điều tra, truy tố dẫn tới tình trạng xử oan, sai, bỏ sót tội phạm;

+ Tòa án cấp trên ngại sửa sai bản án, vì đó là ý kiến đã cho trước của mình. Do mất nhiều công sức vào việc “xét xử hộ cấp dưới”, nên nhiệm vụ chính của mình như tổng kết, hướng dẫn công tác xét xử, giám đốc lại các bản án có sai sót làm không kịp thời, để dây dưa, kéo dài. Hậu quả, uy tín của Tòa án bị giảm sút, pháp luật không phát huy được hiệu lực, tạo ra tâm lý coi thường pháp luật, sử dụng “luật rừng” để giải quyết tranh chấp trong nhân dân.

Quan điểm của Tạp chí về những hệ lụy của việc thỉnh thị và duyệt án, chắc chắn còn nguyên giá trị trong công cuộc cải cách tư pháp đang được tiến hành hiện nay ở nước ta.

Bên cạnh đó, Tạp chí còn có những bài đi sâu nghiên cứu nhằm giải quyết rành mạch mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan thông tấn báo chí, điển hình như bài “Đồng chí Chánh án Toà án nhân dân thị xã Bắc Ninh trả lời báo Tuần tin tức”. Bài báo đã phân tích cái sai do không nắm, không hiểu được pháp luật về tố tụng của nhóm phóng viên báo “Tuần tin tức” khi đưa tin hoạt động xét xử của Tòa án đã phê phán Hội đồng xét xử bỏ mặc mọi người ở phòng xử án, mà không hiểu Hội đồng xét xử phải vào phòng kín để nghị án trước khi tuyên án. Hay bài “Quyền nhà báo, kỷ luật phiên tòa và việc thu máy ghi âm của Tòa án Ba Đình - Hà Nội” (số 1/1990). Nội dung bài báo đã phân tích thẳng thắn, chỉ ra cái sai, cái đúng của Toà án nhân dân quận Ba Đình - Hà Nội và cái sai, cái đúng của tổ phóng viên báo “Giáo viên nhân dân” khi hoạt động đưa tin tại phiên tòa. Qua phân tích, bài báo đưa ra một số kiến nghị cụ thể nhằm đảm bảo cho báo chí hoạt động dân chủ, nhưng dứt khoát phải nằm trong khuôn khổ mà pháp luật đã quy định.

Có thể nói, những thành quả của Tạp chí nêu trên là chỗ dựa tin cậy, là nền tảng để anh em phóng viên, biên tập viên chúng tôi tự tin trong công tác và cũng từ đây, tạo được sự kính trọng, vị nể của các báo, tạp chí bạn. Trong thành quả này, không thể không nhắc đến đóng góp không nhỏ của Tổng biên tập Nguyễn Văn Thảo là người đã đào tạo ra những nhà báo chuyên viết về pháp luật, nhưng trong các tác phẩm báo chí của mình lại chứa đậm nét nhân bản. Tiêu biểu trong số đó phải kể tới nhà báo Lê Thu Hương, một cây bút đã cho ra đời những bài bình luận án sắc xảo, tạo sự nể trọng đối với không ít cán bộ trong Ngành Tòa án cũng như Ngành Tư pháp. Tiếp đến là nhà báo, nhà thơ Phùng Ngọc Đức với các bài đăng trên chuyên mục “Văn học pháp lý” của Tạp chí như “Tình con, tình mẹ”; “Cuộc truy bắt xuyên lục địa” (số 5/1990)… Với tài năng bẩm sinh, nhà báo họ Phùng đã đem đến cho bạn đọc những giây phút nghỉ ngơi cần thiết để tiếp tục chinh phục kho kiến thức pháp luật đồ sộ mà Tạp chí chuyển tải. Nhà báo - TS. Luật học Đặng Vũ Huân với các bài nghiên cứu sắc sảo, để đời như: “Mấy vấn đề pháp lý xung quanh vụ án nước hoa Thanh Hương”; “Ướp xác, luyện bùa - Hành vi nguy hiểm chưa được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự” (số 1/1991); cùng các truyện văn học pháp lý như: “Sợi dây oan trái” (số 1/1990); “Kẻ ngộ sát” (số 3/1991); phóng sự “Gặp người tù trở về”... Để rồi khi Tạp chí phát hành, tới tay bạn đọc, mọi người đều phải có những suy nghĩ, có cái nhìn khác về những người làm việc tại các cơ quan bảo vệ pháp luật. Họ là những người “cứng như thép, nhưng lại dẻo, uyển chuyển, mềm như thép”...

Riêng đối với cá nhân tôi, theo thời gian, tôi cũng lớn lên và già đi. Chẳng hiểu vô tình hay hữu ý, tôi cũng nghiện đọc “Xã luận” của Báo Nhân dân và Tạp chí Cộng sản. Có lẽ do áp lực công việc, buộc bản thân phải tìm hiểu để xử lý những vấn đề đã và đang đặt ra trong cuộc sống. Hay nói nôm na, để có thể gặp gỡ, tiếp chuyện được một cách bình đẳng với các cây đa, cây đề trong và ngoài ngành, với các nhà văn, nhà thơ, nhà báo tên tuổi, thì buộc mình phải có vốn kiến thức nhất định. Và mọi thứ mình cần đều đã được thể hiện một cách cô đọng, xúc tích trong các bài Xã luận, trong các bài nghiên cứu đăng trên Tạp chí Cộng sản. Đọc, đọc mãi rồi quen, đâm ra thích.

Cho tới khi thích đọc “Xã luận” của Báo Nhân dân, mới thấy thấm thía lời khuyên của Tổng biên tập khi tôi mới đi làm. Và rồi từ đó, bất kỳ trên các diễn đàn khoa học dù lớn, dù nhỏ. Từ các bục giảng lớn, sang trọng của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Giao thông - Vận tải, Bộ Công thương, Bộ Y tế, Thanh tra Chính phủ, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Học viện Hành chính - Chính trị Quốc gia, Toà án nhân dân tối cao, ... tới bục giảng của các trường ở hầu hết 63 tỉnh, thành trong cả nước, sau khi kết thúc bài giảng về các chuyên đề của mình, tôi đều nhắc lại câu nói nhớ đời của ông Tổng biên tập Nguyễn Văn Thảo dặn tôi: “Để hiểu và nắm kỹ hơn nội dung các vấn đề nghiên cứu, đề nghị các đồng chí đọc “Xã luận” báo Nhân dân và Tạp chí Cộng sản”.

TS. Trần Nho Thìn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: