Thứ năm 15/01/2026 09:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những vấn đề cần chứng minh và trình tự điều tra vụ án hình sự về đất đai

Vấn đề chứng cứ và chứng minh trong các vụ án hình sự về đất đai hiện nay đang gặp nhiều khó khăn trên thực tiễn. Nguyên nhân chủ yếu và căn bản là sự phức tạp của loại án về đất đai liên quan đến nhiều luật chuyên ngành, trong khi các văn bản hướng dẫn về lĩnh vực đất đai lại quá rộng và phức tạp, nhiều văn bản chồng chéo, thiếu thống nhất.

Các cơ quan điều tra rất giỏi về nghiệp vụ điều tra, nhưng lại không sâu về pháp luật chuyên ngành. Chủ thể tội phạm liên quan đến đất đai thường là những người có chức vụ, quyền hạn, nắm khá chắc các quy định liên quan đến lĩnh vực đất đai và thường tìm kẽ hở các quy định của luật để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, việc nghiên cứu và làm rõ những vấn đề cần chứng minh trong điều tra vụ án hình sự về đất đai là hết sức cần thiết, từ đó, nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn hiện nay.

1. Những vấn đề cần chứng minh trong các vụ án hình sự về đất đai

Việc xác định những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự về đất đai cần căn cứ vào Điều 228, Điều 229 và Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), bao gồm:

Thứ nhất, chứng minh có hành vi phạm tội về đất đai xảy ra không? Thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội?

Khi chứng minh một người thực hiện hành vi nguy hiểm bị coi là tội phạm về đất đai (cụ thể là có hành vi vi phạm pháp luật trong sử dụng đất đai được quy định tại Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 2015, cần chứng minh người đó có hành vi lấn chiếm đất đai trái pháp luật (trái với quy định tại Điều 12 Luật Đất đai năm 2013). Hành vi sai trái này đã gây ra hậu quả nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến việc quản lý đất đai, cần thiết phải xử lý hành vi đó theo quy định của pháp luật hình sự.

Hành vi vi phạm các quy định trong sử dụng đất đai được thể hiện ở chỗ, người phạm tội đã tự ý chuyển dịch ranh giới hoặc mốc giới thửa đất để mở rộng diện tích đất trái với quy định của pháp luật, không được pháp luật cho phép.

Hành vi chiếm đất trái với quy định của pháp luật là trường hợp trước đó, người phạm tội được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hợp pháp, tuy nhiên, đã hết thời hạn và không được gia hạn, người đó không trả lại đất mà tiếp tục sử dụng gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, của các cơ quan, tổ chức thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý đất đai (được quy định tại Điều 229 Bộ luật Hình sự năm 2015), cần chứng minh người phạm tội có hành vi lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình để giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái với quy định của Luật Đất đai năm 2013.

Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định thêm một tội danh - Tội vi phạm các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 230). Theo đó, cần chứng minh người phạm tội đã có hành vi vi phạm các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Cụ thể, cần phải chứng minh làm rõ hành vi của người phạm tội đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để không lên phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hoặc lên phương án bất hợp lý gây thiệt hại đến tài sản và lợi ích của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức có đất bị Nhà nước thu hồi.

Ngoài ra, cần chứng minh để làm rõ một số nội dung khác như: Sự việc xảy ra khi nào? Những ai biết, ai là người báo tin? Sự việc xảy ra ở đâu? Liên quan đến những đối tượng nào? Diễn biến của sự việc như thế nào?...

Thứ hai, phải xác định được ai là người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về đất đai? Có lỗi hay không có lỗi? Lỗi do cố ý hay vô ý? Người đó có năng lực trách nhiệm hình sự hay không?Động cơ, mục đích phạm tội? Có đồng phạm hay không có đồng phạm?

Nội dung chứng minh này nhằm làm rõ dấu hiệu pháp lý cơ bản về mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm về đất đai, cụ thể như sau:

- Chủ thể của tội phạm về đất đai phải là con người cụ thể đang sống, có tên, tuổi, quê quán, thường trú... có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật hình sự. Người đó đã thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong mặt khách quan của tội phạm. Trường hợp có ít nhất từ hai người trở lên, cố ý cùng thực hiện tội phạm (trường hợp đồng phạm) thì phải chứng minh làm rõ vị trí, vai trò là chủ mưu, cầm đầu, xúi giục, thực hành, giúp sức… của từng đối tượng cụ thểnhằm đảm bảo cá thể hóa hành vi và cá thể hóa hình phạt cho từng đối tượng.

- Người phạm tội về đất đai phải có năng lực trách nhiệm hình sự, tức là, người phạm tội phải có đầy đủ năng lực nhận thức và năng lực hành vi, không mắc bệnh tâm thần và các khuyết tật khác về thể chất, ảnh hưởng đến năng lực nhận thức và năng lực hành vi. Người thực hiện hành vi phạm tội phải đạt độ tuổi theo luật định, đó là người từ đủ 16 tuổi trở lên hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đã thực hiện hành vi phạm tội đất đai được quy định tại khoản 3 Điều 228, Điều 229 và khoản 2, 3 Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 2015. Người thực hiện hành vi phạm tội về đất đai chỉ có thể là lỗi cố ý trực tiếp. Tức là, người phạm tội nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản đất đai là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện và mong muốn tội phạm được hoàn thành. Động cơ, mục đích phạm tội khá rõ ràng, đó là có tính chất vụ lợi hoặc tư lợi.

Thứ ba, cần phải chứng minh và làm rõ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 29, Điều 51, Điều 52, Điều 59 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); làm rõ các đặc điểm nhân thân của người phạm tội cũng như nguyên nhân và điều kiện phạm tội

Cần phải làm rõ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng như có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm, tái phạm nguy hiểm; làm rõ các tình tiết giảm nhẹ như người phạm tội như ăn năn, hối cải; đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm; người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả… Trong quá trình điều tra vụ án hình sự về đất đai, cần phải làm rõ đặc điểm nhân thân của người phạm tội. Cụ thể, phải làm rõ căn cước lai lịch; điều kiện kinh tế, hoàn cảnh bản thân và gia đình; tiền án, tiền sự; tái phạm, tái phạm nguy hiểm; phạm tội nhiều lần... Ngoài ra, cần xem xét nguyên nhân thực hiện hành vi phạm tội, điều kiện thực hiện hành vi phạm tội (việc phân tích yếu tố điều kiện phạm tội còn xem xét sự buông lỏng quản lý, sự không chặt chẽ trong quy định của pháp luật dẫn đến việc phạm tội).

Thứ tư, xác định tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội về đất đai gây ra

Cần phải làm rõ toàn bộ thiệt hại về vật chất và tinh thần do tội phạm về đất đai gây ra cho bị hại và xã hội. Cụ thể, phải làm rõ hành vi phạm tội xâm hại đến khách thể nào? Gây thiệt hại như thế nào? Hậu quả tội phạm ra sao?...

Tóm lại, những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự về đất đai là hệ thống các tình tiết phản ánh về vụ án cần phải được làm rõ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự về đất đai là cơ sở để đề ra kế hoạch giải quyết vụ án, giúp cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử đạt hiệu quả cao, đồng thời, có thể tránh được các hoạt động tố tụng hình sự tuỳ tiện, không đúng quy định của pháp luật.

2. Trình tự điều tra vụ án hình sự về đất đai

Một là, tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo tội phạm về đất đai, kiến nghị khởi tố và công tác điều tra tại hiện trường

Hoạt động điều tra vụ án hình sự được bắt đầu từ khi cơ quan điều tra tiếp nhận xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố các vụ án về đất đai và kết thúc khi cơ quan điều tra hoàn thành việc điều tra, kết luận điều tra đề nghị Viện kiểm sát truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra đối với vụ án.

Khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm đất đai, điều tra viên đăng ký vào sổ thụ lý, báo cáo Thủ trưởng cơ quan điều tra phân công điều tra viên giải quyết, đồng thời thông báo cho Viện kiểm sát biết để tiến hành kiểm sát việc giải quyết tin, trong trường hợp khẩn cấp cần tiến hành công tác điều tra tại hiện trường để thu thập dấu vết, tài liệu, chứng cứ, vật chứng tại hiện trường vụ án hình sự về đất đai.

Hai là, áp dụng các biện pháp điều tra theo tố tụng hình sự, các biện pháp ngăn chặn và biện pháp nghiệp vụ khác để thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm về đất đai

- Áp dụng các biện pháp ngăn chặn để phục vụ cho việc tiến hành các hoạt động điều tra các vụ án hình sự về đất đai, như giữ người trong trường hợp khẩn cấp; bắt; tạm giữ; tạm giam; cấm đi khỏi nơi cư trú; bảo lĩnh; đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm. Đây là những hoạt động nhằm bảo đảm cho quá trình điều tra vụ án hình sự về đất đai được tiến hành đúng quy định của pháp luật. Đòi hỏi việc áp dụng biện pháp ngăn chặn phải đúng, có căn cứ, tránh trường hợp lạm dụng việc áp dụng biện pháp ngăn chặn làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

- Tiến hành các biện pháp điều tra các vụ án hình sự về đất đai theo tố tụng hình sự, như khám nghiệm hiện trường; thu thập các thông tin, tài liệu, vật chứng liên quan đến vụ án; khám xét, kê biên, phong tỏa tài sản; hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, bị hại, người liên quan; trưng cầu giám định chuyên môn; định giá tài sản đất; nhận dạng; đối chất; thực nghiệm điều tra... nhằm mục đích thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội về đất đai, chứng cứ gỡ tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can, các tình tiết khác liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của bị can và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự về đất đai.

Ba là, kết thúc điều tra

Kết thúc điều tra là một trong những nội dung quan trọng trong điều tra vụ án hình sự về đất đai. Khi có đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi phạm tội về đất đai, cơ quan điều tra sẽ làm bản kết luận điều tra, chuyển hồ sơ vụ án hình sự về đất đai sang Viện kiểm sát để đề nghị truy tố. Kết luận điều tra phải phản ánh được toàn bộ kết quả của quá trình điều tra vụ án hình sự đất đai và dựa trên cơ sở những tài liệu, chứng cứ, tài liệu đã thu thập được. Khi có các căn cứ được quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thì cơ quan điều tra sẽ ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án./.

ThS. Nguyễn Thanh Mai

Học viện Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: