Thứ ba 03/03/2026 10:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những nội dung cơ bản của Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2020

Tuy nhiên, những năm gần đây, trước sự thay đổi kinh tế - xã hội của đất nước, sự phát triển của pháp luật nói chung và của dịch vụ pháp lý nói riêng, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý đã bộc lộ những bất cập, hạn chế như:

Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/6/2006, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2007. Sau 08 năm triển khai thi hành, Luật Trợ giúp pháp lý đã đưa công tác trợ giúp pháp lý trở thành cầu nối giữa chính quyền và nhân dân, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý, thực hiện tốt chính sách nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa của Đảng và Nhà nước ta, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân, phát huy dân chủ cơ sở. Luật Trợ giúp pháp lý đã có tác động tích cực trong việc thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống. Đồng thời, công tác trợ giúp pháp lý cũng góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế trong việc bảo vệ nhân quyền, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới.

Dựa trên những kết quả đạt được của công tác trợ giúp pháp lý trong thời gian qua có thể khẳng định, chính sách trợ giúp pháp lý và việc ra đời Luật Trợ giúp pháp lý là đúng đắn, hợp lòng dân, phù hợp với chủ trương của Đảng, đạo lý của dân tộc và điều kiện thực tế của nước ta, không chỉ là công cụ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo, đối tượng chính sách và các đối tượng yếu thế khác, mà còn góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đưa pháp luật đến với người dân, tạo lập thói quen và nếp sống làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Tuy nhiên, những năm gần đây, trước sự thay đổi kinh tế - xã hội của đất nước, sự phát triển của pháp luật nói chung và của dịch vụ pháp lý nói riêng, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý đã bộc lộ những bất cập, hạn chế như:

Thứ nhất, nhìn chung hoạt động trợ giúp pháp lý chưa bảo đảm đúng trọng tâm là cung cấp vụ việc trợ giúp pháp lý, nhất là trong lĩnh vực tham gia tố tụng, mà còn dàn trải theo nhiều hình thức trợ giúp pháp lý.

Thứ hai, hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý nhà nước chưa phù hợp và hoạt động chưa hiệu quả so với yêu cầu thực tiễn. Việc thành lập một số chi nhánh theo chỉ tiêu của Chiến lược và Đề án quy hoạch mạng lưới Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước (sau đây gọi là Trung tâm) và chi nhánh của Trung tâm chưa căn cứ vào nhu cầu trợ giúp pháp lý của người dân và điều kiện cơ sở vật chất chưa được bảo đảm, thiếu trợ giúp viên pháp lý, do đó hiệu quả hoạt động còn thấp.

Thứ ba, trợ giúp viên pháp lý chưa thực sự chuyên nghiệp trong tham gia tố tụng. Số lượng vụ việc tham gia tố tụng của trợ giúp viên pháp lý còn thấp, cá biệt vẫn còn một số địa phương trợ giúp viên pháp lý chưa tham gia tố tụng.

Thứ tư, nguồn nhân lực thực hiện trợ giúp pháp lý còn nhiều bất cập. Một số địa phương bố trí cán bộ không có bằng cử nhân luật làm việc tại Trung tâm gây khó khăn trong việc tạo nguồn bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý. Hiện nay, sự phân bổ đội ngũ luật sư không đồng đều giữa các vùng, miền trên toàn quốc; chất lượng của đội ngũ luật sư còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp.

Thứ năm, kinh phí bảo đảm cho công tác trợ giúp pháp lý còn hạn chế và phân bổ các khoản chi chưa hợp lý. Bên cạnh đó, nội dung chi của nguồn ngân sách trung ương hỗ trợ theo Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn 2011-2020 và Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg ngày 24/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã nghèo giai đoạn 2013 - 2020 chưa có nội dung chi cho thực hiện vụ việc, mà chỉ chi cho các hoạt động hỗ trợ công tác trợ giúp pháp lý. Cơ chế phối hợp giữa cơ quan tư pháp và cơ quan tài chính ở địa phương trong quá trình triển khai chưa nhịp nhàng; việc kiểm tra, giám sát các hoạt động chỉ mang tính chất hậu kiểm, chưa kiểm soát được trong quá trình thực hiện.

Thứ sáu, công tác xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý còn chậm, việc huy động nguồn lực con người và nguồn lực tài chính chưa hiệu quả. Số lượng luật sư là cộng tác viên tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý của Nhà nước không nhiều, chưa thường xuyên, tích cực, nhiều luật sư mới hành nghề, chưa có nhiều kinh nghiệm và năng lực tham gia tố tụng còn hạn chế.

Thứ bảy, công tác quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý còn thiếu sự kết nối giữa trung ương và địa phương trong việc nắm bắt tình hình tổ chức, hoạt động trợ giúp pháp lý của Trung tâm. Mặt khác, chưa có cơ chế điều phối nguồn nhân lực từ địa phương này sang địa phương khác để thực hiện vụ việc kịp thời, hiệu quả.

Thứ tám, chất lượng và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý còn nhiều bất cập. Thực tế, chất lượng một số vụ việc tham gia tố tụng còn yếu kém. Hơn nữa, chưa có cơ chế hữu hiệu nhằm đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý gắn với việc cấp kinh phí một cách hiệu quả, khách quan, chính xác.

Để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác trợ giúp pháp lý, ngày 01/6/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015-2025 (sau đây gọi là Đề án). Đề án lấy người được trợ giúp pháp lý làm trung tâm tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển công tác trợ giúp pháp lý trong thời gian tới. Đề án đưa ra những nhiệm vụ, giải pháp trong công tác trợ giúp pháp lý nhằm mang lại lợi ích cho Nhà nước, xã hội và trực tiếp là đối tượng được thụ hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý.

Đề án đưa ra mục tiêu tổng quát là đổi mới công tác trợ giúp pháp lý theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa với lộ trình phù hợp cho đặc thù từng vùng, miền, khu vực, tiến tới sau năm 2025 người thực hiện trợ giúp pháp lý là luật sư hành nghề, bảo đảm cho các đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý được cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý kịp thời, chất lượng tương đương với dịch vụ mà luật sư cung cấp trên thị trường; chuyển các Trung tâm theo hướng từ việc chủ yếu cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý như hiện nay thành cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, tinh giản tổ chức, bộ máy và biên chế; cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính trong việc tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý của Nhà nước.

Bên cạnh những mục tiêu tổng quát mang tính chất định hướng chung cho công tác trợ giúp pháp lý trong thời gian tới, Đề án cũng đưa ra các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn và các nhóm nhiệm vụ, giải pháp như:

- Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể trong giai đoạn từ năm 2015 đến khi Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) có hiệu lực:

+ Về hoạt động trợ giúp pháp lý: Tập trung thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, trong đó chú trọng vụ việc tham gia tố tụng. Trung tâm chỉ thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hoạt động trợ giúp pháp lý.

+ Về tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý của Nhà nước trên cơ sở sắp xếp tổ chức các Trung tâm theo hướng tinh giản tổ chức, bộ máy và biên chế, giảm bớt chi phí bộ máy hành chính, tập trung nguồn lực cho việc nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý, tăng cường hiệu quả quản lý, bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu trợ giúp pháp lý, nguồn nhân lực cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý của từng địa phương và huy động các tổ chức xã hội tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý; không thành lập mới chi nhánh của Trung tâm, câu lạc bộ trợ giúp pháp lý; thực hiện rà soát chi nhánh, câu lạc bộ trợ giúp pháp lý để có giải pháp sáp nhập, giải thể.

Đề án đưa ra nhiệm vụ của Sở Tư pháp là đơn vị chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ và các sở, ban, ngành có liên quan xây dựng Đề án sắp xếp vị trí, việc làm của các công chức, viên chức trong Trung tâm cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ trong từng giai đoạn, bảo đảm Trung tâm có 02 thành phần gồm: Bộ phận trực tiếp thực hiện trợ giúp pháp lý là các trợ giúp viên pháp lý và bộ phận quản lý nghiệp vụ, tạo tiền đề để chuyển các Trung tâm thành cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý ở giai đoạn sau.

Đề án cũng đã đưa ra phương án xử lý số biên chế dôi dư như tăng cường cho đơn vị sự nghiệp, đơn vị hành chính của Sở Tư pháp, tổ chức pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp cấp huyện, cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, bảo đảm tổng số biên chế của các Trung tâm trong toàn quốc giảm 15% so với giai đoạn trước khi thực hiện Đề án.

+ Về xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý: Có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện nhằm thu hút đội ngũ luật sư có kinh nghiệm, trình độ, bản lĩnh nghề nghiệp thực hiện trợ giúp pháp lý như tăng mức bồi dưỡng theo vụ việc tố tụng cho luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo yêu cầu của Nhà nước; công bố rộng rãi danh sách người thực hiện trợ giúp pháp lý và tổ chức hành nghề luật sư được Nhà nước ký hợp đồng cung cấp dịch vụ công để người được trợ giúp pháp lý lựa chọn khi có nhu cầu.

+ Về nâng cao năng lực cho đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý và nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý: Thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng với các hình thức phù hợp theo hướng chuyên sâu nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng tranh tụng cho trợ giúp viên pháp lý và đào tạo bồi dưỡng cho một số chuyên viên thành trợ giúp viên pháp lý theo yêu cầu của các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đội ngũ luật sư trên địa bàn chưa đáp ứng được nhu cầu trợ giúp pháp lý. Tăng mức bồi dưỡng vụ việc tố tụng cho trợ giúp viên pháp lý bằng 40% mức chi trả tiền bồi dưỡng theo vụ việc đối với các luật sư. Đồng thời, xây dựng cơ chế chuyển đổi các trợ giúp viên pháp lý đã tham gia tố tụng đạt chỉ tiêu vụ việc được giao hàng năm và bảo đảm chất lượng thành luật sư (nếu có nguyện vọng) không phải qua đào tạo nghề luật sư và tập sự hành nghề luật sư, các luật sư này sẽ được Nhà nước ưu tiên ký hợp đồng để thực hiện trợ giúp pháp lý.

+ Về mô hình quản lý trợ giúp pháp lý: Tăng cường năng lực của cơ quan quản lý ở trung ương để thực hiện điều phối cho công tác trợ giúp pháp lý. Bộ Tư pháp (cụ thể là Cục Trợ giúp pháp lý) thực hiện hỗ trợ, điều phối nguồn lực đối với các vụ việc trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực tố tụng.

+ Về quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý: Ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng cơ sở dữ liệu để thực hiện quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý; ban hành chỉ tiêu vụ việc tham gia tố tụng cho trợ giúp viên pháp lý và tiêu chí thi đua xếp hạng cho các Trung tâm, trợ giúp viên pháp lý; tăng cường việc theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra; thực hiện chi thẩm định vụ việc và chi đánh giá chất lượng vụ việc tham gia tố tụng.

+ Về kinh phí: Ở Trung ương, bảo đảm nguồn ngân sách hằng năm và kinh phí theo các chính sách về trợ giúp pháp lý để chi cho các hoạt động, nhiệm vụ trong Đề án. Ở địa phương, ngoài nguồn được hỗ trợ từ trung ương, ngân sách địa phương có trách nhiệm bảo đảm kinh phí cho Trung tâm (trong đó, chi thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý ít nhất bằng 50% tổng kinh phí nghiệp vụ trợ giúp pháp lý do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp hàng năm).

+ Về xây dựng, hoàn thiện thể chế về trợ giúp pháp lý: Nghiên cứu, xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi).

- Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể của giai đoạn từ khi Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) có hiệu lực đến năm 2025:

+ Về hoạt động, đối tượng được trợ giúp pháp lý: Thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính; cung cấp dịch vụ đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật tại trụ sở, tư vấn pháp luật tiền tố tụng; mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý.

+ Về mô hình, tổ chức trợ giúp pháp lý nhà nước: Tiếp tục duy trì Trung tâm ở các tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn như giai đoạn từ năm 2015 đến khi Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) có hiệu lực, tăng cường năng lực cho các trợ giúp viên pháp lý, đồng thời có lộ trình chuyển Trung tâm thành cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, dịch vụ trợ giúp pháp lý vào năm 2025.

+ Về người thực hiện trợ giúp pháp lý: Trước năm 2025, người thực hiện trợ giúp pháp lý là trợ giúp viên pháp lý và luật sư. Nhà nước ký hợp đồng dài hạn với luật sư (luật sư công thực hiện trợ giúp pháp lý) hoặc hợp đồng vụ việc với luật sư hành nghề cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý. Sau năm 2025, người thực hiện trợ giúp pháp lý là luật sư.

Từ sau năm 2025, thực hiện đầy đủ các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi), xã hội hóa hoàn toàn công tác trợ giúp pháp lý, Nhà nước chỉ giữ vai trò quản lý, điều phối nguồn lực bảo đảm cho các đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý kịp thời, có chất lượng.

Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: