Thứ bảy 07/02/2026 20:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những kỷ niệm đáng nhớ về người Tổng biên tập

Buổi đầu tới nhận công tác, ông Viện trưởng, kiêm Tổng biên tập Tạp chí (lúc đó là Tập san Pháp chế xã hội chủ nghĩa) phân công tôi làm việc ở bộ phận Tạp chí. Và tôi công tác liên tục ở Tạp chí cho tới khi nghỉ chế độ (năm 2012).

Năm 1975 chiến tranh kết thúc, sau gần 08 năm phục vụ trong quân đội, tôi được đơn vị cho ra Bắc, chuyển về trường Văn hóa Quân khu 3 ở Chi Nê (Hòa Bình) ôn thi để dự tuyển kỳ thi đại học năm 1976. Sau gần 01 năm học tiếng Nga ở trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, tháng 7/1977, chúng tôi lên tàu liên vận qua Trung Quốc sang Liên Xô học đại học. Năm 1983, sau khi tốt nghiệp, tôi được Bộ Đại học (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) phân công về Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp.

Buổi đầu tới nhận công tác, ông Viện trưởng, kiêm Tổng biên tập Tạp chí (lúc đó là Tập san Pháp chế xã hội chủ nghĩa) phân công tôi làm việc ở bộ phận Tạp chí. Và tôi công tác liên tục ở Tạp chí cho tới khi nghỉ chế độ (năm 2012).

Một hôm, sau khi trao đổi xong công việc, ông Tổng biên tập - Nguyễn Văn Thảo hỏi tôi:

- Cậu có đọc Báo Nhân dân không?

Tôi đáp:

- Dạ, có ạ (lúc bấy giờ sách báo rất ít, chủ yếu là báo viết, chưa có báo mạng, chưa có máy tính thông dụng như bây giờ. Tài liệu tham khảo hàng ngày chủ yếu là Báo Nhân dân, thỉnh thoảng mới được đọc “Tin tham khảo” của Thông tấn xã Việt Nam).

Ông lại hỏi tiếp:

- Đọc báo, cậu đọc trang, bài nào?

Tôi đáp:

- Dạ, cháu thường đọc tin, bài ở trang 1 và trang 4 (thông thường các tin, bài ở trang 1 và trang 4 Báo Nhân dân hay đưa các tin về hiếu, hỉ, sự kiện thế giới và đăng nhiều ảnh đẹp; tin bài lại ngắn, dễ đọc).

Nghe tôi trả lời, trầm ngâm một lúc, ông nhìn tôi và nói tiếp:

- Cậu còn trẻ, đường đi phía trước còn dài. Muốn trở thành nhà báo, nhà nghiên cứu hay bất kỳ nhà gì đi nữa với đúng nghĩa của nó thì cậu phải đọc mục “Xã luận”, phải đọc Tạp chí Cộng sản và phải biết tiếng Anh. Còn nếu muốn hiểu rõ sự đời, sống cuộc đời thanh thản, vui vẻ, nhẹ nhàng, cậu nên đọc mấy tác phẩm văn học: Đông Chu liệt quốc, Tam Quốc diễn nghĩa và Tây Du ký để thấy sự tàn khốc trong tranh giành quyền lực của nhân loại, kỹ năng và thủ thuật bang giao đối ngoại cũng như cách ứng xử với cấp trên và đồng nghiệp.

Nghe ông nói, tôi buồn cười, nhưng cố nén, không dám cười to. Trong đầu tôi xuất hiện ý nghĩ: “Có lẽ ông này lẩm cẩm, chắc do tuổi tác. Ai sức đâu mà đọc Xã luận - Nội dung thì khô khan, câu văn thì lên gân, lên cót. Còn học tiếng Anh ư, cần gì. Tiếng Nga - Tiếng nói của Lênin mình đã đọc thông, viết thạo. Thế là quá đủ”.

Tôi đáp chiếu lệ:

- Vâng ạ.

Theo thời gian, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông, chúng tôi bắt tay vào xây dựng tờ Tạp chí (lúc bấy giờ ra 02 tháng/số), in bằng giấy đen, màu chủ đạo là đen trắng, chưa có ảnh màu đẹp như bây giờ.

Cho dù gặp muôn vàn khó khăn, anh em chúng tôi phần lớn chỉ được đào tạo chuyên ngành luật (ở trong và ngoài nước), không có ai được đào tạo về chuyên ngành báo chí, nhưng phải thừa nhận, thời kỳ ông Nguyễn Văn Thảo làm Tổng biên tập, Tạp chí đã có những đóng góp xuất sắc cho Ngành Tư pháp cũng như cho nền khoa học pháp lý non trẻ nước nhà. Tạp chí Pháp chế xã hội chủ nghĩa đã có vị trí xứng đáng trong làng báo chí Cách mạng Việt Nam. Anh em phóng viên, biên tập viên chúng tôi rất tự tin, tự hào giới thiệu mình là người của Tạp chí với bất kỳ cơ quan, tổ chức nào từ trung ương tới địa phương và với bất kỳ cơ quan báo bạn nào, kể cả Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân dân, Báo Quân đội nhân dân, Đài Truyền hình hay Đài Tiếng nói Việt Nam. Vì họ đều biết chúng tôi là “quân” của Tổng biên tập Nguyễn Văn Thảo.

Sự tự tin, tự hào của anh em chúng tôi trong quá trình tác nghiệp báo chí là có cơ sở, không ai có thể phủ nhận. Bởi vì, ngay vào những năm đầu của thập kỷ 80 thế kỷ trước, khi cả nước vẫn chìm sâu trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp, theo sự chỉ đạo của Tổng biên tập, tôi đã đến gặp ông Chế Viết Tấn - Nguyên Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương đề nghị ông viết bài cho Tạp chí. Bài của ông có tựa đề: “Pháp luật và việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế”, được Tổng biên tập duyệt, đăng trong số 1/1988. Sau khi phát hành, bài báo đã gây tiếng vang lớn đối với các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý kinh tế - nhất là ở các tỉnh phía Nam và các nhà nghiên cứu luật học trong cả nước. Bài báo đề cập nhiều thuật ngữ, nhiều tư tưởng rất mới (thú thực khi đọc, bản thân tôi cũng không hiểu vì chưa được học, chưa thấy ai nói như các thuật ngữ: “Hình thái thương mại thực thể”, “Hình thái thương mại vô hình”...). Bài báo của Tạp chí đã góp phần không nhỏ về mặt khoa học vào công cuộc đổi mới của Đảng, chuyển nền kinh tế nước nhà từ tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tạp chí còn đăng bài của nhiều học giả hàng đầu trên các lĩnh vực khác nhau của cả nước như bài: “Mấy suy nghĩ về chiến lược xây dựng pháp luật Việt Nam” (số 1/1988) của nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp Phan Hiền; “Một số biện pháp nhằm đảm bảo nguyên tắc: “Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập, chỉ tuân theo pháp luật” (số 4/1988) của nguyên Thứ trưởng Bộ Tư pháp Trần Đông; “Bàn về pháp trị và đức trị” (số 1/1988) của GS. Vũ Khiêu; “Về công bằng xã hội” (số 1/1988) của GS. Trần Quốc Vượng; “Tranh luận tại phiên tòa” (số 3/1988) của GS. Nguyễn Ngọc Minh; “Dân chủ và pháp chế” (số 5 + 6/1988) của GS. Hoàng Văn Hảo; “Pháp luật và chính trị” (số 2/1988) của Luật gia Phạm Đình Tân; “Một số ý kiến về giám định pháp y” (số 4/1988) của GS. Nguyễn Như Bằng; “Pháp y học trong đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm” (số 5 + 6/1988) của GS. TSKH. Châu Diệu Ái; “Tư duy pháp lý và vấn đề đổi mới” (số 3/1988) của PGS. TS. Hà Hùng Cường ...

Tư tưởng, nội dung, cách thể hiện trong các bài viết của các học giả trên Tạp chí, dù đã trải qua trên dưới 40 năm nhưng vẫn là những bài nghiên cứu mẫu mực để các thế hệ trẻ noi theo, là nền tảng lý luận cơ bản, quan trọng của khoa học pháp lý hiện nay.

Để chuẩn bị cơ sở khoa học cho tiến trình cải cánh tư pháp, trong thời gian khá dài, Tạp chí đã mở chuyên mục “Trao đổi về việc thỉnh thị và duyệt án”. Chuyên mục đã tập hợp được khối lượng độc giả tham gia đông đảo công tác tại Tòa án nhân dân tối cáo (Vũ Khắc Xương, Ngô Cường, Nguyễn Bá Kim, Hữu Chánh); Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Khuất Văn Nga, Vũ Đức Khiển); Nguyễn Trọng Nghĩa (Tòa án nhân dân tỉnh Đắc Lắc); Huỳnh Ngọc Chi (Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh)... Sau khi kết thúc chuyên mục, Tạp chí đã có quan điểm chính thức về những hệ lụy của việc duyệt và thỉnh thị án (đăng trên số 4 + 5/1988) như:

+ Hạn chế quyền độc lập khi xét xử của thẩm phán và hội thẩm nhân dân đã ghi trong Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân;

+ Kìm hãm, không phát huy trình độ chuyên môn, tạo sức ỳ trong tư duy, ỷ lại trông chờ vào cấp trên của thẩm phán;

+ Không sát thực tiễn (nhiều tình tiết mới nảy sinh trong phiên tòa xét xử nhưng thẩm phán thụ động, không dám quyết định khác với ý kiến đã cho trước);

+ Hội thẩm nhân dân trở thành hình thức, luật sư bị vô hiệu hóa, bị cáo bị dồn ép, thiếu bình đẳng; bị cáo, bị đơn ngại kháng án vì biết đã có mức án trước;

+ Thẩm phán xét xử ít quan tâm tới ý kiến của Viện kiểm sát; Viện kiểm sát ngại kháng nghị vì biết đã có ý kiến của lãnh đạo;

+ Gây trì trệ, tốn kém tiền của vô ích, đôi khi tạo ra sự nghi ngờ, mâu thuẫn trong nội bộ hoặc cấp dưới với cấp trên;

+ Do thụ động, ỷ lại và nhiều khi do trình độ yếu, Tòa án đã hợp lý hóa những sai lầm của cơ quan điều tra, truy tố dẫn tới tình trạng xử oan, sai, bỏ sót tội phạm;

+ Tòa án cấp trên ngại sửa sai bản án vì đấy là ý kiến đã cho trước của mình. Do mất nhiều công sức vào việc “xét xử hộ cấp dưới” nên nhiệm vụ chính của mình như tổng kết, hướng dẫn công tác xét xử, giám đốc lại các bản án có sai sót làm không kịp thời, để dây dưa, kéo dài. Hậu quả là, uy tín của Tòa án bị giảm sút, pháp luật không phát huy được hiệu lực, tạo ra tâm lý coi thường pháp luật, sử dụng “luật rừng” để giải quyết tranh chấp trong Nhân dân.

Quan điểm của Tạp chí về những hệ lụy của việc thỉnh thị và duyệt án chắc chắn còn nguyên giá trị trong công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đang được tiến hành hiện nay ở nước ta.

Bên cạnh đó, Tạp chí còn có những bài viết nghiên cứu nhằm giải quyết rành mạch mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan thông tấn báo chí, điển hình như bài: “Quyền nhà báo, kỷ luật phiên tòa và việc thu máy ghi âm của Tòa án Ba Đình - Hà Nội” (số 1/1990). Nội dung bài báo đã phân tích thẳng thắn, chỉ ra cái sai, cái đúng của Tòa án nhân dân quận Ba Đình - Hà Nội và cái sai, cái đúng của tổ phóng viên Báo “Giáo viên nhân dân” khi hoạt động đưa tin tại phiên tòa. Qua phân tích, bài báo đưa ra một số kiến nghị cụ thể nhằm bảo đảm cho báo chí hoạt động dân chủ, nhưng dứt khoát phải nằm trong khuôn khổ mà pháp luật đã quy định.

Có thể nói, những thành quả của Tạp chí nêu trên là chỗ dựa tin cậy, là nền tảng để anh em phóng viên, biên tập chúng tôi tự tin trong công tác và cũng từ đây tạo được sự kính trọng, vị nể của các báo, tạp chí bạn.

Một đóng góp không nhỏ của Tổng biên tập Nguyễn Văn Thảo là đã đào tạo ra những nhà báo chuyên viết về pháp luật nhưng trong các tác phẩm báo chí của mình lại chứa đậm nét thơ ca, nhân bản. Tiêu biểu trong số đó phải kể tới: Nhà báo Lê Thu Hương, một cây bút đã cho ra đời những bài bình luận án sắc xảo; Nhà báo, nhà thơ Phùng Ngọc Đức với các bài đăng trên chuyên mục “Văn học pháp lý” của Tạp chí; Nhà báo - TS. Luật học Đặng Vũ Huân với các bài nghiên cứu với hàm lượng khoa học pháp lý cao... Để rồi khi Tạp chí phát hành, tới tay bạn đọc, mọi người đều phải có những suy nghĩ, có cái nhìn khác về những người làm việc tại các cơ quan bảo vệ pháp luật. Họ là những người “cứng như thép nhưng lại dẻo, uyển chuyển, mềm như thép”.

Riêng đối với cá nhân, theo thời gian, tôi cũng lớn lên và già đi. Chẳng hiểu vô tình hay hữu ý, tôi cũng nghiện đọc “Xã luận” trên Báo Nhân dân và Tạp chí Cộng sản. Có lẽ do áp lực công việc, buộc bản thân phải tìm hiểu để xử lý những vấn đề đã và đang đặt ra trong cuộc sống. Hay nói một cách nôm na, để có thể gặp gỡ, tiếp chuyện được một cách bình đẳng với các “cây đa”, “cây đề” trong và ngoài ngành, với các nhà văn, nhà thơ, nhà báo tên tuổi thì buộc mình phải có vốn kiến thức phong phú. Và mọi thứ mình cần đều đã được thể hiện một cách cô đọng, xúc tích trong các bài “Xã luận”, trong các bài nghiên cứu đăng trên các số của Tạp chí Cộng sản. Đọc, đọc mãi rồi quen, đâm ra thích.

Cho tới khi thích đọc “Xã luận” trên Báo Nhân dân tôi mới thấm thía lời khuyên của Tổng biên tập lúc mới đi làm. Rồi từ đó, trên các diễn đàn khoa học dù lớn, dù nhỏ, từ các bục giảng lớn, sang trọng của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Giao thông - Vận tải, Bộ Công thương, Bộ Y tế, Thanh tra Chính phủ, Viện Hàm lâm Khoa học xã hội, Học viện Chính trị, Học viện Hành chính quốc gia, Tòa án nhân dân tối cao... tới bục giảng của hầu hết 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sau khi kết thúc bài giảng về các chuyên đề của mình, tôi đều nhắc lại câu nói nhớ đời của Tổng biên tập Nguyễn Văn Thảo dặn tôi:

“Để hiểu và nắm kỹ hơn nội dung các chuyên đề tôi báo cáo, đề nghị các đồng chí đọc “Xã luận” trên Báo Nhân dân và Tạp chí Cộng sản”.

Gần 40 năm trôi qua từ ngày về nhận công tác và 10 năm rời ngôi nhà Tạp chí, nhưng tôi vô cùng cảm động và vui mừng thấy chất lượng các ấn phẩm của Tạp chí ngày càng được nâng cao, nội dung của từng số không chỉ bảo đảm hàm lượng khoa học mà còn phản ánh rõ nét hoạt động thực tiễn của Ngành Tư pháp (hàng tháng Tòa soạn vẫn gửi cho tôi những ấn phẩm của Tạp chí). Đội ngũ biên tập viên, phóng viên của Tạp chí ngày càng được tăng cường, không chỉ được đào tạo chuyên sâu về luật học mà còn được đào tạo bài bản về nghiệp vụ báo chí. Đây chính là những nhân tố làm nên thành công được ghi nhận của Tạp chí hôm nay và của ngày mai, trong đó có cả những đóng góp của lớp người đi trước, đặc biệt phải kể đến người Tổng biên tập đầu tiên của Tạp chí - Nguyễn Văn Thảo.

TS. Trần Nho Thìn
Nguyên Trưởng Ban Biên tập Tạp chí Dân chủ và pháp luật

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: