Thứ sáu 23/10/2026 17:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những kỷ niệm đáng nhớ về người Tổng biên tập

Buổi đầu tới nhận công tác, ông Viện trưởng, kiêm Tổng biên tập Tạp chí (lúc đó là Tập san Pháp chế xã hội chủ nghĩa) phân công tôi làm việc ở bộ phận Tạp chí. Và tôi công tác liên tục ở Tạp chí cho tới khi nghỉ chế độ (năm 2012).

Năm 1975 chiến tranh kết thúc, sau gần 08 năm phục vụ trong quân đội, tôi được đơn vị cho ra Bắc, chuyển về trường Văn hóa Quân khu 3 ở Chi Nê (Hòa Bình) ôn thi để dự tuyển kỳ thi đại học năm 1976. Sau gần 01 năm học tiếng Nga ở trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, tháng 7/1977, chúng tôi lên tàu liên vận qua Trung Quốc sang Liên Xô học đại học. Năm 1983, sau khi tốt nghiệp, tôi được Bộ Đại học (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) phân công về Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp.

Buổi đầu tới nhận công tác, ông Viện trưởng, kiêm Tổng biên tập Tạp chí (lúc đó là Tập san Pháp chế xã hội chủ nghĩa) phân công tôi làm việc ở bộ phận Tạp chí. Và tôi công tác liên tục ở Tạp chí cho tới khi nghỉ chế độ (năm 2012).

Một hôm, sau khi trao đổi xong công việc, ông Tổng biên tập - Nguyễn Văn Thảo hỏi tôi:

- Cậu có đọc Báo Nhân dân không?

Tôi đáp:

- Dạ, có ạ (lúc bấy giờ sách báo rất ít, chủ yếu là báo viết, chưa có báo mạng, chưa có máy tính thông dụng như bây giờ. Tài liệu tham khảo hàng ngày chủ yếu là Báo Nhân dân, thỉnh thoảng mới được đọc “Tin tham khảo” của Thông tấn xã Việt Nam).

Ông lại hỏi tiếp:

- Đọc báo, cậu đọc trang, bài nào?

Tôi đáp:

- Dạ, cháu thường đọc tin, bài ở trang 1 và trang 4 (thông thường các tin, bài ở trang 1 và trang 4 Báo Nhân dân hay đưa các tin về hiếu, hỉ, sự kiện thế giới và đăng nhiều ảnh đẹp; tin bài lại ngắn, dễ đọc).

Nghe tôi trả lời, trầm ngâm một lúc, ông nhìn tôi và nói tiếp:

- Cậu còn trẻ, đường đi phía trước còn dài. Muốn trở thành nhà báo, nhà nghiên cứu hay bất kỳ nhà gì đi nữa với đúng nghĩa của nó thì cậu phải đọc mục “Xã luận”, phải đọc Tạp chí Cộng sản và phải biết tiếng Anh. Còn nếu muốn hiểu rõ sự đời, sống cuộc đời thanh thản, vui vẻ, nhẹ nhàng, cậu nên đọc mấy tác phẩm văn học: Đông Chu liệt quốc, Tam Quốc diễn nghĩa và Tây Du ký để thấy sự tàn khốc trong tranh giành quyền lực của nhân loại, kỹ năng và thủ thuật bang giao đối ngoại cũng như cách ứng xử với cấp trên và đồng nghiệp.

Nghe ông nói, tôi buồn cười, nhưng cố nén, không dám cười to. Trong đầu tôi xuất hiện ý nghĩ: “Có lẽ ông này lẩm cẩm, chắc do tuổi tác. Ai sức đâu mà đọc Xã luận - Nội dung thì khô khan, câu văn thì lên gân, lên cót. Còn học tiếng Anh ư, cần gì. Tiếng Nga - Tiếng nói của Lênin mình đã đọc thông, viết thạo. Thế là quá đủ”.

Tôi đáp chiếu lệ:

- Vâng ạ.

Theo thời gian, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông, chúng tôi bắt tay vào xây dựng tờ Tạp chí (lúc bấy giờ ra 02 tháng/số), in bằng giấy đen, màu chủ đạo là đen trắng, chưa có ảnh màu đẹp như bây giờ.

Cho dù gặp muôn vàn khó khăn, anh em chúng tôi phần lớn chỉ được đào tạo chuyên ngành luật (ở trong và ngoài nước), không có ai được đào tạo về chuyên ngành báo chí, nhưng phải thừa nhận, thời kỳ ông Nguyễn Văn Thảo làm Tổng biên tập, Tạp chí đã có những đóng góp xuất sắc cho Ngành Tư pháp cũng như cho nền khoa học pháp lý non trẻ nước nhà. Tạp chí Pháp chế xã hội chủ nghĩa đã có vị trí xứng đáng trong làng báo chí Cách mạng Việt Nam. Anh em phóng viên, biên tập viên chúng tôi rất tự tin, tự hào giới thiệu mình là người của Tạp chí với bất kỳ cơ quan, tổ chức nào từ trung ương tới địa phương và với bất kỳ cơ quan báo bạn nào, kể cả Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân dân, Báo Quân đội nhân dân, Đài Truyền hình hay Đài Tiếng nói Việt Nam. Vì họ đều biết chúng tôi là “quân” của Tổng biên tập Nguyễn Văn Thảo.

Sự tự tin, tự hào của anh em chúng tôi trong quá trình tác nghiệp báo chí là có cơ sở, không ai có thể phủ nhận. Bởi vì, ngay vào những năm đầu của thập kỷ 80 thế kỷ trước, khi cả nước vẫn chìm sâu trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp, theo sự chỉ đạo của Tổng biên tập, tôi đã đến gặp ông Chế Viết Tấn - Nguyên Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương đề nghị ông viết bài cho Tạp chí. Bài của ông có tựa đề: “Pháp luật và việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế”, được Tổng biên tập duyệt, đăng trong số 1/1988. Sau khi phát hành, bài báo đã gây tiếng vang lớn đối với các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý kinh tế - nhất là ở các tỉnh phía Nam và các nhà nghiên cứu luật học trong cả nước. Bài báo đề cập nhiều thuật ngữ, nhiều tư tưởng rất mới (thú thực khi đọc, bản thân tôi cũng không hiểu vì chưa được học, chưa thấy ai nói như các thuật ngữ: “Hình thái thương mại thực thể”, “Hình thái thương mại vô hình”...). Bài báo của Tạp chí đã góp phần không nhỏ về mặt khoa học vào công cuộc đổi mới của Đảng, chuyển nền kinh tế nước nhà từ tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tạp chí còn đăng bài của nhiều học giả hàng đầu trên các lĩnh vực khác nhau của cả nước như bài: “Mấy suy nghĩ về chiến lược xây dựng pháp luật Việt Nam” (số 1/1988) của nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp Phan Hiền; “Một số biện pháp nhằm đảm bảo nguyên tắc: “Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập, chỉ tuân theo pháp luật” (số 4/1988) của nguyên Thứ trưởng Bộ Tư pháp Trần Đông; “Bàn về pháp trị và đức trị” (số 1/1988) của GS. Vũ Khiêu; “Về công bằng xã hội” (số 1/1988) của GS. Trần Quốc Vượng; “Tranh luận tại phiên tòa” (số 3/1988) của GS. Nguyễn Ngọc Minh; “Dân chủ và pháp chế” (số 5 + 6/1988) của GS. Hoàng Văn Hảo; “Pháp luật và chính trị” (số 2/1988) của Luật gia Phạm Đình Tân; “Một số ý kiến về giám định pháp y” (số 4/1988) của GS. Nguyễn Như Bằng; “Pháp y học trong đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm” (số 5 + 6/1988) của GS. TSKH. Châu Diệu Ái; “Tư duy pháp lý và vấn đề đổi mới” (số 3/1988) của PGS. TS. Hà Hùng Cường ...

Tư tưởng, nội dung, cách thể hiện trong các bài viết của các học giả trên Tạp chí, dù đã trải qua trên dưới 40 năm nhưng vẫn là những bài nghiên cứu mẫu mực để các thế hệ trẻ noi theo, là nền tảng lý luận cơ bản, quan trọng của khoa học pháp lý hiện nay.

Để chuẩn bị cơ sở khoa học cho tiến trình cải cánh tư pháp, trong thời gian khá dài, Tạp chí đã mở chuyên mục “Trao đổi về việc thỉnh thị và duyệt án”. Chuyên mục đã tập hợp được khối lượng độc giả tham gia đông đảo công tác tại Tòa án nhân dân tối cáo (Vũ Khắc Xương, Ngô Cường, Nguyễn Bá Kim, Hữu Chánh); Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Khuất Văn Nga, Vũ Đức Khiển); Nguyễn Trọng Nghĩa (Tòa án nhân dân tỉnh Đắc Lắc); Huỳnh Ngọc Chi (Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh)... Sau khi kết thúc chuyên mục, Tạp chí đã có quan điểm chính thức về những hệ lụy của việc duyệt và thỉnh thị án (đăng trên số 4 + 5/1988) như:

+ Hạn chế quyền độc lập khi xét xử của thẩm phán và hội thẩm nhân dân đã ghi trong Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân;

+ Kìm hãm, không phát huy trình độ chuyên môn, tạo sức ỳ trong tư duy, ỷ lại trông chờ vào cấp trên của thẩm phán;

+ Không sát thực tiễn (nhiều tình tiết mới nảy sinh trong phiên tòa xét xử nhưng thẩm phán thụ động, không dám quyết định khác với ý kiến đã cho trước);

+ Hội thẩm nhân dân trở thành hình thức, luật sư bị vô hiệu hóa, bị cáo bị dồn ép, thiếu bình đẳng; bị cáo, bị đơn ngại kháng án vì biết đã có mức án trước;

+ Thẩm phán xét xử ít quan tâm tới ý kiến của Viện kiểm sát; Viện kiểm sát ngại kháng nghị vì biết đã có ý kiến của lãnh đạo;

+ Gây trì trệ, tốn kém tiền của vô ích, đôi khi tạo ra sự nghi ngờ, mâu thuẫn trong nội bộ hoặc cấp dưới với cấp trên;

+ Do thụ động, ỷ lại và nhiều khi do trình độ yếu, Tòa án đã hợp lý hóa những sai lầm của cơ quan điều tra, truy tố dẫn tới tình trạng xử oan, sai, bỏ sót tội phạm;

+ Tòa án cấp trên ngại sửa sai bản án vì đấy là ý kiến đã cho trước của mình. Do mất nhiều công sức vào việc “xét xử hộ cấp dưới” nên nhiệm vụ chính của mình như tổng kết, hướng dẫn công tác xét xử, giám đốc lại các bản án có sai sót làm không kịp thời, để dây dưa, kéo dài. Hậu quả là, uy tín của Tòa án bị giảm sút, pháp luật không phát huy được hiệu lực, tạo ra tâm lý coi thường pháp luật, sử dụng “luật rừng” để giải quyết tranh chấp trong Nhân dân.

Quan điểm của Tạp chí về những hệ lụy của việc thỉnh thị và duyệt án chắc chắn còn nguyên giá trị trong công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đang được tiến hành hiện nay ở nước ta.

Bên cạnh đó, Tạp chí còn có những bài viết nghiên cứu nhằm giải quyết rành mạch mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan thông tấn báo chí, điển hình như bài: “Quyền nhà báo, kỷ luật phiên tòa và việc thu máy ghi âm của Tòa án Ba Đình - Hà Nội” (số 1/1990). Nội dung bài báo đã phân tích thẳng thắn, chỉ ra cái sai, cái đúng của Tòa án nhân dân quận Ba Đình - Hà Nội và cái sai, cái đúng của tổ phóng viên Báo “Giáo viên nhân dân” khi hoạt động đưa tin tại phiên tòa. Qua phân tích, bài báo đưa ra một số kiến nghị cụ thể nhằm bảo đảm cho báo chí hoạt động dân chủ, nhưng dứt khoát phải nằm trong khuôn khổ mà pháp luật đã quy định.

Có thể nói, những thành quả của Tạp chí nêu trên là chỗ dựa tin cậy, là nền tảng để anh em phóng viên, biên tập chúng tôi tự tin trong công tác và cũng từ đây tạo được sự kính trọng, vị nể của các báo, tạp chí bạn.

Một đóng góp không nhỏ của Tổng biên tập Nguyễn Văn Thảo là đã đào tạo ra những nhà báo chuyên viết về pháp luật nhưng trong các tác phẩm báo chí của mình lại chứa đậm nét thơ ca, nhân bản. Tiêu biểu trong số đó phải kể tới: Nhà báo Lê Thu Hương, một cây bút đã cho ra đời những bài bình luận án sắc xảo; Nhà báo, nhà thơ Phùng Ngọc Đức với các bài đăng trên chuyên mục “Văn học pháp lý” của Tạp chí; Nhà báo - TS. Luật học Đặng Vũ Huân với các bài nghiên cứu với hàm lượng khoa học pháp lý cao... Để rồi khi Tạp chí phát hành, tới tay bạn đọc, mọi người đều phải có những suy nghĩ, có cái nhìn khác về những người làm việc tại các cơ quan bảo vệ pháp luật. Họ là những người “cứng như thép nhưng lại dẻo, uyển chuyển, mềm như thép”.

Riêng đối với cá nhân, theo thời gian, tôi cũng lớn lên và già đi. Chẳng hiểu vô tình hay hữu ý, tôi cũng nghiện đọc “Xã luận” trên Báo Nhân dân và Tạp chí Cộng sản. Có lẽ do áp lực công việc, buộc bản thân phải tìm hiểu để xử lý những vấn đề đã và đang đặt ra trong cuộc sống. Hay nói một cách nôm na, để có thể gặp gỡ, tiếp chuyện được một cách bình đẳng với các “cây đa”, “cây đề” trong và ngoài ngành, với các nhà văn, nhà thơ, nhà báo tên tuổi thì buộc mình phải có vốn kiến thức phong phú. Và mọi thứ mình cần đều đã được thể hiện một cách cô đọng, xúc tích trong các bài “Xã luận”, trong các bài nghiên cứu đăng trên các số của Tạp chí Cộng sản. Đọc, đọc mãi rồi quen, đâm ra thích.

Cho tới khi thích đọc “Xã luận” trên Báo Nhân dân tôi mới thấm thía lời khuyên của Tổng biên tập lúc mới đi làm. Rồi từ đó, trên các diễn đàn khoa học dù lớn, dù nhỏ, từ các bục giảng lớn, sang trọng của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Giao thông - Vận tải, Bộ Công thương, Bộ Y tế, Thanh tra Chính phủ, Viện Hàm lâm Khoa học xã hội, Học viện Chính trị, Học viện Hành chính quốc gia, Tòa án nhân dân tối cao... tới bục giảng của hầu hết 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sau khi kết thúc bài giảng về các chuyên đề của mình, tôi đều nhắc lại câu nói nhớ đời của Tổng biên tập Nguyễn Văn Thảo dặn tôi:

“Để hiểu và nắm kỹ hơn nội dung các chuyên đề tôi báo cáo, đề nghị các đồng chí đọc “Xã luận” trên Báo Nhân dân và Tạp chí Cộng sản”.

Gần 40 năm trôi qua từ ngày về nhận công tác và 10 năm rời ngôi nhà Tạp chí, nhưng tôi vô cùng cảm động và vui mừng thấy chất lượng các ấn phẩm của Tạp chí ngày càng được nâng cao, nội dung của từng số không chỉ bảo đảm hàm lượng khoa học mà còn phản ánh rõ nét hoạt động thực tiễn của Ngành Tư pháp (hàng tháng Tòa soạn vẫn gửi cho tôi những ấn phẩm của Tạp chí). Đội ngũ biên tập viên, phóng viên của Tạp chí ngày càng được tăng cường, không chỉ được đào tạo chuyên sâu về luật học mà còn được đào tạo bài bản về nghiệp vụ báo chí. Đây chính là những nhân tố làm nên thành công được ghi nhận của Tạp chí hôm nay và của ngày mai, trong đó có cả những đóng góp của lớp người đi trước, đặc biệt phải kể đến người Tổng biên tập đầu tiên của Tạp chí - Nguyễn Văn Thảo.

TS. Trần Nho Thìn
Nguyên Trưởng Ban Biên tập Tạp chí Dân chủ và pháp luật

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: