Thứ bảy 05/09/2026 21:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những vấn đề đặt ra trong điều tra vụ án hình sự do pháp nhân thương mại thực hiện

Bộ luật Hình sự năm 2015 ra đời đánh dấu bước phát triển mang tính đột phá trong chính sách hình sự và tư duy lập pháp hình sự của Nhà nước ta. Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự, trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân thương mại được quy định trong Bộ luật Hình sự, làm thay đổi tư duy truyền thống về tội phạm và hình phạt, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện ở Việt Nam, đồng thời tạo cơ sở pháp lý trong hợp tác quốc tế đấu tranh phòng chống tội phạm, nhất là đối với các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

Trên cơ sở pháp luật hiện hành, việc điều tra vụ án hình sự do pháp nhân thương mại thực hiện cần chú ý một số vấn đề:

Thứ nhất, theo Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015: “1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. 2. pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. 3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan”. Pháp nhân thương mại trước hết là pháp nhân, tức một tổ chức được thành lập hợp pháp theo quy định pháp luật; có cơ cấu tổ chức (có cơ quan điều hành và các cơ quan khác); có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Thứ hai, pháp nhân thương mại phải là các doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế khác với mục tiêu hoạt động chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Như vậy, trong quá trình điều tra vụ án hình sự do pháp nhân thương mại thực hiện đòi hỏi Cơ quan điều tra phải thu thập các tài liệu, chứng cứ xác định tư cách pháp lý của pháp nhân thương mại. Nếu không xác định đúng tư cách pháp lý của pháp nhân thương mại sẽ dẫn đến việc truy cứu trách nhiệm sai về chủ thể thực hiện tội phạm.

Thứ ba, điều kiện chịu TNHS của pháp nhân thương mại. Khoản 1 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xác định pháp nhân thương mại chỉ phải chịu TNHS khi thoả mãn đồng thời bốn điều kiện là: (1) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; (2) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; (3) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; (4) Chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS. Các điều kiện trên cũng chính là tiêu chuẩn để xác định hành vi của pháp nhân và một hành vi phạm tội phải thoả mãn bốn điều kiện trên thì hành vi đó mới là hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại. Những điều kiện đó đặt ra yêu cầu đối với Cơ quan điều tra trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ phải thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định sự thoả mãn đồng thời của bốn điều kiện nêu trên.

Thứ , phạm vi chịu TNHS của pháp nhân thương mại. Theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300 và 324 thuộc Bộ luật Hình sự, thuộc ba nhóm tội phạm là các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các tội phạm về môi trường và các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Các tội phạm này tương ứng với các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của pháp nhân thương mại và các lĩnh vực phạm tội phổ biến do pháp nhân thương mại thực hiện trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do vậy, cần nghiên cứu, đánh giá, xác định hành vi vi phạm pháp luật của pháp nhân thương mại trong sự đối chiếu với các hành vi khách quan được mô tả trong 33 tội danh được quy định trong Bộ luật Hình sự.

Thứ năm, tại khoản 2 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “Việc pháp nhân thương mại chịu TNHS không loại trừ TNHS của cá nhân”. TNHS của pháp nhân thương mại không thay thế, làm loại bỏ hoặc ảnh hưởng đến việc truy cứu TNHS đối với cá nhân. Như vậy, không được coi việc truy cứu TNHS đối với pháp nhân thương mại về hành vi phạm tội là để thay thế cho việc truy cứu TNHS đối với cá nhân về hành vi phạm tội đó mà cá nhân phải đồng chịu trách nhiệm với TNHS về hành vi phạm tội, việc điều tra hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại không đồng nhất với điều tra hành vi phạm tội của cá nhân.

Thứ sáu, về người tham gia tố tụng hình sự khi pháp nhân thương mại bị truy cứu TNHS. Theo quy định tại Điều 434 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, mọi hoạt động tố tụng hình sự của pháp nhân thương mại bị truy cứu TNHS được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại. Pháp nhân thương mại phải cử và bảo đảm cho người đại diện theo pháp luật của mình tham gia đầy đủ các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại bị truy cứu TNHS được quy định tại Điều 435 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong đó người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phải có mặt theo giấy triệu tập, trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể ra quyết định dẫn giải. Trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra cần chủ động xác định, đảm bảo các quyền, nghĩa vụ và tiến hành các hoạt động tố tụng đối với của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại.

Thứ bảy, những vấn đề cần phải chứng minh khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân thương mại bị buộc tội. Theo quy định tại Điều 441, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Cơ quan điều tra cần xác định: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội thuộc TNHS của pháp nhân theo quy định của Bộ luật Hình sự; Lỗi của pháp nhân, lỗi của cá nhân là thành viên của pháp nhân; Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội của pháp nhân gây ra; Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS và tình tiết khác liên quan đến miễn hình phạt; Nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Trong đó, cần đặc biệt chú ý đến các tình tiết giảm nhẹ TNHS áp dụng đối với pháp nhân thương mại (Đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; Tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án; Có nhiều đóng góp trong việc thực hiện chính sách xã hội) và các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng TNHS (Câu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội; Cố ý thực hiện tội phạm đến cùng; Phạm tội 02 lần trở lên; Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội; Dùng thủ đoạn tinh vi để phạm tội hoặc nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm).

Thứ tám, về các biện pháp cưỡng chế có thể áp dụng đối pháp nhân thương mại bị truy cứu TNHS. Theo quy định tại Điều 436 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử bao gồm: (1) Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; (2) Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; (3) Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; (4) Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án. Thời hạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế nêu trên không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử. Từ đó, đòi hỏi Cơ quan điều tra căn cứ tình hình thực tiễn áp dụng kịp thời, chính xác biện pháp cưỡng chế đảm bảo quá trình điều tra diễn ra thuận lợi.

Tính đến thời điểm hiện nay, nước ta có 01 vụ án hình sự do pháp nhân thương mại thực hiện được xét xử theo Điều 226 Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp[1]. Dưới phương diện lý luận cũng như thực tiễn, điều tra vụ án hình sự do pháp nhân thương mại thực hiện xuất hiện một số vấn đề vướng mắc gây cản trở quá trình tiến hành tố tụng như: phân định TNHS giữa cá nhân với pháp nhân thương mại, xác định yếu tố lỗi, đồng phạm của pháp nhân thương mại, cơ quan tiến hành giám định sở hữu trí tuệ… Trong thời gian tới, nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức điều tra vụ án, về cơ bản theo chúng tôi cần tập trung vào các giải pháp cụ thể sau đây:

Một là, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nghiên cứu, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015, từng bước tháo gỡ những phát sinh trong quá trình áp dụng, đặc biệt chú trọng giải quyết các vướng mắc trong điều tra các vụ án hình sự do pháp nhân thương mại thực hiện. Hiện nay, liên quan đến 33 loại tội pháp nhân thương mại có thể vi phạm, chỉ có Điều 244 tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm và Điều 324 tội rửa tiền có Nghị quyết hướng dẫn còn các loại tội mới vẫn tồn tại nhiều vấn đề khó khăn trong xử lý. Đồng thời, cần hướng dẫn áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân thương mại bị truy cứu TNHS, hướng dẫn vấn đề thời hiệu truy cứu TNHS nếu theo quy định tại Điều 9 và Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì các tội do pháp nhân thương mại thực hiện đều là tội phạm ít nghiêm trọng nên thời hiệu truy cứu TNHS của pháp nhân thương mại là 05 năm, các trường hợp khi pháp nhân thương mại phạm tội nhưng đã giải thể, tách, nhập…

Hai là, nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm của điều tra viên. Không khó để chúng ta có thể thống nhất trong nhận thức, quyết định tới chất lượng và hiệu quả điều tra vụ án hình sự là nhân tố con người, trong đó điều tra viên đóng vai trò trung tâm, then chốt. Khi có được đội ngũ điều tra viên có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị và lập trường tư tưởng kiên định, vững vàng, có trình độ pháp luật, nghiệp vụ cao, có sự hiểu biết cần thiết về các lĩnh vực tri thức liên ngành khác, có thể chất tốt, thì nhất định hoạt động điều tra vụ án hình sự sẽ cho kết quả tốt. Xuyên suốt trong quá trình công tác, mỗi điều tra viên phải luôn quá triệt tinh thần tự học, học để hoàn thiện nâng cao trình độ bản thân, sửa chữa những lệch lạc, hạn chế, yếu kém, học để tu dưỡng đạo đức cách mạng và phẩm chất cá nhân. Bên cạnh kiến thức nghiệp vụ về điều tra vụ án hình sự, cần đảm bảo hệ thống kiến thức pháp luật vững vàng, đặc biệt là các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động tố tụng như Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015…, các văn bản hướng dẫn thi hành và các biểu mẫu tố tụng hình sự. Điều tra viên cũng cần tự học hỏi, tự trang bị những kiến thức mềm trong quá trình điều tra vụ án như kỹ năng quan sát, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng sử dụng các phương tiện điện tử…

Ba là, thường xuyên tiến hành sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm trong điều tra vụ án hình sự do pháp nhân thương mại thực hiện và điều tra các vụ án hình sự về 33 loại tội phạm pháp nhân thương mại có thể thực hiện. Đây là nội dung đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi diễn ra nhiều vụ án hình sự phức tạp nhất là các vụ án hình sự liên quan đến lĩnh vực quản lý kinh tế, lĩnh vực môi trường. Đối với nhóm tội phạm về môi trường việc phát hiện tội phạm thường không nhanh, có thể kéo dài 1 - 2 năm; việc thu thập dữ liệu, chứng cứ gặp nhiều khó khăn bởi các mẫu phân tích có thể thay đổi vào các thời điểm khác nhau; việc thu thập và bảo quản chứng cứ có nhiều phức tạp bởi có chứng cứ phải bảo quản, có chứng cứ buộc phải thả ngay như động vật hoang dã… Trên cơ sơ kết, tổng kết đánh giá tổng thể công tác điều tra các vụ án hình sự, cần nhanh chóng xác định các vụ án nào có tính điểm, có nhiều điểm mới để tiến hành phổ biến kinh nghiệm trong các Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an.

Bốn là, bảo đảm các điều kiện cho hoạt động của điều tra viên. Hiệu quả của hoạt động điều tra vụ án hình sự do pháp nhân thương mại thực hiện chủ yếu thuộc nhóm tội phạm xâm phạm quản lý kinh tế, tội phạm môi trường nên phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện khoa học - kỹ thuật đảm bảo cho hoạt động điều tra. Theo đó, cần tiếp tục đầu tư, bảo đảm kinh phí và cơ sở vật chất, vũ khí, công cụ hỗ trợ, trang thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ cho hoạt động điều tra các vụ án hình sự do pháp nhân thương mại thực hiện. Đồng thời, cần chú trọng nâng cao trình độ, năng lực trong sử dụng các phương tiện kỹ thuật liên quan đến công tác điều tra cho điều tra viên.

Năm là, chú trọng ký Quy chế phối hợp giữa lực lượng chuyên trách với các cơ quan quản lý nhà nước trên lĩnh vực trật tự quản lý kinh tế và môi trường ở trung ương và địa phương liên quan đến phòng ngừa pháp nhân thương mại phạm tội. Trong nội dung Quy chế phối hợp cần lưu ý nhấn mạnh hoặc bổ sung những vấn đề có liên quan quan đến phòng, chống pháp nhân thương mại phạm tội, qua đó không chỉ góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm; mà còn tạo điều kiện cho lực lượng chuyên trách và cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tập trung nguồn lực để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống pháp nhân thương mại phạm tội trong thời gian tới./.

ThS. Nguyễn Thị Hạnh Quyên & ThS. Hoàng Thịnh
Khoa Pháp luật, Học viện Chính trị Công an nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: