Thứ tư 23/09/2026 01:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những vướng mắc trong hoạt động công chứng hợp đồng tặng cho tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Hợp đồng tặng cho tài sản là một trong những loại hợp đồng dân sự thông dụng trong đời sống xã hội. Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, các hợp đồng tặng cho tài sản đang có xu hướng gia tăng cả về số lượng và chất lượng. Từ đó, các tranh chấp liên quan đến loại hợp đồng này phát sinh ngày càng nhiều và phức tạp. Có thể nhận định, chế định hợp đồng tặng cho tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015 có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật này.

Hiện nay, cơ sở pháp lý mà Công chứng viên áp dụng vào hoạt động công chứng hợp đồng tặng cho tài sản chủ yếu là Bộ luật Dân sự năm 2015 (từ Điều 457 đến Điều 462) và Luật Công chứng năm 2014. Tại Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015 định nghĩa như sau: “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận”.

Từ thực tiễn áp dụng chế định hợp đồng tặng cho tài sản cho thấy còn tồn tại nhiều bất cập, vướng mắc, gây không ít khó khăn, lúng túng đối với Công chứng viên tại các tổ chức hành nghề công chứng. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, Bộ luật Dân sự năm 2015 không có quy định riêng về năng lực chủ thể của bên tặng cho tài sản. Do đó, năng lực chủ thể của bên tặng cho tài sản được áp dụng theo các quy định chung trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, đối với hợp đồng tặng cho tài sản theo tác giả cần phải có quy định riêng về năng lực chủ thể của bên tặng cho tài sản bởi vì khác với các hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác như mua bán, trao đổi, cho vay… đều không làm giảm sút tài sản của cả hai bên trong hợp đồng nhưng đối với hợp đồng tặng cho tài sản thì bên tặng cho sẽ giảm sút tài sản (thậm chí một cách đáng kể) khi họ tặng cho tài sản cho người khác. Do đó, đa phần pháp luật các quốc gia trên thế giới đều dựa trên lý thuyết về sự không có đền bù của giao dịch tặng cho tài sản để quy định điều kiện chủ thể tặng cho tài sản chặt chẽ hơn và yêu cầu mức độ cao hơn khi thiết lập các hợp đồng khác. Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa vận dụng lý thuyết này khi quy định về chủ thể tặng cho tài sản, dẫn đến có thể không bảo đảm được một cách chặt chẽ quyền lợi của người tặng cho tài sản. Vì vậy, tác giả kiến nghị trong trường hợp này, các nhà làm luật nên quy định bổ sung về năng lực chủ thể của bên tặng cho vào chế định hợp đồng tặng cho tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ hai, đối với trường hợp người tặng cho tài sản là người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”.

Điều 73 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật” (khoản 1); “Đối với giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì phải có sự thỏa thuận của cha mẹ” (khoản 3); “Cha, mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới về việc thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản của con được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này và theo quy định của Bộ luật Dân sự” (khoản 4).

Khoản 2 Điều 77 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015 quy định: “Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ”.

Như vậy, đối với chủ thể từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, khi xác lập giao dịch tặng cho đối với tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký thì phải được sự đồng ý của cha mẹ người đó. Có nghĩa là, trong hợp đồng tặng cho tài sản sẽ xuất hiện thêm chủ thể là cha mẹ của người có tài sản tặng cho với tư cách là người đại diện. Tuy nhiên, nhiều câu hỏi được đặt ra trong trường hợp này là: Sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật đối với việc người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi xác lập hợp đồng tặng cho tài sản là sự đồng ý ở trạng thái nào? Sự đồng ý cho chủ thể đó lập hợp đồng tặng cho bất kỳ (cả về tài sản cũng như người được tặng cho) hay đồng ý cho chủ thể đó xác lập một hợp đồng tặng cho cụ thể - đối với tài sản cụ thể và người được tặng cho cụ thể? Sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật đối với việc người tặng cho tài sản từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi xác lập hợp đồng tặng cho tài sản đó được thể hiện dưới hình thức nào? Thể hiện bằng cách người đại diện theo pháp luật tham gia vào việc ký kết hợp đồng hay thể hiện bằng một văn bản riêng song song cùng hợp đồng tặng cho tài sản? Đây là những vấn đề chưa được quy định rõ ràng, vì vậy, việc thực hiện nội dung quy định của pháp luật nêu trên hiện nay còn nhiều tranh cãi, chưa có sự thống nhất ở một số tổ chức hành nghề công chứng. Do đó, cần có quy định bổ sung hoặc sự hướng dẫn áp dụng cụ thể trong trường hợp này, tạo ra sự thống nhất áp dụng giữa các tổ chức hành nghề công chứng trong quá trình hoạt động.

Thứ ba, đối với trường hợp người tặng cho tài sản là người từ đủ 06 tuổi đến dưới 15 tuổi được quy định tại Điều 21, Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 77 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Theo các quy định hiện hành thì có thể khẳng định rằng, những giao dịch dân sự của người dưới 15 tuổi đều được xác lập thông qua người đại diện theo pháp luật (trừ những giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người từ đủ 06 tuổi đến dưới 15 tuổi). Vậy, có một câu hỏi đã gây nhiều tranh cãi đó là: Người dưới 15 tuổi trong hợp đồng tặng cho tài sản có thể đem tài sản của mình tặng cho người khác được hay không? Nếu theo quy định của pháp luật nêu trên thì họ phải thực hiện việc tặng cho tài sản của mình thông qua người đại diện theo pháp luật. Như vậy, trong hợp đồng tặng cho tài sản ở trường hợp này mới chỉ thấy được ý chí của người đại diện theo pháp luật mà không thấy được ý chí của người chủ sở hữu tài sản. Hơn nữa, theo tinh thần của khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người đại diện được quyền “xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” đều phải bảo đảm nguyên tắc “vì lợi ích” của người được đại diện. Trong khi đó, hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu và không có sự “đền bù” dành cho chủ sở hữu tài sản, hay có thể nói, hợp đồng không mang lại bất kỳ quyền lợi nào cho chủ sở hữu, lợi ích của chủ sở hữu bị xâm phạm nhưng lại không có sự thể hiện ý chí đồng ý của chủ sở hữu. Theo đó, pháp luật hiện nay chưa cho phép chủ thể của hợp đồng tặng cho tài sản với vị trí người tặng cho là người dưới 15 tuổi.

Việc hiểu “vì lợi ích” của người được đại diện mới đang chỉ theo nghĩa là không làm cho khối tài sản của người được đại diện mất đi, hao hụt đi mà chỉ được làm cho nó phát triển lên, không suy chuyển hoặc có sự thâm hụt nhưng nhằm mục đích phục vụ chính nhu cầu thiết yếu của người được đại diện. Tức là chỉ đang xem xét đến lợi ích cho người được đại diện ở đây là những lợi ích về mặt vật chất chứ chưa xét đến lợi ích khác. Trong khi trên thực tế, ngoài lợi ích vật chất, người được đại diện là người dưới 15 tuổi có thể còn những lợi ích về mặt tinh thần. Trên thực tiễn có nhiều trường hợp người dưới 15 tuổi có nhu cầu tặng cho tài sản thuộc quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác trong một số trường hợp đặc biệt như người được tặng cho là người người thân cần tài sản ngay để chữa bệnh.

Vậy đây cũng là một vấn đề mà các nhà làm luật cân nhắc có nên xem xét chấp nhận hợp đồng tặng cho tài sản mà người tặng cho là người dưới 15 tuổi trong một số trường hợp đặc biệt hay không.

Thứ tư, Bộ luật Dân sự năm 2015 mới chỉ quy định hình thức bắt buộc đối với hợp đồng tặng cho tài sản là bất động sản, còn hợp đồng tặng cho tài sản là động sản thì chưa quy định hình thức bắt buộc. Tuy nhiên, trên thực tế có những hoạt động tặng cho tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu thì người được tặng cho tài sản khi nhận chuyển giao quyền sở hữu cũng phải thực hiện một số hoạt động chứng minh mình là người sở hữu hợp pháp tài sản đó. Vậy nên, để tạo điều kiện thuận lợi cho các bên giao kết hợp đồng, cũng như cơ sở pháp lý chặt chẽ hơn thì Bộ luật Dân sự năm 2015 nên quy định hình thức bắt buộc đối với hợp đồng tặng cho tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu.

Thứ năm, thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:

- Đối với tặng cho động sản: Có hiệu lực kể từ “thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản” và kể từ “thời điểm đăng ký” đối với động sản mà pháp luật quy định đăng ký quyền sở hữu.

- Đối với tặng cho bất động sản: Có hiệu lực kể từ “thời điểm đăng ký” và kể từ “thời điểm chuyển giao tài sản” đối với bất động sản không phải đăng ký.

Việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản nêu trên với cả 02 loại tặng cho động sản và bất động sản đều đang có mâu thuẫn với thời điểm có hiệu lực của văn bản công chứng. Tại khoản 1 Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 quy định về giá trị pháp lý của văn bản công chứng như sau: “Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng”. Như vậy, mọi văn bản công chứng sẽ có hiệu lực từ thời điểm được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng. Tuy nhiên, với việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015 thì không trùng với thời điểm có hiệu lực của văn bản công chứng. Do đó, khi tham gia giao kết hợp đồng tặng cho tài sản, các bên sẽ gặp lúng túng trong việc nhận thức khi nào thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực pháp luật.

Hơn nữa, việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho động sản không phải đăng ký quyền sở hữu là khi “bên được tặng cho nhận tài sản” và bất động sản không phải đăng ký là “thời điểm chuyển giao tài sản”. Hai trường hợp này tuy khác nhau về đối tượng tặng cho, nhưng cả 02 loại tài sản đều không phải đăng ký quyền sở hữu mà quy định thời điểm hợp đồng có hiệu lực lại khác nhau. Theo tác giả, nên thay đổi quy định này theo hướng thống nhất cho hợp đồng tặng cho tài sản đối với cả 02 loại tài sản trên cùng một thời điểm có hiệu lực là “thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản”, như vậy vừa thống nhất được về mặt từ ngữ, thuật ngữ pháp lý, vừa tránh gây ra sự khó hiểu cho các bên tham gia giao kết hợp đồng.

Đồng thời, nhằm giúp cho các bên tham gia giao kết hợp đồng hiểu rõ về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản thì Công chứng viên cần giải thích rõ ràng, chi tiết hơn về quy định của pháp luật cho các bên.

Thứ sáu, liên quan đến năng lực hành vi dân sự của người tặng cho tài sản, khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”.

Trên cơ sở quy định này thì khi xác định năng lực hành vi dân sự của người tặng cho tài sản là “người bị bệnh tâm thần” - về đối tượng này, Công chứng viên tương đối dễ dàng nhận biết thông qua quá trình giao tiếp đối với người đó, thông qua việc hỏi đáp tại thời điểm công chứng. Nếu Công chứng viên nhận thấy có dấu hiệu người đó không nhận thức được một cách bình thường, hay nói cách khác là bị vấn đề về thần kinh thì Công chứng viên có thể đặt vấn đề nghi vấn là người đó rơi vào trạng thái bị mất năng lực hành vi dân sự.

Tuy nhiên, trường hợp người “mắc bệnh khác mà không thể nhận thức” - về đối tượng này cho đến nay vẫn chưa thể liệt kê được đầy đủ các “bệnh khác” dẫn đến không thể nhận thức được hành vi là những bệnh gì. Điều này gây ra nhiều tranh cãi trên thực tế. Ví dụ: A trên 18 tuổi, là người bị câm, điếc bẩm sinh, đồng thời A không được gia đình cho theo học tại bất kỳ trường lớp nào. Vậy, nếu A là người có tài sản và tham gia vào hợp đồng tặng cho tài sản thì năng lực hành vi dân sự của A được xác định như thế nào? A chỉ là người khuyết tật về mặt thể chất còn năng lực hành vi dân sự của A là đầy đủ hay A bị coi là mất năng lực hành vi dân sự? Khi gặp trường hợp này trên thực tế, nhiều Công chứng viên đã có những quan điểm khác nhau, gây khó khăn, lúng túng trong quá trình hoạt động. Do vậy, cần bổ sung quy định của pháp luật rõ ràng hơn, cụ thể các trường hợp mắc “bệnh khác” là những bệnh gì mà có thể dẫn đến không nhận thức được hành vi.

Thứ bảy, liên quan đến vấn đề thời hiệu khởi kiện về hợp đồng, Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.

Trong chế định về hợp đồng tặng cho tài sản được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 459 quy định về tặng cho bất động sản: “Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật”. Theo quy định này thì chúng ta được phép hiểu ngay rằng hợp đồng tặng cho bất động sản đương nhiên được pháp luật thừa nhận là hợp đồng tặng cho tài sản. Vì theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Do vậy, thời hiệu khởi kiện tranh chấp đối với hợp đồng tặng cho tài sản trong trường hợp này tuân theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 là 03 năm.

Tuy nhiên, khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Người sử dụng đất được thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này”. Như vậy, người sử dụng đất có quyền tặng cho quyền sử dụng đất và việc tặng cho quyền sử dụng đất cũng phải thực hiện theo đúng tinh thần của Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015: Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực (khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013). Liên quan đến thời hiệu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất hiện nay, Luật Đất đai năm 2013 không có quy định. Như vậy, mặc nhiên cho phép chúng ta hiểu là tranh chấp về quyền sử dụng đất không bị hạn chế về mặt thời gian, việc khởi kiện lúc nào là do các bên đương sự tự quyết định.

Vậy, đối với hợp đồng tặng cho tài sản có đối tượng tài sản tặng cho là “quyền sử dụng đất” thì chúng ta nên hiểu nó là loại hợp đồng nào? Là hợp đồng tặng cho tài sản theo quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 hay là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013? Việc xác định chính xác, rõ ràng tên của hợp đồng này cũng gây ra lúng túng đối với Công chứng viên trong hoạt động công chứng, vì nó liên quan đến vấn đề thời hiệu khởi kiện tranh chấp của 02 loại hợp đồng này là hoàn toàn khác nhau.

Thứ tám, về vấn đề “điều kiện” quy định tại Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo Điều luật này: “Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”. Câu hỏi được đặt ra là: Khi công chứng hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, Công chứng viên phải xem xét các “điều kiện” tặng cho nào là hợp pháp? Hay sẽ chấp nhận những “điều kiện” nào? Thông thường, Công chứng viên nhận thức rõ là “điều kiện” của hợp đồng tặng cho không được phép vi phạm chính những đặc điểm, tính chất của hợp đồng tặng cho tài sản. Cụ thể là “điều kiện” đó không được cản trở hoặc xâm phạm vào đặc điểm “giao tài sản”, “chuyển quyền sở hữu” và “không có đền bù”; không được làm cho hợp đồng tặng cho tài sản mang dấu hiệu hay đặc trưng của các loại hợp đồng, giao dịch khác như hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng trao đổi tài sản, hợp đồng dịch vụ… Hơn nữa là “điều kiện” rất rõ ràng: không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, mặc dù “điều kiện” được bên tặng cho đưa ra đáp ứng đủ các vấn đề nêu trên nhưng có những trường hợp không xem xét tình hình thực tế của bên được tặng cho mà đưa ra những điều kiện rất khó để có thể thực hiện, thậm chí là bất khả thi. Vậy, trong những trường hợp này, Công chứng viên có xem xét, chấp nhận những điều kiện đó để ký công chứng hợp đồng hay không?

Bên cạnh đó, khi công chứng hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện theo Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015, Công chứng viên cũng gặp một vướng mắc khác là “điều kiện” có phải được lập thành một điều khoản bắt buộc trong hợp đồng hay không khi cả hai bên tặng cho và bên nhận tặng cho đều không muốn xác lập rõ trong hợp đồng? Các bên đều mong muốn tự thỏa thuận riêng hoặc xác lập “điều kiện” bằng một văn bản riêng, miễn sao “điều kiện” đó đáp ứng được các tiêu chí mà tác giả nêu trên.

Thứ chín, về vấn đề không thực hiện được điều kiện của bên được tặng cho tài sản, khoản 3 Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

Theo quy định này, bên được tặng cho tài sản phải trả lại tài sản cũng như đền bù thiệt hại cho bên tặng cho tài sản khi không thực hiện được nghĩa vụ là các “điều kiện” mà hai bên đã thỏa thuận trước đó. Như vậy, theo đúng tinh thần nội dung điều luật thì cứ không thực hiện được “điều kiện” là bên tặng cho được đòi lại tài sản. Điều luật chưa đề cập đến trường hợp ngoại lệ nào về việc bên được tặng cho không thực hiện được các điều kiện mà hai bên đã cam kết, không cần phải tìm hiểu hay xem xét về các lý do dẫn đến việc bên được tặng cho không thực hiện điều kiện. Điều này cho thấy chưa có sự liên hệ khoản 3 Điều 462 với quy định của một số điều luật khác trong chính cùng một văn bản luật là Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể như trong trường hợp bên được tặng cho không thực hiện “điều kiện” tặng cho do có sự kiện bất khả kháng hay do lỗi cố ý của bên tặng cho. Khoản 2 Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác; bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền”.

Theo đó, chúng ta đều có thể hiểu, sự kiện bất khả kháng là căn cứ để loại trừ trách nhiệm cho bên được tặng cho. Nếu áp dụng theo quy định này, trong trường hợp không thực hiện được “điều kiện” do sự kiện bất khả kháng thì bên được tặng cho không có nghĩa vụ phải trả lại tài sản cho bên tặng cho và như vậy thì bên tặng cho cũng không có quyền đòi lại tài sản nếu “điều kiện” mà bên được tặng cho không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên tặng cho. Đây là trường hợp, các điều kiện mà hai bên thỏa thuận đưa ra đòi hỏi cần có sự hợp tác của bên tặng cho, thậm chí phụ thuộc vào ý chí của bên tặng cho thì bên được tặng cho mới thực hiện được. Nhưng vì một lý do nào đó, sau khi đã ký hợp đồng tặng cho tài sản nhưng bên tặng cho không muốn tặng cho nữa nên đã cố tình không hợp tác để cho bên được tặng cho không thực hiện được các “điều kiện”. Đây chính là vấn đề còn vướng mắc, bất cập mà Công chứng viên còn gặp phải, gây ra khó khăn để giải thích cho các bên tham gia giao kết hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, cũng gây ra không ít khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp.

Thứ mười, “điều kiện” trong Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định chung là không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội mà không có sự đề cập hay liệt kê về các “điều kiện” nào thì sẽ được chấp nhận trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện. Trên thực tiễn công tác công chứng hiện nay có nhiều trường hợp người cao tuổi là cụ, ông bà, hay cha mẹ tha thiết muốn tặng cho con cháu tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở (là những thửa đất, căn nhà do tổ tiên lâu đời để lại, truyền từ đời này sang đời khác) nhưng kèm theo điều kiện là chỉ được ở chứ không được bán, với mong muốn là con cháu duy trì, gìn giữ căn nhà hay thửa đất đó làm nơi để ở đồng thời làm nơi thờ cúng tổ tiên. Điều này là hoàn toàn phù hợp với phong tục tập quán, với truyền thống đạo đức của người Việt Nam từ xưa tới nay, theo đó, bên được tặng cho là con cháu có quyền được sử dụng nhưng không có quyền định đoạt bán đi tài sản được tặng cho. Tuy nhiên, nó lại không phù hợp với quy định của pháp luật về bản chất của hợp đồng tặng cho tài sản như tác giả đã đề cập ở trên. Vậy nên, cho dù “điều kiện” đó là chính đáng, không vi phạm pháp luật và lại phù hợp đạo đức xã hội nhưng vẫn không được chấp nhận trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện. Vậy thiết nghĩ, các nhà làm luật có nên bổ sung về các “điều kiện” được chấp nhận trong loại hợp đồng tặng cho tài sản này để đáp ứng cho nhu cầu thực tiễn của các bên tham gia giao dịch, hợp đồng.

Thứ mười một, trong hoạt động công chứng hiện nay, vấn nạn sử dụng giấy tờ, tài liệu giả, giả mạo người tham gia giao dịch công chứng diễn ra rất phổ biến và phức tạp. Thực tế cho thấy, việc giả mạo giấy tờ, giả mạo người tham gia giao dịch công chứng được thực hiện một cách rất tinh vi, dưới nhiều dạng hình thức khác nhau; gây ra thiệt hại nặng nề về kinh tế cho xã hội cũng như Công chứng viên khi phải thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại; ảnh hưởng đến uy tín của các tổ chức hành nghề công chứng; tạo ra sự bất an cho người tham gia giao dịch công chứng và tâm lý lo sợ cho các Công chứng viên. Đối với hợp đồng tặng cho tài sản thì việc các đối tượng sử dụng giấy tờ giả cũng khó tránh khỏi. Trên thực tiễn, hoạt động công chứng những năm gần đây đã xảy ra không ít trường hợp các Công chứng viên đã bị các đối tượng làm giả giấy tờ “qua mặt”. Vì vậy, đòi hỏi rất nhiều các biện pháp cần phải thực hiện để khắc phục tình trạng này. Trong đó, tác giả nhấn mạnh về giải pháp nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, chuyên môn của Công chứng viên trong việc nhận biết giấy tờ giả, người giả mạo và giải pháp tăng cường trang biết thị máy móc, công nghệ hiện đại hơn tại các tổ chức hành nghề công chứng, hỗ trợ cho Công chứng viên dễ dàng hơn trong việc nhận biết được giấy tờ, tài liệu giả khi thực hiện hoạt động công chứng hợp đồng tặng cho tài sản, đặc biệt đối tượng tài sản tặng cho là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất./.

ThS. Phạm Thị Yến

Trường Đại học Công nghệ Đông Á

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: