Thứ tư 26/08/2026 16:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những nội dung cơ bản của Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2020

Tuy nhiên, những năm gần đây, trước sự thay đổi kinh tế - xã hội của đất nước, sự phát triển của pháp luật nói chung và của dịch vụ pháp lý nói riêng, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý đã bộc lộ những bất cập, hạn chế như:

Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/6/2006, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2007. Sau 08 năm triển khai thi hành, Luật Trợ giúp pháp lý đã đưa công tác trợ giúp pháp lý trở thành cầu nối giữa chính quyền và nhân dân, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý, thực hiện tốt chính sách nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa của Đảng và Nhà nước ta, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân, phát huy dân chủ cơ sở. Luật Trợ giúp pháp lý đã có tác động tích cực trong việc thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống. Đồng thời, công tác trợ giúp pháp lý cũng góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế trong việc bảo vệ nhân quyền, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới.

Dựa trên những kết quả đạt được của công tác trợ giúp pháp lý trong thời gian qua có thể khẳng định, chính sách trợ giúp pháp lý và việc ra đời Luật Trợ giúp pháp lý là đúng đắn, hợp lòng dân, phù hợp với chủ trương của Đảng, đạo lý của dân tộc và điều kiện thực tế của nước ta, không chỉ là công cụ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo, đối tượng chính sách và các đối tượng yếu thế khác, mà còn góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đưa pháp luật đến với người dân, tạo lập thói quen và nếp sống làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Tuy nhiên, những năm gần đây, trước sự thay đổi kinh tế - xã hội của đất nước, sự phát triển của pháp luật nói chung và của dịch vụ pháp lý nói riêng, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý đã bộc lộ những bất cập, hạn chế như:

Thứ nhất, nhìn chung hoạt động trợ giúp pháp lý chưa bảo đảm đúng trọng tâm là cung cấp vụ việc trợ giúp pháp lý, nhất là trong lĩnh vực tham gia tố tụng, mà còn dàn trải theo nhiều hình thức trợ giúp pháp lý.

Thứ hai, hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý nhà nước chưa phù hợp và hoạt động chưa hiệu quả so với yêu cầu thực tiễn. Việc thành lập một số chi nhánh theo chỉ tiêu của Chiến lược và Đề án quy hoạch mạng lưới Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước (sau đây gọi là Trung tâm) và chi nhánh của Trung tâm chưa căn cứ vào nhu cầu trợ giúp pháp lý của người dân và điều kiện cơ sở vật chất chưa được bảo đảm, thiếu trợ giúp viên pháp lý, do đó hiệu quả hoạt động còn thấp.

Thứ ba, trợ giúp viên pháp lý chưa thực sự chuyên nghiệp trong tham gia tố tụng. Số lượng vụ việc tham gia tố tụng của trợ giúp viên pháp lý còn thấp, cá biệt vẫn còn một số địa phương trợ giúp viên pháp lý chưa tham gia tố tụng.

Thứ tư, nguồn nhân lực thực hiện trợ giúp pháp lý còn nhiều bất cập. Một số địa phương bố trí cán bộ không có bằng cử nhân luật làm việc tại Trung tâm gây khó khăn trong việc tạo nguồn bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý. Hiện nay, sự phân bổ đội ngũ luật sư không đồng đều giữa các vùng, miền trên toàn quốc; chất lượng của đội ngũ luật sư còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp.

Thứ năm, kinh phí bảo đảm cho công tác trợ giúp pháp lý còn hạn chế và phân bổ các khoản chi chưa hợp lý. Bên cạnh đó, nội dung chi của nguồn ngân sách trung ương hỗ trợ theo Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn 2011-2020 và Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg ngày 24/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã nghèo giai đoạn 2013 - 2020 chưa có nội dung chi cho thực hiện vụ việc, mà chỉ chi cho các hoạt động hỗ trợ công tác trợ giúp pháp lý. Cơ chế phối hợp giữa cơ quan tư pháp và cơ quan tài chính ở địa phương trong quá trình triển khai chưa nhịp nhàng; việc kiểm tra, giám sát các hoạt động chỉ mang tính chất hậu kiểm, chưa kiểm soát được trong quá trình thực hiện.

Thứ sáu, công tác xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý còn chậm, việc huy động nguồn lực con người và nguồn lực tài chính chưa hiệu quả. Số lượng luật sư là cộng tác viên tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý của Nhà nước không nhiều, chưa thường xuyên, tích cực, nhiều luật sư mới hành nghề, chưa có nhiều kinh nghiệm và năng lực tham gia tố tụng còn hạn chế.

Thứ bảy, công tác quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý còn thiếu sự kết nối giữa trung ương và địa phương trong việc nắm bắt tình hình tổ chức, hoạt động trợ giúp pháp lý của Trung tâm. Mặt khác, chưa có cơ chế điều phối nguồn nhân lực từ địa phương này sang địa phương khác để thực hiện vụ việc kịp thời, hiệu quả.

Thứ tám, chất lượng và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý còn nhiều bất cập. Thực tế, chất lượng một số vụ việc tham gia tố tụng còn yếu kém. Hơn nữa, chưa có cơ chế hữu hiệu nhằm đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý gắn với việc cấp kinh phí một cách hiệu quả, khách quan, chính xác.

Để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác trợ giúp pháp lý, ngày 01/6/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015-2025 (sau đây gọi là Đề án). Đề án lấy người được trợ giúp pháp lý làm trung tâm tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển công tác trợ giúp pháp lý trong thời gian tới. Đề án đưa ra những nhiệm vụ, giải pháp trong công tác trợ giúp pháp lý nhằm mang lại lợi ích cho Nhà nước, xã hội và trực tiếp là đối tượng được thụ hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý.

Đề án đưa ra mục tiêu tổng quát là đổi mới công tác trợ giúp pháp lý theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa với lộ trình phù hợp cho đặc thù từng vùng, miền, khu vực, tiến tới sau năm 2025 người thực hiện trợ giúp pháp lý là luật sư hành nghề, bảo đảm cho các đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý được cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý kịp thời, chất lượng tương đương với dịch vụ mà luật sư cung cấp trên thị trường; chuyển các Trung tâm theo hướng từ việc chủ yếu cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý như hiện nay thành cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, tinh giản tổ chức, bộ máy và biên chế; cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính trong việc tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý của Nhà nước.

Bên cạnh những mục tiêu tổng quát mang tính chất định hướng chung cho công tác trợ giúp pháp lý trong thời gian tới, Đề án cũng đưa ra các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn và các nhóm nhiệm vụ, giải pháp như:

- Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể trong giai đoạn từ năm 2015 đến khi Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) có hiệu lực:

+ Về hoạt động trợ giúp pháp lý: Tập trung thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, trong đó chú trọng vụ việc tham gia tố tụng. Trung tâm chỉ thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hoạt động trợ giúp pháp lý.

+ Về tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý của Nhà nước trên cơ sở sắp xếp tổ chức các Trung tâm theo hướng tinh giản tổ chức, bộ máy và biên chế, giảm bớt chi phí bộ máy hành chính, tập trung nguồn lực cho việc nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý, tăng cường hiệu quả quản lý, bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu trợ giúp pháp lý, nguồn nhân lực cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý của từng địa phương và huy động các tổ chức xã hội tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý; không thành lập mới chi nhánh của Trung tâm, câu lạc bộ trợ giúp pháp lý; thực hiện rà soát chi nhánh, câu lạc bộ trợ giúp pháp lý để có giải pháp sáp nhập, giải thể.

Đề án đưa ra nhiệm vụ của Sở Tư pháp là đơn vị chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ và các sở, ban, ngành có liên quan xây dựng Đề án sắp xếp vị trí, việc làm của các công chức, viên chức trong Trung tâm cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ trong từng giai đoạn, bảo đảm Trung tâm có 02 thành phần gồm: Bộ phận trực tiếp thực hiện trợ giúp pháp lý là các trợ giúp viên pháp lý và bộ phận quản lý nghiệp vụ, tạo tiền đề để chuyển các Trung tâm thành cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý ở giai đoạn sau.

Đề án cũng đã đưa ra phương án xử lý số biên chế dôi dư như tăng cường cho đơn vị sự nghiệp, đơn vị hành chính của Sở Tư pháp, tổ chức pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp cấp huyện, cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, bảo đảm tổng số biên chế của các Trung tâm trong toàn quốc giảm 15% so với giai đoạn trước khi thực hiện Đề án.

+ Về xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý: Có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện nhằm thu hút đội ngũ luật sư có kinh nghiệm, trình độ, bản lĩnh nghề nghiệp thực hiện trợ giúp pháp lý như tăng mức bồi dưỡng theo vụ việc tố tụng cho luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo yêu cầu của Nhà nước; công bố rộng rãi danh sách người thực hiện trợ giúp pháp lý và tổ chức hành nghề luật sư được Nhà nước ký hợp đồng cung cấp dịch vụ công để người được trợ giúp pháp lý lựa chọn khi có nhu cầu.

+ Về nâng cao năng lực cho đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý và nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý: Thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng với các hình thức phù hợp theo hướng chuyên sâu nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng tranh tụng cho trợ giúp viên pháp lý và đào tạo bồi dưỡng cho một số chuyên viên thành trợ giúp viên pháp lý theo yêu cầu của các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đội ngũ luật sư trên địa bàn chưa đáp ứng được nhu cầu trợ giúp pháp lý. Tăng mức bồi dưỡng vụ việc tố tụng cho trợ giúp viên pháp lý bằng 40% mức chi trả tiền bồi dưỡng theo vụ việc đối với các luật sư. Đồng thời, xây dựng cơ chế chuyển đổi các trợ giúp viên pháp lý đã tham gia tố tụng đạt chỉ tiêu vụ việc được giao hàng năm và bảo đảm chất lượng thành luật sư (nếu có nguyện vọng) không phải qua đào tạo nghề luật sư và tập sự hành nghề luật sư, các luật sư này sẽ được Nhà nước ưu tiên ký hợp đồng để thực hiện trợ giúp pháp lý.

+ Về mô hình quản lý trợ giúp pháp lý: Tăng cường năng lực của cơ quan quản lý ở trung ương để thực hiện điều phối cho công tác trợ giúp pháp lý. Bộ Tư pháp (cụ thể là Cục Trợ giúp pháp lý) thực hiện hỗ trợ, điều phối nguồn lực đối với các vụ việc trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực tố tụng.

+ Về quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý: Ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng cơ sở dữ liệu để thực hiện quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý; ban hành chỉ tiêu vụ việc tham gia tố tụng cho trợ giúp viên pháp lý và tiêu chí thi đua xếp hạng cho các Trung tâm, trợ giúp viên pháp lý; tăng cường việc theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra; thực hiện chi thẩm định vụ việc và chi đánh giá chất lượng vụ việc tham gia tố tụng.

+ Về kinh phí: Ở Trung ương, bảo đảm nguồn ngân sách hằng năm và kinh phí theo các chính sách về trợ giúp pháp lý để chi cho các hoạt động, nhiệm vụ trong Đề án. Ở địa phương, ngoài nguồn được hỗ trợ từ trung ương, ngân sách địa phương có trách nhiệm bảo đảm kinh phí cho Trung tâm (trong đó, chi thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý ít nhất bằng 50% tổng kinh phí nghiệp vụ trợ giúp pháp lý do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp hàng năm).

+ Về xây dựng, hoàn thiện thể chế về trợ giúp pháp lý: Nghiên cứu, xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi).

- Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể của giai đoạn từ khi Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) có hiệu lực đến năm 2025:

+ Về hoạt động, đối tượng được trợ giúp pháp lý: Thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính; cung cấp dịch vụ đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật tại trụ sở, tư vấn pháp luật tiền tố tụng; mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý.

+ Về mô hình, tổ chức trợ giúp pháp lý nhà nước: Tiếp tục duy trì Trung tâm ở các tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn như giai đoạn từ năm 2015 đến khi Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) có hiệu lực, tăng cường năng lực cho các trợ giúp viên pháp lý, đồng thời có lộ trình chuyển Trung tâm thành cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, dịch vụ trợ giúp pháp lý vào năm 2025.

+ Về người thực hiện trợ giúp pháp lý: Trước năm 2025, người thực hiện trợ giúp pháp lý là trợ giúp viên pháp lý và luật sư. Nhà nước ký hợp đồng dài hạn với luật sư (luật sư công thực hiện trợ giúp pháp lý) hoặc hợp đồng vụ việc với luật sư hành nghề cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý. Sau năm 2025, người thực hiện trợ giúp pháp lý là luật sư.

Từ sau năm 2025, thực hiện đầy đủ các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi), xã hội hóa hoàn toàn công tác trợ giúp pháp lý, Nhà nước chỉ giữ vai trò quản lý, điều phối nguồn lực bảo đảm cho các đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý kịp thời, có chất lượng.

Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: