Thứ sáu 01/05/2026 17:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những nội dung cơ bản của Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2020

Tuy nhiên, những năm gần đây, trước sự thay đổi kinh tế - xã hội của đất nước, sự phát triển của pháp luật nói chung và của dịch vụ pháp lý nói riêng, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý đã bộc lộ những bất cập, hạn chế như:

Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/6/2006, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2007. Sau 08 năm triển khai thi hành, Luật Trợ giúp pháp lý đã đưa công tác trợ giúp pháp lý trở thành cầu nối giữa chính quyền và nhân dân, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý, thực hiện tốt chính sách nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa của Đảng và Nhà nước ta, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân, phát huy dân chủ cơ sở. Luật Trợ giúp pháp lý đã có tác động tích cực trong việc thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống. Đồng thời, công tác trợ giúp pháp lý cũng góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế trong việc bảo vệ nhân quyền, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới.

Dựa trên những kết quả đạt được của công tác trợ giúp pháp lý trong thời gian qua có thể khẳng định, chính sách trợ giúp pháp lý và việc ra đời Luật Trợ giúp pháp lý là đúng đắn, hợp lòng dân, phù hợp với chủ trương của Đảng, đạo lý của dân tộc và điều kiện thực tế của nước ta, không chỉ là công cụ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo, đối tượng chính sách và các đối tượng yếu thế khác, mà còn góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đưa pháp luật đến với người dân, tạo lập thói quen và nếp sống làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Tuy nhiên, những năm gần đây, trước sự thay đổi kinh tế - xã hội của đất nước, sự phát triển của pháp luật nói chung và của dịch vụ pháp lý nói riêng, tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý đã bộc lộ những bất cập, hạn chế như:

Thứ nhất, nhìn chung hoạt động trợ giúp pháp lý chưa bảo đảm đúng trọng tâm là cung cấp vụ việc trợ giúp pháp lý, nhất là trong lĩnh vực tham gia tố tụng, mà còn dàn trải theo nhiều hình thức trợ giúp pháp lý.

Thứ hai, hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý nhà nước chưa phù hợp và hoạt động chưa hiệu quả so với yêu cầu thực tiễn. Việc thành lập một số chi nhánh theo chỉ tiêu của Chiến lược và Đề án quy hoạch mạng lưới Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước (sau đây gọi là Trung tâm) và chi nhánh của Trung tâm chưa căn cứ vào nhu cầu trợ giúp pháp lý của người dân và điều kiện cơ sở vật chất chưa được bảo đảm, thiếu trợ giúp viên pháp lý, do đó hiệu quả hoạt động còn thấp.

Thứ ba, trợ giúp viên pháp lý chưa thực sự chuyên nghiệp trong tham gia tố tụng. Số lượng vụ việc tham gia tố tụng của trợ giúp viên pháp lý còn thấp, cá biệt vẫn còn một số địa phương trợ giúp viên pháp lý chưa tham gia tố tụng.

Thứ tư, nguồn nhân lực thực hiện trợ giúp pháp lý còn nhiều bất cập. Một số địa phương bố trí cán bộ không có bằng cử nhân luật làm việc tại Trung tâm gây khó khăn trong việc tạo nguồn bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý. Hiện nay, sự phân bổ đội ngũ luật sư không đồng đều giữa các vùng, miền trên toàn quốc; chất lượng của đội ngũ luật sư còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp.

Thứ năm, kinh phí bảo đảm cho công tác trợ giúp pháp lý còn hạn chế và phân bổ các khoản chi chưa hợp lý. Bên cạnh đó, nội dung chi của nguồn ngân sách trung ương hỗ trợ theo Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn 2011-2020 và Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg ngày 24/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã nghèo giai đoạn 2013 - 2020 chưa có nội dung chi cho thực hiện vụ việc, mà chỉ chi cho các hoạt động hỗ trợ công tác trợ giúp pháp lý. Cơ chế phối hợp giữa cơ quan tư pháp và cơ quan tài chính ở địa phương trong quá trình triển khai chưa nhịp nhàng; việc kiểm tra, giám sát các hoạt động chỉ mang tính chất hậu kiểm, chưa kiểm soát được trong quá trình thực hiện.

Thứ sáu, công tác xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý còn chậm, việc huy động nguồn lực con người và nguồn lực tài chính chưa hiệu quả. Số lượng luật sư là cộng tác viên tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý của Nhà nước không nhiều, chưa thường xuyên, tích cực, nhiều luật sư mới hành nghề, chưa có nhiều kinh nghiệm và năng lực tham gia tố tụng còn hạn chế.

Thứ bảy, công tác quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý còn thiếu sự kết nối giữa trung ương và địa phương trong việc nắm bắt tình hình tổ chức, hoạt động trợ giúp pháp lý của Trung tâm. Mặt khác, chưa có cơ chế điều phối nguồn nhân lực từ địa phương này sang địa phương khác để thực hiện vụ việc kịp thời, hiệu quả.

Thứ tám, chất lượng và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý còn nhiều bất cập. Thực tế, chất lượng một số vụ việc tham gia tố tụng còn yếu kém. Hơn nữa, chưa có cơ chế hữu hiệu nhằm đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý gắn với việc cấp kinh phí một cách hiệu quả, khách quan, chính xác.

Để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác trợ giúp pháp lý, ngày 01/6/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015-2025 (sau đây gọi là Đề án). Đề án lấy người được trợ giúp pháp lý làm trung tâm tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển công tác trợ giúp pháp lý trong thời gian tới. Đề án đưa ra những nhiệm vụ, giải pháp trong công tác trợ giúp pháp lý nhằm mang lại lợi ích cho Nhà nước, xã hội và trực tiếp là đối tượng được thụ hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý.

Đề án đưa ra mục tiêu tổng quát là đổi mới công tác trợ giúp pháp lý theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa với lộ trình phù hợp cho đặc thù từng vùng, miền, khu vực, tiến tới sau năm 2025 người thực hiện trợ giúp pháp lý là luật sư hành nghề, bảo đảm cho các đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý được cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý kịp thời, chất lượng tương đương với dịch vụ mà luật sư cung cấp trên thị trường; chuyển các Trung tâm theo hướng từ việc chủ yếu cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý như hiện nay thành cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, tinh giản tổ chức, bộ máy và biên chế; cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính trong việc tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý của Nhà nước.

Bên cạnh những mục tiêu tổng quát mang tính chất định hướng chung cho công tác trợ giúp pháp lý trong thời gian tới, Đề án cũng đưa ra các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn và các nhóm nhiệm vụ, giải pháp như:

- Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể trong giai đoạn từ năm 2015 đến khi Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) có hiệu lực:

+ Về hoạt động trợ giúp pháp lý: Tập trung thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, trong đó chú trọng vụ việc tham gia tố tụng. Trung tâm chỉ thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hoạt động trợ giúp pháp lý.

+ Về tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý của Nhà nước trên cơ sở sắp xếp tổ chức các Trung tâm theo hướng tinh giản tổ chức, bộ máy và biên chế, giảm bớt chi phí bộ máy hành chính, tập trung nguồn lực cho việc nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý, tăng cường hiệu quả quản lý, bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu trợ giúp pháp lý, nguồn nhân lực cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý của từng địa phương và huy động các tổ chức xã hội tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý; không thành lập mới chi nhánh của Trung tâm, câu lạc bộ trợ giúp pháp lý; thực hiện rà soát chi nhánh, câu lạc bộ trợ giúp pháp lý để có giải pháp sáp nhập, giải thể.

Đề án đưa ra nhiệm vụ của Sở Tư pháp là đơn vị chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ và các sở, ban, ngành có liên quan xây dựng Đề án sắp xếp vị trí, việc làm của các công chức, viên chức trong Trung tâm cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ trong từng giai đoạn, bảo đảm Trung tâm có 02 thành phần gồm: Bộ phận trực tiếp thực hiện trợ giúp pháp lý là các trợ giúp viên pháp lý và bộ phận quản lý nghiệp vụ, tạo tiền đề để chuyển các Trung tâm thành cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý ở giai đoạn sau.

Đề án cũng đã đưa ra phương án xử lý số biên chế dôi dư như tăng cường cho đơn vị sự nghiệp, đơn vị hành chính của Sở Tư pháp, tổ chức pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp cấp huyện, cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, bảo đảm tổng số biên chế của các Trung tâm trong toàn quốc giảm 15% so với giai đoạn trước khi thực hiện Đề án.

+ Về xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý: Có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện nhằm thu hút đội ngũ luật sư có kinh nghiệm, trình độ, bản lĩnh nghề nghiệp thực hiện trợ giúp pháp lý như tăng mức bồi dưỡng theo vụ việc tố tụng cho luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo yêu cầu của Nhà nước; công bố rộng rãi danh sách người thực hiện trợ giúp pháp lý và tổ chức hành nghề luật sư được Nhà nước ký hợp đồng cung cấp dịch vụ công để người được trợ giúp pháp lý lựa chọn khi có nhu cầu.

+ Về nâng cao năng lực cho đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý và nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý: Thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng với các hình thức phù hợp theo hướng chuyên sâu nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng tranh tụng cho trợ giúp viên pháp lý và đào tạo bồi dưỡng cho một số chuyên viên thành trợ giúp viên pháp lý theo yêu cầu của các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đội ngũ luật sư trên địa bàn chưa đáp ứng được nhu cầu trợ giúp pháp lý. Tăng mức bồi dưỡng vụ việc tố tụng cho trợ giúp viên pháp lý bằng 40% mức chi trả tiền bồi dưỡng theo vụ việc đối với các luật sư. Đồng thời, xây dựng cơ chế chuyển đổi các trợ giúp viên pháp lý đã tham gia tố tụng đạt chỉ tiêu vụ việc được giao hàng năm và bảo đảm chất lượng thành luật sư (nếu có nguyện vọng) không phải qua đào tạo nghề luật sư và tập sự hành nghề luật sư, các luật sư này sẽ được Nhà nước ưu tiên ký hợp đồng để thực hiện trợ giúp pháp lý.

+ Về mô hình quản lý trợ giúp pháp lý: Tăng cường năng lực của cơ quan quản lý ở trung ương để thực hiện điều phối cho công tác trợ giúp pháp lý. Bộ Tư pháp (cụ thể là Cục Trợ giúp pháp lý) thực hiện hỗ trợ, điều phối nguồn lực đối với các vụ việc trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực tố tụng.

+ Về quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý: Ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng cơ sở dữ liệu để thực hiện quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý; ban hành chỉ tiêu vụ việc tham gia tố tụng cho trợ giúp viên pháp lý và tiêu chí thi đua xếp hạng cho các Trung tâm, trợ giúp viên pháp lý; tăng cường việc theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra; thực hiện chi thẩm định vụ việc và chi đánh giá chất lượng vụ việc tham gia tố tụng.

+ Về kinh phí: Ở Trung ương, bảo đảm nguồn ngân sách hằng năm và kinh phí theo các chính sách về trợ giúp pháp lý để chi cho các hoạt động, nhiệm vụ trong Đề án. Ở địa phương, ngoài nguồn được hỗ trợ từ trung ương, ngân sách địa phương có trách nhiệm bảo đảm kinh phí cho Trung tâm (trong đó, chi thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý ít nhất bằng 50% tổng kinh phí nghiệp vụ trợ giúp pháp lý do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp hàng năm).

+ Về xây dựng, hoàn thiện thể chế về trợ giúp pháp lý: Nghiên cứu, xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi).

- Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể của giai đoạn từ khi Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) có hiệu lực đến năm 2025:

+ Về hoạt động, đối tượng được trợ giúp pháp lý: Thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính; cung cấp dịch vụ đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật tại trụ sở, tư vấn pháp luật tiền tố tụng; mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý.

+ Về mô hình, tổ chức trợ giúp pháp lý nhà nước: Tiếp tục duy trì Trung tâm ở các tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn như giai đoạn từ năm 2015 đến khi Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) có hiệu lực, tăng cường năng lực cho các trợ giúp viên pháp lý, đồng thời có lộ trình chuyển Trung tâm thành cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, dịch vụ trợ giúp pháp lý vào năm 2025.

+ Về người thực hiện trợ giúp pháp lý: Trước năm 2025, người thực hiện trợ giúp pháp lý là trợ giúp viên pháp lý và luật sư. Nhà nước ký hợp đồng dài hạn với luật sư (luật sư công thực hiện trợ giúp pháp lý) hoặc hợp đồng vụ việc với luật sư hành nghề cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý. Sau năm 2025, người thực hiện trợ giúp pháp lý là luật sư.

Từ sau năm 2025, thực hiện đầy đủ các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi), xã hội hóa hoàn toàn công tác trợ giúp pháp lý, Nhà nước chỉ giữ vai trò quản lý, điều phối nguồn lực bảo đảm cho các đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý kịp thời, có chất lượng.

Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: