Chủ nhật 08/02/2026 06:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những vướng mắc trong hoạt động công chứng hợp đồng tặng cho tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Hợp đồng tặng cho tài sản là một trong những loại hợp đồng dân sự thông dụng trong đời sống xã hội. Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, các hợp đồng tặng cho tài sản đang có xu hướng gia tăng cả về số lượng và chất lượng. Từ đó, các tranh chấp liên quan đến loại hợp đồng này phát sinh ngày càng nhiều và phức tạp. Có thể nhận định, chế định hợp đồng tặng cho tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015 có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật này.

Hiện nay, cơ sở pháp lý mà Công chứng viên áp dụng vào hoạt động công chứng hợp đồng tặng cho tài sản chủ yếu là Bộ luật Dân sự năm 2015 (từ Điều 457 đến Điều 462) và Luật Công chứng năm 2014. Tại Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015 định nghĩa như sau: “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận”.

Từ thực tiễn áp dụng chế định hợp đồng tặng cho tài sản cho thấy còn tồn tại nhiều bất cập, vướng mắc, gây không ít khó khăn, lúng túng đối với Công chứng viên tại các tổ chức hành nghề công chứng. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, Bộ luật Dân sự năm 2015 không có quy định riêng về năng lực chủ thể của bên tặng cho tài sản. Do đó, năng lực chủ thể của bên tặng cho tài sản được áp dụng theo các quy định chung trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, đối với hợp đồng tặng cho tài sản theo tác giả cần phải có quy định riêng về năng lực chủ thể của bên tặng cho tài sản bởi vì khác với các hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác như mua bán, trao đổi, cho vay… đều không làm giảm sút tài sản của cả hai bên trong hợp đồng nhưng đối với hợp đồng tặng cho tài sản thì bên tặng cho sẽ giảm sút tài sản (thậm chí một cách đáng kể) khi họ tặng cho tài sản cho người khác. Do đó, đa phần pháp luật các quốc gia trên thế giới đều dựa trên lý thuyết về sự không có đền bù của giao dịch tặng cho tài sản để quy định điều kiện chủ thể tặng cho tài sản chặt chẽ hơn và yêu cầu mức độ cao hơn khi thiết lập các hợp đồng khác. Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa vận dụng lý thuyết này khi quy định về chủ thể tặng cho tài sản, dẫn đến có thể không bảo đảm được một cách chặt chẽ quyền lợi của người tặng cho tài sản. Vì vậy, tác giả kiến nghị trong trường hợp này, các nhà làm luật nên quy định bổ sung về năng lực chủ thể của bên tặng cho vào chế định hợp đồng tặng cho tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ hai, đối với trường hợp người tặng cho tài sản là người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”.

Điều 73 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật” (khoản 1); “Đối với giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì phải có sự thỏa thuận của cha mẹ” (khoản 3); “Cha, mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới về việc thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản của con được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này và theo quy định của Bộ luật Dân sự” (khoản 4).

Khoản 2 Điều 77 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015 quy định: “Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ”.

Như vậy, đối với chủ thể từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, khi xác lập giao dịch tặng cho đối với tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký thì phải được sự đồng ý của cha mẹ người đó. Có nghĩa là, trong hợp đồng tặng cho tài sản sẽ xuất hiện thêm chủ thể là cha mẹ của người có tài sản tặng cho với tư cách là người đại diện. Tuy nhiên, nhiều câu hỏi được đặt ra trong trường hợp này là: Sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật đối với việc người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi xác lập hợp đồng tặng cho tài sản là sự đồng ý ở trạng thái nào? Sự đồng ý cho chủ thể đó lập hợp đồng tặng cho bất kỳ (cả về tài sản cũng như người được tặng cho) hay đồng ý cho chủ thể đó xác lập một hợp đồng tặng cho cụ thể - đối với tài sản cụ thể và người được tặng cho cụ thể? Sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật đối với việc người tặng cho tài sản từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi xác lập hợp đồng tặng cho tài sản đó được thể hiện dưới hình thức nào? Thể hiện bằng cách người đại diện theo pháp luật tham gia vào việc ký kết hợp đồng hay thể hiện bằng một văn bản riêng song song cùng hợp đồng tặng cho tài sản? Đây là những vấn đề chưa được quy định rõ ràng, vì vậy, việc thực hiện nội dung quy định của pháp luật nêu trên hiện nay còn nhiều tranh cãi, chưa có sự thống nhất ở một số tổ chức hành nghề công chứng. Do đó, cần có quy định bổ sung hoặc sự hướng dẫn áp dụng cụ thể trong trường hợp này, tạo ra sự thống nhất áp dụng giữa các tổ chức hành nghề công chứng trong quá trình hoạt động.

Thứ ba, đối với trường hợp người tặng cho tài sản là người từ đủ 06 tuổi đến dưới 15 tuổi được quy định tại Điều 21, Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 77 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Theo các quy định hiện hành thì có thể khẳng định rằng, những giao dịch dân sự của người dưới 15 tuổi đều được xác lập thông qua người đại diện theo pháp luật (trừ những giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người từ đủ 06 tuổi đến dưới 15 tuổi). Vậy, có một câu hỏi đã gây nhiều tranh cãi đó là: Người dưới 15 tuổi trong hợp đồng tặng cho tài sản có thể đem tài sản của mình tặng cho người khác được hay không? Nếu theo quy định của pháp luật nêu trên thì họ phải thực hiện việc tặng cho tài sản của mình thông qua người đại diện theo pháp luật. Như vậy, trong hợp đồng tặng cho tài sản ở trường hợp này mới chỉ thấy được ý chí của người đại diện theo pháp luật mà không thấy được ý chí của người chủ sở hữu tài sản. Hơn nữa, theo tinh thần của khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người đại diện được quyền “xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” đều phải bảo đảm nguyên tắc “vì lợi ích” của người được đại diện. Trong khi đó, hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu và không có sự “đền bù” dành cho chủ sở hữu tài sản, hay có thể nói, hợp đồng không mang lại bất kỳ quyền lợi nào cho chủ sở hữu, lợi ích của chủ sở hữu bị xâm phạm nhưng lại không có sự thể hiện ý chí đồng ý của chủ sở hữu. Theo đó, pháp luật hiện nay chưa cho phép chủ thể của hợp đồng tặng cho tài sản với vị trí người tặng cho là người dưới 15 tuổi.

Việc hiểu “vì lợi ích” của người được đại diện mới đang chỉ theo nghĩa là không làm cho khối tài sản của người được đại diện mất đi, hao hụt đi mà chỉ được làm cho nó phát triển lên, không suy chuyển hoặc có sự thâm hụt nhưng nhằm mục đích phục vụ chính nhu cầu thiết yếu của người được đại diện. Tức là chỉ đang xem xét đến lợi ích cho người được đại diện ở đây là những lợi ích về mặt vật chất chứ chưa xét đến lợi ích khác. Trong khi trên thực tế, ngoài lợi ích vật chất, người được đại diện là người dưới 15 tuổi có thể còn những lợi ích về mặt tinh thần. Trên thực tiễn có nhiều trường hợp người dưới 15 tuổi có nhu cầu tặng cho tài sản thuộc quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác trong một số trường hợp đặc biệt như người được tặng cho là người người thân cần tài sản ngay để chữa bệnh.

Vậy đây cũng là một vấn đề mà các nhà làm luật cân nhắc có nên xem xét chấp nhận hợp đồng tặng cho tài sản mà người tặng cho là người dưới 15 tuổi trong một số trường hợp đặc biệt hay không.

Thứ tư, Bộ luật Dân sự năm 2015 mới chỉ quy định hình thức bắt buộc đối với hợp đồng tặng cho tài sản là bất động sản, còn hợp đồng tặng cho tài sản là động sản thì chưa quy định hình thức bắt buộc. Tuy nhiên, trên thực tế có những hoạt động tặng cho tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu thì người được tặng cho tài sản khi nhận chuyển giao quyền sở hữu cũng phải thực hiện một số hoạt động chứng minh mình là người sở hữu hợp pháp tài sản đó. Vậy nên, để tạo điều kiện thuận lợi cho các bên giao kết hợp đồng, cũng như cơ sở pháp lý chặt chẽ hơn thì Bộ luật Dân sự năm 2015 nên quy định hình thức bắt buộc đối với hợp đồng tặng cho tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu.

Thứ năm, thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:

- Đối với tặng cho động sản: Có hiệu lực kể từ “thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản” và kể từ “thời điểm đăng ký” đối với động sản mà pháp luật quy định đăng ký quyền sở hữu.

- Đối với tặng cho bất động sản: Có hiệu lực kể từ “thời điểm đăng ký” và kể từ “thời điểm chuyển giao tài sản” đối với bất động sản không phải đăng ký.

Việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản nêu trên với cả 02 loại tặng cho động sản và bất động sản đều đang có mâu thuẫn với thời điểm có hiệu lực của văn bản công chứng. Tại khoản 1 Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 quy định về giá trị pháp lý của văn bản công chứng như sau: “Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng”. Như vậy, mọi văn bản công chứng sẽ có hiệu lực từ thời điểm được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng. Tuy nhiên, với việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015 thì không trùng với thời điểm có hiệu lực của văn bản công chứng. Do đó, khi tham gia giao kết hợp đồng tặng cho tài sản, các bên sẽ gặp lúng túng trong việc nhận thức khi nào thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực pháp luật.

Hơn nữa, việc quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho động sản không phải đăng ký quyền sở hữu là khi “bên được tặng cho nhận tài sản” và bất động sản không phải đăng ký là “thời điểm chuyển giao tài sản”. Hai trường hợp này tuy khác nhau về đối tượng tặng cho, nhưng cả 02 loại tài sản đều không phải đăng ký quyền sở hữu mà quy định thời điểm hợp đồng có hiệu lực lại khác nhau. Theo tác giả, nên thay đổi quy định này theo hướng thống nhất cho hợp đồng tặng cho tài sản đối với cả 02 loại tài sản trên cùng một thời điểm có hiệu lực là “thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản”, như vậy vừa thống nhất được về mặt từ ngữ, thuật ngữ pháp lý, vừa tránh gây ra sự khó hiểu cho các bên tham gia giao kết hợp đồng.

Đồng thời, nhằm giúp cho các bên tham gia giao kết hợp đồng hiểu rõ về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản thì Công chứng viên cần giải thích rõ ràng, chi tiết hơn về quy định của pháp luật cho các bên.

Thứ sáu, liên quan đến năng lực hành vi dân sự của người tặng cho tài sản, khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”.

Trên cơ sở quy định này thì khi xác định năng lực hành vi dân sự của người tặng cho tài sản là “người bị bệnh tâm thần” - về đối tượng này, Công chứng viên tương đối dễ dàng nhận biết thông qua quá trình giao tiếp đối với người đó, thông qua việc hỏi đáp tại thời điểm công chứng. Nếu Công chứng viên nhận thấy có dấu hiệu người đó không nhận thức được một cách bình thường, hay nói cách khác là bị vấn đề về thần kinh thì Công chứng viên có thể đặt vấn đề nghi vấn là người đó rơi vào trạng thái bị mất năng lực hành vi dân sự.

Tuy nhiên, trường hợp người “mắc bệnh khác mà không thể nhận thức” - về đối tượng này cho đến nay vẫn chưa thể liệt kê được đầy đủ các “bệnh khác” dẫn đến không thể nhận thức được hành vi là những bệnh gì. Điều này gây ra nhiều tranh cãi trên thực tế. Ví dụ: A trên 18 tuổi, là người bị câm, điếc bẩm sinh, đồng thời A không được gia đình cho theo học tại bất kỳ trường lớp nào. Vậy, nếu A là người có tài sản và tham gia vào hợp đồng tặng cho tài sản thì năng lực hành vi dân sự của A được xác định như thế nào? A chỉ là người khuyết tật về mặt thể chất còn năng lực hành vi dân sự của A là đầy đủ hay A bị coi là mất năng lực hành vi dân sự? Khi gặp trường hợp này trên thực tế, nhiều Công chứng viên đã có những quan điểm khác nhau, gây khó khăn, lúng túng trong quá trình hoạt động. Do vậy, cần bổ sung quy định của pháp luật rõ ràng hơn, cụ thể các trường hợp mắc “bệnh khác” là những bệnh gì mà có thể dẫn đến không nhận thức được hành vi.

Thứ bảy, liên quan đến vấn đề thời hiệu khởi kiện về hợp đồng, Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.

Trong chế định về hợp đồng tặng cho tài sản được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 459 quy định về tặng cho bất động sản: “Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật”. Theo quy định này thì chúng ta được phép hiểu ngay rằng hợp đồng tặng cho bất động sản đương nhiên được pháp luật thừa nhận là hợp đồng tặng cho tài sản. Vì theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Do vậy, thời hiệu khởi kiện tranh chấp đối với hợp đồng tặng cho tài sản trong trường hợp này tuân theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 là 03 năm.

Tuy nhiên, khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Người sử dụng đất được thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này”. Như vậy, người sử dụng đất có quyền tặng cho quyền sử dụng đất và việc tặng cho quyền sử dụng đất cũng phải thực hiện theo đúng tinh thần của Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015: Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực (khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013). Liên quan đến thời hiệu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất hiện nay, Luật Đất đai năm 2013 không có quy định. Như vậy, mặc nhiên cho phép chúng ta hiểu là tranh chấp về quyền sử dụng đất không bị hạn chế về mặt thời gian, việc khởi kiện lúc nào là do các bên đương sự tự quyết định.

Vậy, đối với hợp đồng tặng cho tài sản có đối tượng tài sản tặng cho là “quyền sử dụng đất” thì chúng ta nên hiểu nó là loại hợp đồng nào? Là hợp đồng tặng cho tài sản theo quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 hay là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013? Việc xác định chính xác, rõ ràng tên của hợp đồng này cũng gây ra lúng túng đối với Công chứng viên trong hoạt động công chứng, vì nó liên quan đến vấn đề thời hiệu khởi kiện tranh chấp của 02 loại hợp đồng này là hoàn toàn khác nhau.

Thứ tám, về vấn đề “điều kiện” quy định tại Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo Điều luật này: “Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”. Câu hỏi được đặt ra là: Khi công chứng hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, Công chứng viên phải xem xét các “điều kiện” tặng cho nào là hợp pháp? Hay sẽ chấp nhận những “điều kiện” nào? Thông thường, Công chứng viên nhận thức rõ là “điều kiện” của hợp đồng tặng cho không được phép vi phạm chính những đặc điểm, tính chất của hợp đồng tặng cho tài sản. Cụ thể là “điều kiện” đó không được cản trở hoặc xâm phạm vào đặc điểm “giao tài sản”, “chuyển quyền sở hữu” và “không có đền bù”; không được làm cho hợp đồng tặng cho tài sản mang dấu hiệu hay đặc trưng của các loại hợp đồng, giao dịch khác như hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng trao đổi tài sản, hợp đồng dịch vụ… Hơn nữa là “điều kiện” rất rõ ràng: không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, mặc dù “điều kiện” được bên tặng cho đưa ra đáp ứng đủ các vấn đề nêu trên nhưng có những trường hợp không xem xét tình hình thực tế của bên được tặng cho mà đưa ra những điều kiện rất khó để có thể thực hiện, thậm chí là bất khả thi. Vậy, trong những trường hợp này, Công chứng viên có xem xét, chấp nhận những điều kiện đó để ký công chứng hợp đồng hay không?

Bên cạnh đó, khi công chứng hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện theo Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015, Công chứng viên cũng gặp một vướng mắc khác là “điều kiện” có phải được lập thành một điều khoản bắt buộc trong hợp đồng hay không khi cả hai bên tặng cho và bên nhận tặng cho đều không muốn xác lập rõ trong hợp đồng? Các bên đều mong muốn tự thỏa thuận riêng hoặc xác lập “điều kiện” bằng một văn bản riêng, miễn sao “điều kiện” đó đáp ứng được các tiêu chí mà tác giả nêu trên.

Thứ chín, về vấn đề không thực hiện được điều kiện của bên được tặng cho tài sản, khoản 3 Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

Theo quy định này, bên được tặng cho tài sản phải trả lại tài sản cũng như đền bù thiệt hại cho bên tặng cho tài sản khi không thực hiện được nghĩa vụ là các “điều kiện” mà hai bên đã thỏa thuận trước đó. Như vậy, theo đúng tinh thần nội dung điều luật thì cứ không thực hiện được “điều kiện” là bên tặng cho được đòi lại tài sản. Điều luật chưa đề cập đến trường hợp ngoại lệ nào về việc bên được tặng cho không thực hiện được các điều kiện mà hai bên đã cam kết, không cần phải tìm hiểu hay xem xét về các lý do dẫn đến việc bên được tặng cho không thực hiện điều kiện. Điều này cho thấy chưa có sự liên hệ khoản 3 Điều 462 với quy định của một số điều luật khác trong chính cùng một văn bản luật là Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể như trong trường hợp bên được tặng cho không thực hiện “điều kiện” tặng cho do có sự kiện bất khả kháng hay do lỗi cố ý của bên tặng cho. Khoản 2 Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác; bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền”.

Theo đó, chúng ta đều có thể hiểu, sự kiện bất khả kháng là căn cứ để loại trừ trách nhiệm cho bên được tặng cho. Nếu áp dụng theo quy định này, trong trường hợp không thực hiện được “điều kiện” do sự kiện bất khả kháng thì bên được tặng cho không có nghĩa vụ phải trả lại tài sản cho bên tặng cho và như vậy thì bên tặng cho cũng không có quyền đòi lại tài sản nếu “điều kiện” mà bên được tặng cho không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên tặng cho. Đây là trường hợp, các điều kiện mà hai bên thỏa thuận đưa ra đòi hỏi cần có sự hợp tác của bên tặng cho, thậm chí phụ thuộc vào ý chí của bên tặng cho thì bên được tặng cho mới thực hiện được. Nhưng vì một lý do nào đó, sau khi đã ký hợp đồng tặng cho tài sản nhưng bên tặng cho không muốn tặng cho nữa nên đã cố tình không hợp tác để cho bên được tặng cho không thực hiện được các “điều kiện”. Đây chính là vấn đề còn vướng mắc, bất cập mà Công chứng viên còn gặp phải, gây ra khó khăn để giải thích cho các bên tham gia giao kết hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, cũng gây ra không ít khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp.

Thứ mười, “điều kiện” trong Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định chung là không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội mà không có sự đề cập hay liệt kê về các “điều kiện” nào thì sẽ được chấp nhận trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện. Trên thực tiễn công tác công chứng hiện nay có nhiều trường hợp người cao tuổi là cụ, ông bà, hay cha mẹ tha thiết muốn tặng cho con cháu tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở (là những thửa đất, căn nhà do tổ tiên lâu đời để lại, truyền từ đời này sang đời khác) nhưng kèm theo điều kiện là chỉ được ở chứ không được bán, với mong muốn là con cháu duy trì, gìn giữ căn nhà hay thửa đất đó làm nơi để ở đồng thời làm nơi thờ cúng tổ tiên. Điều này là hoàn toàn phù hợp với phong tục tập quán, với truyền thống đạo đức của người Việt Nam từ xưa tới nay, theo đó, bên được tặng cho là con cháu có quyền được sử dụng nhưng không có quyền định đoạt bán đi tài sản được tặng cho. Tuy nhiên, nó lại không phù hợp với quy định của pháp luật về bản chất của hợp đồng tặng cho tài sản như tác giả đã đề cập ở trên. Vậy nên, cho dù “điều kiện” đó là chính đáng, không vi phạm pháp luật và lại phù hợp đạo đức xã hội nhưng vẫn không được chấp nhận trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện. Vậy thiết nghĩ, các nhà làm luật có nên bổ sung về các “điều kiện” được chấp nhận trong loại hợp đồng tặng cho tài sản này để đáp ứng cho nhu cầu thực tiễn của các bên tham gia giao dịch, hợp đồng.

Thứ mười một, trong hoạt động công chứng hiện nay, vấn nạn sử dụng giấy tờ, tài liệu giả, giả mạo người tham gia giao dịch công chứng diễn ra rất phổ biến và phức tạp. Thực tế cho thấy, việc giả mạo giấy tờ, giả mạo người tham gia giao dịch công chứng được thực hiện một cách rất tinh vi, dưới nhiều dạng hình thức khác nhau; gây ra thiệt hại nặng nề về kinh tế cho xã hội cũng như Công chứng viên khi phải thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại; ảnh hưởng đến uy tín của các tổ chức hành nghề công chứng; tạo ra sự bất an cho người tham gia giao dịch công chứng và tâm lý lo sợ cho các Công chứng viên. Đối với hợp đồng tặng cho tài sản thì việc các đối tượng sử dụng giấy tờ giả cũng khó tránh khỏi. Trên thực tiễn, hoạt động công chứng những năm gần đây đã xảy ra không ít trường hợp các Công chứng viên đã bị các đối tượng làm giả giấy tờ “qua mặt”. Vì vậy, đòi hỏi rất nhiều các biện pháp cần phải thực hiện để khắc phục tình trạng này. Trong đó, tác giả nhấn mạnh về giải pháp nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, chuyên môn của Công chứng viên trong việc nhận biết giấy tờ giả, người giả mạo và giải pháp tăng cường trang biết thị máy móc, công nghệ hiện đại hơn tại các tổ chức hành nghề công chứng, hỗ trợ cho Công chứng viên dễ dàng hơn trong việc nhận biết được giấy tờ, tài liệu giả khi thực hiện hoạt động công chứng hợp đồng tặng cho tài sản, đặc biệt đối tượng tài sản tặng cho là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất./.

ThS. Phạm Thị Yến

Trường Đại học Công nghệ Đông Á

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: